Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com



Đền Quốc Tổ Hùng Vương

Đền Hùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, t́m kiếm
Đền Hùng vương trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh

Đền Hùng là tên gọi khái quát quần thể đền chùa thờ phụng các Vua Hùng và tôn thất của nhà vua trên núi Nghĩa Lĩnh, gắn với lễ hội Đền Hùng được tổ chức tại địa điểm đó hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch. Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đă cho xây dựng điện Kính Thiên tại đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Khi An Dương Vương nối ngôi vào năm 258 trước công nguyên đă xây dựng đền thờ. Hiện nay, theo các tài liệu khoa học đă công bố đa số đều thống nhất nền móng kiến trúc Đền Hùng được xây dựng vào triều vua Đinh Tiên Hoàng (thế kỷ 10). Đến thời Hậu Lê (thế kỷ 15) được xây dựng hoàn chỉnh theo quy mô như hiện tại.

Vị trí

Quần thể di tích Đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xă Hy Cương, thành phố Việt Tŕ, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xă thuộc huyện Thanh Sơn và vùng ngoại ô thành phố Việt Tŕ, cách trung tâm thành phố Việt Tŕ khoảng 10km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang cổ xưa.

Đặc điểm

Các di tích chính

Đền Hạ

  1. Cổng đền: Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1817), có bốn chữ Hán viết theo lối chữ chân, đại tự "Cao sơn cảnh hành" (Lên núi cao nh́n xa rộng). C̣n có người dịch là "Cao sơn cảnh hạnh" (Đức lớn như núi cao), do chữ 行 trong bức hoành phi có thể đọc bằng hai âm "hành" hoặc "hạnh" với nghĩa khác nhau.
  2. Đền Hạ: Tương truyền là nơi Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con. Kiến trúc đền Hạ kiểu chữ nhị gồm hai ṭa tiền bái và hậu cung, mỗi toà ba gian, cách nhau 1,5m.
  3. Nhà bia: Nhà bia nằm ngay cạnh đền Hạ có kiến trúc h́nh lục giác với 6 mái. Trong nhà bia trước đặt tấm bia công đức ghi công những người đóng góp tu bổ di tích, nay đặt tấm bia đá khắc ḍng chữ quốc ngữ: "Các Vua Hùng đă có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Đây là câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954 và nói chuyện với Trung đoàn Thủ đô, trước khi trung đoàn về tiếp quản Hà Nội.
  4. Chùa Thiên Quang: c̣n gọi là Thiên quang thiền tự, tọa lạc gần đền Hạ. Chùa được xây theo kiểu nội công ngoại quốc, gồm các nhà tiền đường (5 gian), thiêu hương (2 gian), tam bảo (3 gian) ở phía trước, dăy hành lang, nhà Tổ ở phía sau.
  5. Đền Trung: Tương truyền là nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu, Lạc tướng du ngoạn Nghĩa Lĩnh ngắm cảnh và họp bàn việc nước.


Đền Trung

Đền Thượng

  1. Đền Thượng: Đền được đặt trên đỉnh núi, nơi ngày xưa theo truyền thuyết các Vua Hùng thường lên tiến hành các nghi lễ, tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp thờ trời đất, thờ thần lúa, cầu mong mưa thuận gió ḥa, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Ngoài cổng đền có ḍng đại tự: "Nam Việt triều tổ" (tổ tiên của Việt Nam).
  2. Cột đá thề: Bên phía tay trái đền Thượng có một cột đá gọi là cột đá thề, tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương. Tuy nhiên, các nhà khoa học khi nghiên cứu cột đá thề thấy trên cột đục lỗ, cho rằng rất có thể đây chỉ là tàn tích cột đá của một kiến trúc cổ xây dựng tại khu vực này từ trước.
  3. Lăng Hùng Vương (Hùng Vương lăng) tương truyền là mộ của Vua Hùng thứ 6. Lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa đây là một mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (năm 1870) đă cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (năm 1922) trùng tu lại.
  4. Đền Giếng: Tương truyền là nơi công chúa Tiên Dungcông chúa Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi theo cha đi kinh lư qua vùng này. Đền được xây dựng vào thế kỷ thứ 18 theo dạng h́nh chữ công.
  5. Đền Tổ mẫu Âu Cơ: Là một ngôi đền mới, được bắt đầu xây dựng vào năm 2001 và khánh thành tháng 12 năm 2004. Đền được xây dựng trên núi Ốc Sơn (núi Vặn).
  6. Bảo tàng Hùng Vương: được khởi công xây dựng vào năm 1996 và khánh thành đúng ngày khai hội Đền Hùng năm Quư Mùi 2003. Bảo tàng là nơi lưu giữ nhiều hiện vật quư hiếm của thời đại Văn Lang được phát hiện trong địa phận tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là các di vật phát hiện quanh khu vực đền Hùng.
  7. Hồ: dưới chân núi Nghĩa Lĩnh có một cái hồ rất rộng, ngày xưa trồng nhiều sen. Hồ đă được kè xung quanh, trở thành một thắng cảnh cho du khách tới thăm Đền Hùng thêm một địa điểm vui chơi, nghỉ ngơi. Đây cũng là nơi thường diễn ra lễ hội bắn pháo hoa vào ngày quốc giỗ.

Khu di tích lịch sử Đền Hùng bao gồm ba đền chính là Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng theo thứ tự từ dưới chân núi đi lên. Từ những bậc đầu tiên dưới chân núi, du khách sẽ qua cánh cổng, bước nhiều bậc đá lên thắp hương và thăm thú các đền, kết thúc tại Đền Thượng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nơi có lăng mộ vua Hùng thứ 6.

Sau khi lên đến Đền Thượng du khách sẽ dừng tiếp tục cuộc hành tŕnh theo một con đường khác với đường đi lên, và điểm dừng chân cuối cùng là Đền Giếng ở dưới chân núi. Đền Giếng là nơi được cho rằng rất linh nghiệm cho những ai muốn cầu duyên. Tên gọi của đền do trong đền có chiếc giếng ngọc tương truyền là nơi hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa thường soi dung nhan. Nguồn nước thiêng của giếng ngọc tuôn chảy từ ḷng núi Nghĩa Lĩnh.

Lễ hội

Bài chi tiết: Lễ hội đền Hùng

Hội đền Hùng diễn ra vào ngày chính là ngày 10 tháng 3 âm lịch, có câu: "Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba". Tuy nhiên, lễ hội thực chất đă diễn ra từ hàng tuần trước đó với những phong tục như đâm đuống (đánh trống đồng) của dân tộc Mường, hành hương tưởng niệm các vua Hùng, và kết thúc vào ngày 10 tháng 3 âm lịch với lễ rước kiệu và dâng hương trên Đền Thượng. Lễ hội Đền Hùng hiện được Nhà nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam nâng lên thành quốc giỗ tổ chức lớn vào những năm chẵn.

Nguồn: vi.wikipedie.com



Đền Thờ Vua Hùng tại Thảo Cầm Viên
(ảnh của TVV)







LỄ HỘI ĐỀN HÙNG

10-3 Âm Lịch

“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba …”

GIỖ TỔ
HÙNG VƯƠNG

Hàng năm cứ vào ngày mồng mười tháng ba Âm
lịch, nhân dân cả nước nô nức kéo về đền Hùng để
dự lễ giỗ Tổ Hùng Vương, người khai mở nước Văn
Lang xa xưa của Việt tộc. Truyền thống uống nước
nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây đă đi vào tâm
thức Việt như một nguồn suối tâm linh làm phong
phú thêm đời sống tinh thần của người Việt.

Ngay tự thuở xa xưa, người Việt cổ đă có một
đời sống tâm linh siêu vượt. Người Việt cổ đă sớm

nhận thức được cuộc sống thường nhật để t́m ra
lẽ sống của cả một đời người nên không chỉ tin
vào thần thánh mà c̣n tin vào chính con người.
Chính v́ vậy, từ xa xưa người Việt ngoài việc thờ
cúng thần linh giúp cho cuộc sống c̣n thờ cả nhân
thần là những người khi c̣n sống đă giúp dân giúp
nước, giúp ích cho địa phương. Đặc biệt người
Việt có truyền thống thờ cúng Tổ tiên, ông bà cha
mẹ là những người trực tiếp sinh đẻ ra ḿnh, nuôi
dưỡng ḿnh thành người. Ngay cả ông Trời, đối
với người Việt là cư dân sống bằng nghề nông nên

tôn thờ ông trời đă ban cho những giọt nước mưa
tưới xuống đất để hạt giống nảy mầm, cây cối đâm
chồi nảy lộc. Ông trời được dân gian Việt kêu cầu
đến “Trời ơi” mỗi khi gặp sự đau buồn, dân gian c̣n
nhân cách hoá ông trời thân thương từ chân trời,
lưng trời đến mặt trời và nếu cần th́ sẵn sàng bắc
thang lên hỏi ông trời .. chứ không thần thánh hoá
kiểu Hán tộc là có một ông Ngọc Hoàng Thượng
đế toàn quyền ban phát, toàn quyền sinh sát trên
thượng giới và cả ở dưới trần gian nữa.

Một nhà Việt Nam học người Pháp Léopold
Cad́ere đă nhận định về tín ngưỡng và thực hành
tôn giáo của người Việt Nam như sau: “Với người
Việt, Trời không phải là một vị thần, ít nhất là trong
quan niệm dân gian. Đó là ông Trời, đấng h́nh như
thuộc về thế giới siêu việt. Hoàng đế tế trời một
cách trọng thể c̣n dân gian th́ cầu trời, kêu trời
hàng ngày bằng ngôn ngữ thông thường. Ư niệm
trời thấm sâu vào tâm tư người Việt và được biểu
lộ thường xuyên mỗi ngày qua ngôn ngữ một cách
minh nhiên đến nỗi ta không thể thấy rằng ư niệm
trời chính là một nguyên lư cơ bản và cao cả nhất
đối với đời sống tín ngưỡng của người Việt”. Trong
khi đó, phương Tây với nền văn minh hết duy
thần, duy linh, duy tâm, duy lư rồi duy vật thái quá
khiến con người cảm thấy bất an nên thường đặt ra
những vấn nạn như chúng ta từ đâu đến rồi chết sẽ
đi về đâu? Chính những câu hỏi xa vời không bao
giờ giải đáp được nên con người trở nên vô thần
hoặc phải t́m đến tôn giáo chấp nhận một cách vô
thường.

Với niềm tin đơn giản chân chất của người Việt
cổ th́ Tổ Tiên, ông bà cha mẹ đă sinh ra ḿnh chứ
không phải do một thần linh nào từ trên trời. Chính
v́ thế phải biết ơn cha mẹ đă sinh thành dưỡng dục
ḿnh nên người. Bổn phận con người là phải hiếu
thảo với cha mẹ, anh chị em thương yêu đùm bọc
lẫn nhau v́ cùng một mẹ mà ra. Huyền thoại Rồng
Tiên với Bố Lạc mẹ Âu của Việt tộc, chúng ta cùng
một bào thai mẹ Âu, trăm họ cũng cùng từ một gốc
Bố Rồng mẹ Tiên mà ra cả. Trên thế giới duy nhất
chỉ có dân tộc ta mới có hai chữ “Đồng bào”, chúng
ta cùng một bào thai mẹ sinh ra nên đối với mọi
người, chúng ta cũng dùng t́nh thân mà đối xử, mới
gọi nhau là bà con cô bác như trong một nhà vậy.

Người Việt có một đời sống tinh thần tâm linh
sâu thẳm, thể hiện t́nh cảm thiêng liêng cao cả mà
không một dân tộc nào có được. Đạo lư làm người
dạy chúng ta rằng khi sống là phải biết tri ân thờ

cúng ông bà cha mẹ để mai này khi ta có chết đi th́
cũng về với ông bà cha mẹ mà thôi. Từ việc hiếu
thảo thờ cúng cha mẹ, ông bà tiên tổ đến ư thức tôn
thờ ông Tổ của ḍng giống: Quốc tổ Hùng Vương
cũng như các anh hùng dân tộc, danh nhân văn
hoá đă hun đúc ư thức cao độ về ḷng yêu nước
thương ṇi, tạo cho mỗi con dân đất Việt niềm tự
hào về ḍng dơi con Rồng cháu Tiên của Việt tộc.
Hiện nay ở Việt Nam vẫn c̣n tôn thờ nhân thần và
đạo thờ cúng ông bà vẫn c̣n trân trọng bảo lưu, đó
chính là bản sắc văn hoá đặc trưng của dân tộc và
cũng là đạo lư làm người của Việt tộc. Truyền thống
cao đẹp này trải qua hơn sáu ngàn năm lịch sử vẫn
thấm đậm trong ḷng dân tộc với bao thăng trầm
biến đổi của ḍng vận động lịch sử. Cho tới nay và
măi măi về sau, hàng hàng lớp lớp thế hệ trẻ Việt
Nam vẫn tưởng nhớ về cội nguồn dân tộc với tất cả
ḷng hănh diện tự hào Việt Nam.

Tự xa xưa, tiền nhân ta đă chọn ngay mồng mười
tháng ba là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Tháng ba
là tháng Th́n, tháng của bố Rồng và ngày mười là
ngày của mẹ Tiên nên tiền nhân đă giỗ quốc Tổ
vào ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm.
Đền Hùng nằm trên núi Nghĩa Lĩnh c̣n có tên
là núi cả, núi cao nhất 175 mét trong quần thể 100
ngọn núi ở Vĩnh Phú. Theo Hùng triều Ngọc phả,
Thần phả xă Tiên Lát huyện Việt Tŕ tỉnh Hà Bắc th́
đến đời Hùng Vương thứ 16 là Hùng Tạo Vương
huư Đức Quân Lang mới dời đô xuống Việt Tŕ,
Phong Châu. Hùng Tạo Vương trị v́ từ năm Tân
Dậu 660 TDL đến năm Nhâm Th́n 569 TDL ngang
với thời Chu Linh Vương đời Đông Chu.

Đền Hùng gồm Đền Hạ, Đền Trung, Đền
Thượng với Lăng vua Hùng. Từ dưới đi lên qua
cổng Đền cao 8m1, nóc cổng h́nh dáng tám mái,
hai bên là phù điêu h́nh 2 vơ sĩ cầm đao và chùy
bảo vệ đền. Khách hành hương chỉ bước lên 225
bậc đá là lên đến đền Hạ. Tương truyền nơi đây
mẹ Âu đă sinh ra bọc trăm trứng sau nở thành trăm
người con trai. Bước thêm 168 bậc thang đá là đến
Đền Trung toạ lạc ngang sườn núi Nghĩa Lĩnh, theo
tương truyền th́ đây là nơi Lang Liêu đă gói bánh
dày bánh chưng dâng vua cha để cúng tiên tổ nhân
ngày Tết. Chính tại nơi đây, vua Hùng thường hội
các Lạc Hầu Lạc Tướng để bàn việc nước. Đền
Trung thờ phượng các vua Hùng và ḍng dơi, có cả
bệ thờ công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa. Ngay ở
gian giữa đền Trung treo bức đại tự “Hùng Vương
Tổ miếu” nghĩa là miếu thờ Tổ Hùng Vương, gian
bên phải treo một bức đại tự “Triệu Tổ Nam bang”

nghĩa là Tổ muôn đời của nước Nam, gian bên trái
treo bức “Hùng Vương Linh tích” nghĩa là Huyền
tích linh thiêng của vua Hùng.

Bước thêm 132 bậc thang đá nữa là tới đền
Thượng. Đền Thượng có 4 nếp nhà: Nhà chuông
trống, nhà Đại Bái, nhà Tiền Tế, Cung thờ. Trên
ṿm cung cửa chính ra vào được trang trí phù điêu
h́nh 2 vệ sĩ phương phi làm nổi bật bức hoành phi
4 chữ “Nam Việt Triệu Tổ” nghĩa là Tổ Triệu muôn
đời của nước Việt. Trong nhà Đại bái có câu đối bất
hủ:

Mở lối đắp nền
bốn hướng non sông về một mối
Lên cao nh́n rộng,
ngh́n trùng đồi núi tựa đàn con …

Trong nhà Tiền tế đặt một Hương án trên để
tráp thờ bên trong đặt một triện gỗ h́nh vuông có
khắc 4 chữ: “Hùng Vương tứ phúc”. Đặc biệt có treo
một bức hoành phi trong đó có câu “Quyết sơ dân
sinh” nghĩa là cuộc sống của nhân dân là điều quyết
định đầu tiên của người lănh đạo. Ngay từ thời vua
Hùng đă lấy dân làm gốc, Tất cả của dân, do dân
và v́ dân, c̣n giá trị măi đến muôn đời*. Bên phải
đền Thượng là cột đá thề của An Dương Vương,
bên trái đền Thượng là Lăng vua Hùng nh́n về
hướng Đông Nam, kiến trúc theo h́nh khối vuông,
trên có cổ diêm 8 mái, đỉnh chóp đắp h́nh rồng uốn
lượn nổi lên 3 chữ khắc ch́m: “Hùng Vương Lăng”.
Trên mỗi mặt tường đều đắp mặt hổ phù, thành bậc
đắp kỳ lân, cửa chính của Lăng nổi lên 2 câu đối tri
ân Quốc Tổ Hùng Vương:

Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà …
non nước vẫn quay về đất Tổ
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc
giống ṇi c̣n biết nhớ mồ ông ..!

Hàng năm vào ngày mồng mười tháng ba là
ngày lễ hội Hùng Vương được xem như Quốc lễ
của cả một dân tộc. Thời xưa đích thân nhà vua
đứng chủ tế với đủ nghi thức tế lễ long trọng. Lễ vật
gọi là lễ Tam sinh gồm nguyên một con heo, một
con ḅ và một con dê. Bánh chưng và bánh dày là
lễ vật không thể thiếu được cũng như khi cử hành
tế lễ phải có đầy đủ bộ nhạc cụ đặc biệt là chiếc
trống đồng độc đáo của Việt tộc. Sau phần tế lễ là
phần lễ hội với cuộc rước bánh dày bánh chưng và
rước cỗ chay, rước voi và cuối cùng là lễ rước kiệu
bay truyền thống của dân gian các làng xung quanh

vùng đất Tổ. Mỗi làng đều đem theo kiệu riêng của
làng ḿnh từ các làng do vị bô lăo dẫn đầu rồi đến
thanh niên trai trẻ mặc vơ phục thuở xưa tay cầm
đủ loại cờ quạt sắc màu rực rỡ. Tất cả tề tựu dưới
chân đền chờ cử hành tế lễ tạo nên một rừng
người, rừng cờ hoa với đủ sắc màu. Mọi người nô
nức dự lễ hội, già trẻ rộn ră tiếng cười nhưng khi
tiếng chiêng tiếng trống khai lễ th́ không khí trang
nghiêm u mặc bao trùm cả một vùng đất Tổ. Sau
phần tế lễ rước kiệu là phần hội hè với đủ mọi tṛ
vui chơi cho nam thanh nữ tú tham dự thưởng
ngoạn. Mở đầu là cuộc thi đua thuyền truyền thống
của các đội thuyền Rồng của các làng trong hồ Đá
Vao ngay cạnh chân núi. Dọc bờ hồ ṿng quanh
ven chân núi đủ các tṛ vui chơi nào là những rạp
tuồng chèo, những cây đu tiên, những tṛ chơi dân
gian như đánh cờ người, tṛ tung c̣n giữa thanh
niên thiếu nữ ngày xuân, những phường hát Xoan
của các nơi về tụ hội tổ chức hát Xoan với những
làn điệu dân ca truyền thống mỗi độ xuân về.

Việt tộc là cư dân nông nghiệp nên thường tổ
chức lễ tết hội hè quanh năm suốt tháng nhưng lễ
hội đền Hùng mang một ư nghĩa hết sức cao đẹp.
Dự lễ hội đền Hùng chính là cuộc hành hương trở
về nguồn cội dân tộc trong tâm thức mỗi con dân
đất Việt. Lễ hội đền Hùng không đơn thuần là cuộc
chơi xuân với những hội hè đ́nh đám mà để chúng
ta hướng vọng về Quốc tổ Hùng Vương, người
truyền thừa sự sống và khai mở đất nước Văn Lang
cho tất cả chúg ta. Trên thế giới ngày nay, có lẽ chỉ
có dân tộc Việt Nam có Quốc tổ để tôn thờ và có
một huyền thoại Rồng Tiên đẹp như áng sử thi để
chúng ta có quyền tự hào gọi nhau là đồng bào, là
anh em ruột thịt cùng một mẹ sinh ra:

              Bọc điều trăm họ thai chung,
Đồng bào tiếng gọi vô cùng Việt Nam


ĐỀN THỜ QUỐC TỔ



Theo Ngọc phả Đền Hùng do Hàn lâm viện Đại
học sĩ Nguyễn Cố phung soạn vào năm Hồng Đức
nguyên niên 1470, sau được Hàn lâm Thị Độc sao
lại năm Hoàng Đinh Nguyên niên 1600 th́ Đền
Trung tức Hùng Vương Tổ miếu được xây vào thế
kỷ XIV, bị quân Minh phá huỷ vào thế kỷ XV. Đến

thời Lê (1427-1573) đền được xây dựng lại theo bố
cục h́nh chữ nhất cùng với Gác chuông và Thiền
Quang Tự nay chỉ c̣n 2 phần tiền tế. Đền Thượng
cũng được xây dựng vào thời kỳ này. Đến thế kỷ
XVII-XVIII đền Hạ mới được xây dựng.

Năm 1823, vua Minh Mạng cho xây dựng
Miễu “Lịch đại Đế vương” ngay tại kinh thành
Huế. Nhà vua đă bà bac kỹ lưỡng với bộ Lễ để đưa
các nhân vật lịch sử vào thờ trong miếu. Bản tâu
tŕnh của bộ Lễ lên vua Minh Mạng như sau: “Kinh
Dương Vương, Lạc Long Quân thực là thuỷ tổ của
nước Việt ta. Thế th́ từ ngoại kỷ trở về trước phải
lấy các vị sáng thuỷ mà thờ. Từ nhà Đinh về sau th́
giềng mối mới rơ. Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành,
Lư Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thái Tổ thừa vận
lần lượt nổi lên, đều là vua dựng nghiệp một đời.
Trong khoảng ấy, anh chúa trung hưng như Trần
Nhân Tông ba lần đánh bại quân Nguyên, hai lần
khôi phục xă tắc. Lê Thánh Tông lập ra chế độ, mở
rộng bờ cơi, công nghiệp rạng rỡ vang rền đều nên
liệt vào miếu thờ”.

Đến năm Tự Đức thứ 27 (1874) ra sắc chỉ sửa chữa
lại đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh và cho khắc
2 bia đá dựng tại khu đền thờ. Năm Duy Tân thứ
sáu (1912) cho trùng tu cung trong điên ngoài qui
thứ như ngày nay. Năm Khải Định thứ 7 (1922) lại
cho sửa sang thêm Lăng mộ và trùng tu đền Giếng
thờ 2 công chúa Tiên Dung con vua Hùng thứ 3 lấy
Chử Đồng Tử và công chúa Ngọc Hoa, con vua
Hùng thứ 18 lấy Cao Sơn tức Sơn Tinh (Thánh Tản
Viên). Năm 1935, vua Bảo Đại cho trùng tu và mở
rộng thêm diện tích đền và cho dựng bia đá ngày 10

Đông Bắc và dải núi Tản Viên ở ŕa Tây Nam.
Nói theo ngôn ngữ Phong thuỷ cận địa lư học th́
đất tổ với trung tâm điểm Việt Tŕ ở ngă ba Bạch
Hạc ngoảnh mặt hướng biển hậu chấm xa là dải
Hoàng Liên Sơn chất ngất trời Nam, tay “Long”
là dải Tam Đảo với dưới chân nó là sông Cà Lồ.

tháng 3 năm Canh Th́n “Đền vua Hùng là nơi thờ
các vua họ Hồng Bàng trong lịch sử tối cổ của nước
Việt ta”. Thời xưa, hàng năm tổ chức quốc lễ vào
mùa Thu nhưng đền đời vua Khải Định năm 1917,
Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc xin bộ Lễ lấy
ngày mồng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm làm Quốc
lễ, trước ngày giỗ vua Hùng thứ 18 một ngày.

Theo cách tính ngày tháng Việt Lịch của dân tộc,
th́ tháng 3 là tháng Th́n, và đếm từ Tư trong 12
con giáp, thě ngŕy 10 lŕ ngŕy Dậu. Theo 12 địa chi,
Dậu là gà, thuộc loài chim, và chim là biểu hiệu
của Tiên. Cũng vậy, địa chi Th́n đă mang nghĩa là
Rồng. Ngày 10 tháng 3 là ngày Tiên, tháng Rồng.
Ngày 10 tháng 3 được Tổ Tiên chọn chính là để
giúp con cháu dễ dàng nhận thức về nguồn gốc
dân tộc của ḿnh: Con Rồng cháu Tiên. Ngày nay
chúng ta không những bảo lưu truyền thống giỗ Tổ
Hùng Vương mà c̣n xem ngày này là ngày nhớ ơn
cha mẹ, bậc sinh thành dưỡng dục ḿnh nên người.
Chính v́ vậy ngày này được xem như “Ngày Phụ
Mẫu Truyền thống ” của người Việt Nam chúng ta.

** Theo học giả Trần Quốc Vượng th́ Việt Tŕ và
vùng xung quanh Vĩnh Phú là đỉnh cao nhất của tam
giác châu sông Hồng. Sông Hồng là tên gọi muộn
màng ở cuối thế kỷ thứ XIX do màu nước của sông
này. Sách Thuỷ Kinh chú ở thế kỷ thứ VI gọi nó
là Tây Đạo, cái tên chữ Hán Việt này là sự phiên
âm từ một tên Tày cổ: Nậm Tao mà tên Việt hiện
nay c̣n giữ được ở Việt Tŕ là sông Thao. Tam giác
châu sông Hồng được giới hạn bởi dải núi Tam
Đảo ở ŕa

Tay “Hổ” là dăy Tản Viên với dưới chân nó là sông
Tích, sông Đáy. Trước mặt là sự “Tụ thuỷ” rồi “Tụ
nhân” trên đôi bờ nhị thuỷ với các đầm lớn trũng
lầy như đầm Vạc Vĩnh Yên, ao Vua, suối Hai Sơn
Tây …Thế đất đó bảo đảm một viễn cảnh phát
triển ngàn năm, hơn bốn ngàn năn nếu tính từ người

Việt cổ Phùng

Nguyên đến ngày nay. Bao quanh điểm Việt Tŕ là
những núi đồi lô nhô như bát cơm mà dân gian h́nh
dung thành bầy voi trăm con mà tới 99 con chầu về
đất tổ.

Tư tưởng v́ dân này măi đến ngày 19-11 năm 1863,

mới được Tổng Thống Abraham Lincoln khẳng
định “Nhất định sẽ khai sinh nền tự do và chính phủ
Của Dân, Do Dân và V́ Dân nhất định sẽ không
biến mất khỏi mặt địa cầu này” tại lễ khánh thành
Nghĩa trang Quốc gia tại Gettysburg.

PHẠM TRẦN QUỐC VIỆT
www.phamtrananh.wordpress.com
www.phamtrananh.net





Đền Hùng Tại Hoa Kỳ



San Jose California Hoa Kỳ

***


                                                                                                                              

Quốc Tổ Vọng Từ San Jose

780 S. First Street

San Jose CA 95113



Dẫu rằng cách trở muôn trùng,

Ngh́n năm Đất Tổ Nghiệp Hùng vẫn đây





Trộm nghĩ: con tạo xoay vần, vạn vật sinh sinh hóa hóa, muôn loài do trời đất tạo nên, lớp trước lớp sau tuần tự có nguồn có gốc; phương chi con người được tiếng khôn hơn muôn vật, lẽ nào không t́m về cội rễ!

Lại nghĩ: Hưng, vong, tan, hợp là lẽ thường trong trời đất mà “vấn tổ tầm tông” chính là việc hệ trọng của con người.

V́ hoàn cảnh đẩy đưa, đàn “Con Rồng - Cháu Tiên” chúng ta phải ly hương rời cố quốc. Hơn ba thập niên trôi qua, trải bao thăng trầm của cuộc sống tha hương, trải bao nhọc nhằn và công sức dồn lo cho những thế hệ con cháu, và mặc cho những điều thị phi, những sóng gió đă không làm nản ḷng những người hưng công, nay trong niềm ước mơ “Dựng một ngôi đền để con cháu t́m về ḍng giống”, mấy gian nhà đơn sơ này được khởi dựng để làm cái mốc cho con cháu sau này c̣n có chỗ mà biết nhớ về Quê Cha - Đất Mẹ, Cội Nguồn Gốc Tích và cũng là nơi cộng đồng tha hương chúng ta nhớ về cố quốc, cung vọng phụng tự Anh Linh Đức Quốc Tổ Hùng Vương và Chư Liệt Vị Tiên Vương, Tiên Thánh, Tiên Hiền, Khai Quốc Công Thần Việt Nam.


Vậy khi viếng thăm nơi này, ta nên thắp nén hương thơm, tâm tư truy niệm nhớ về Đất Tổ và các vị Tiền Nhân đă dầy công gây dựng và bảo vệ Đất Nước cũng như ngững người đă đóng góp tịnh tài và sức lực tạo dựng nên nơi này. Ấy mới là:

Uống Nước Nhớ Nguồn.”



Đức Lang - Nguyễn Thanh Liêm

Phụng soạn






H́nh Rồng Chầu trên trán bia kèm trên do Điêu Khắc Gia Lăo Thành Mai Lân vẽ.



Lễ Cung Nghinh Hùng Triều Ngọc Phả
Ban Quy tế



Ban Quy Tế Nam Quan



Cụ Chánh Tế Bạch Thị An Thọ và Ban Quư Tế Nữ Quan



Cụ Chánh Tế Vũ Đức Sơn và Ban Quư Tế Nữ Quan


 Nguồn: www.denhung.org



Đền Thờ Quốc Tổ Hùng Vương Tại Sydney- Úc Đại Lợi
 Địa Chỉ:
      178 The Horsley Drive
      Fairfield - NSW 2165
      Australia





Đền Thờ Quốc Tổ Hùng Vương Tại Melbourne- Úc Đại Lợi
 Địa Chỉ:
      90 Knight Avenue
      Sunshine North - Vic 3020
       Australia





 
  Ngướ Nông Dân tổng hợp






Nhóm mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang : Đền Quốc Tổ Hùng Vương
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com

Email: thuky@vietnamvanhien.net

"Bất chiến tự nhiên thành" chi kế
Văn Hiến ngàn năm sử đă đề
Phá tan giặc Cộng bằng Tâm lược
"Nhân Chủ (tự chủ) - An Vi (an lạc)" khai lối về


Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc. Thắp sáng niềm tin Diên Hồng và nếp sống Văn Hiến hầu phục hồi nền "An Lạc & Tự Chủ" ngàn đời cuả Việt tộc.


Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt