Chương Hai
Đảo Chánh
ngày 30 tháng 1 năm 1964
Công du Nam
Hàn (South Korea)
Đầu tháng 12 năm
1963, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm gọi tôi vào văn
phòng:
- “Chú
thích đi du lịch không?”
- “Rất thích, nhưng chưa có cơ hội thưa Trung Tướng”.
- “Bây giờ có rồi. Chú liên lạc sang văn
phòng Trung Tướng Đôn (Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng
Quốc Phòng) làm thủ tục đi Đại Hàn (South Korea)
với tôi”.
Không ngờ là cơ hội tốt đến với tôi trong
hoàn cảnh đang vui, nên tôi xúc tiến ngay.
Sau đó, tôi mới biết đây là phái
đoàn thay mặt chánh phủ sang Đại Hàn (Nam Triều
Tiên) dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi vào
ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thủ đô Seoul.
Phái đoàn chánh thức gồm:
Ông Phạm Đăng
Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, Trưởng phái đoàn.
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên
Quân, thành viên.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh,
thành viên.
Đại Tá Linh Quang Viên, Bộ Quốc Phòng, thành
viên.
Và tôi, Thiếu Tá Phạm Bá Hoa, Chánh
Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành
viên.
Ngoài ra
còn có gia đình của Trung Tướng Khiêm
và Thiếu Tướng Thiệu, thêm Đại Úy Nguyễn Hữu
Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khiêm,
và Đại Úy Nhan Văn Thiệt, sĩ quan tùy viên
của Thiếu Tướng Thiệu.
Trong nhóm đi đầu
là Đại Tá Linh Quang Viên, và tôi.
Chúng tôi rời Sài Gòn ngày 8/12/1963,
dừng lại Tokyo 5 ngày chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho gia đình
của Trung Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, sẽ ngoạn cảnh
và mua sắm trong khi chờ các vị dự lễ bên
Seoul trở lại. Chúng tôi đến Seoul trưa ngày
13/12/1963 khi nhiệt độ nơi đây xuống đến 5 độ dưới không
độ C. Tạm thời chúng tôi ở khách sạn Bando tại
trung tâm thủ đô Seoul. Với sự giúp đỡ của
tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây, chúng
tôi hoàn thành công tác chuẩn bị: Đại
Tá Viên đã xong bản tường trình về
tình hình chính trị trước và sau
ngày bầu cử Tổng Thống của Đại Hàn. Và tôi
đã có đầy đủ tin tức cũng như chương trình chi
tiết trong ngày lễ cùng những ngày sau đó
dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa.
Cũng qua những buổi
thuyết trình ngắn của tòa đại sứ, chúng tôi
hiểu thêm đôi nét về thời gian cựu Tổng Thống
Lý Thừa Vãng trong thời gian lãnh đạo quốc gia
này. Theo đó, nếu so với bà Ngô Đình
Nhu nặng về chính trị, thì hoạt động của bà
Lý Thừa Vãng nghiêng về kinh tế, và
khách sạn Bando là một trong rất nhiều cơ sở kinh doanh
của đệ nhất phu nhân họ Lý. Khi ông Lý Thừa
Vãng lưu vong, Đại Tướng Pak Chung Hi nhân danh quân
đội lên cầm quyền. Ông có vị Cố Vấn phảng phất
ông Ngô Đình Nhu lúc đương thời, đó
là ông Kim Jong Pil. Vì vậy mà khi Đại Tướng
Pak Chung Hi chánh thức tuyên bố ứng cử Tổng Thống,
ông Cố Vấn của Đại Tướng Pak Chung Hi đã theo khuyến
cáo của Hoa Kỳ xuất ngoại để trấn an dư luận như là
ông không dính dáng đến chính trị,
nhưng thật ra ông đã chuẩn bị xong công tác
tổ chức bầu cử trước khi xuất ngoại. Sau đó, cuộc bầu cử
đã diễn tiến như dự định và Đại Tướng Pak Chung Hi đắc
cử. Ông Kim Jong Pil lại trở về Seoul, vẫn trong chức vụ Cố Vấn.
Phần chánh của
phái đoàn đến phi trường Kimpo, thủ đô Seoul, trưa
ngày 17/12/1963, tức là ngày Đại Hàn cử
hành lễ nhậm chức Tổng Thống của ông Pak Chung Hi. Cả
phái đoàn đầy đủ được hướng dẫn lên khu Walker Hill
cách Seoul khoảng 8 cây số về phía bắc, một khu
thắng cảnh rất đẹp của Đại Hàn, chỉ dành cho khách
ngoại quốc để thu ngoại tệ. Cả một vùng rừng núi được
biến thành khu du lịch với những khách sạn, nhà
hàng, các khu giải trí với nhiều môn
khác nhau, xây dựng bên các sườn núi
mà hầu hết là nhìn xuống sông Hàn
(Han river) uốn khúc dưới chân. Vào mùa
này, nước sông Hàn đóng băng trắng
xóa, trông rất đẹp.
Đến nơi, vừa mang
hành lý vào phòng là Trung Tướng
Khiêm gọi tôi:
- “Mấy giờ bắt đầu
lễ vậy chú?”
- “Dạ 3 giờ chiều, thưa Trung Tướng”.
Ông nhìn
đồng hồ:
- “Ngay bây
giờ, chú chạy đi tìm mua cho tôi “cặp lon 3 sao”,
vì trong cặp tôi chỉ có “3 sao” cho một bên
áo thôi”.
- “Vâng”.
Chẳng hiểu Đại Úy
Nguyễn Hữu Có ở Tokyo, khi chuẩn bị hành lý cho
“xếp” lại gấp gáp thế nào mà chiếc áo
đại lễ của Trung Tướng Khiêm chỉ có một bên 3
ngôi sao, nghĩa là thiếu 3 ngôi sao cho cầu vai
bên kia (cấp hiệu Trung Tướng biểu hiện bằng 3 ngôi sao mỗi
bên cầu vai).
Nhận lệnh của Trung
Tướng Khiêm là như vậy, nhưng tôi chưa biết phải
làm sao mua cho kịp. Chợt nhớ anh sĩ quan Công Binh tại Bộ
Quốc Phòng Đại Hàn, Thiếu Tá Choi, sĩ quan
tùy viên cho phái đoàn chánh phủ Việt
Nam Cộng Hòa và anh ta trình diện Đại Tá
Linh Quang Viên tại sân bay trước khi phái
đoàn đến. Ra phòng khách, tôi nói với
anh về nhu cầu gấp rút đó và hy vọng anh ta
giúp tôi được. Anh ta hỏi:
- “Anh sẳn
sàng chưa?” (Are you ready?)
- “Sẳn sàng”.
Thế là chúng tôi lên xe của phái
đoàn có cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa và xe Cảnh
Sát của Đại Hàn dẫn đường chạy xuống Seoul. Quanh co một
lúc, cả hai xe đậu ngoài đường cái, tôi theo
Thiếu Tá Choi trên con đường hẽm vào gian
hàng nhỏ ơi là nhỏ nằm sâu trong con đường thưa
vắng người qua lại. Mua ngay “cặp lon 3 sao” mà không cần
trả giá. Chúng tôi về đến Walker Hill vừa vặn
cùng phái đoàn lên xe xuống Seoul dự lễ.
Seoul chiều ngày
17 tháng 12 năm 1963, đang trong thời tiết 5 độ dưới không
độ C. Bầu trời u ám bao trùm thủ đô, một
thành phố toàn cây trụi lá giữa mùa
đông xám xịt. Quan khách của 25 quốc gia và
viên chức của quốc gia sở tại, ngồi chật cả khán
đài không mái che ngay trước tòa nhà
Quốc Hội. Lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi cử hành
đúng 3 giờ chiều trong một không khí không
được trang nghiêm khả dĩ tương xứng cho buổi lễ quan trọng
này. Một phần vì thời tiết quá lạnh, một phần do
dân chúng tham dự không nhiều, và phần
khác là có một số người tập trung bên kia
đường hô hào chống đối một cách lạc lỏng, họ
cáo buộc cuộc bầu cử vừa rồi là gian lận. Cảnh Sát
chỉ đứng sát lòng đường để giữ trật tự mà
không có hành động nào với nhóm người
biểu tình.
Ngay sau lễ, các
phái đoàn được hướng dẫn đến nhà hát xem
trình diễn văn nghệ cổ truyền của Đại Hàn. Rồi buổi dạ
tiệc trọng thể, tổ chức trong khuôn viên dinh Tổng Thống
mừng ngày trọng đại của Đại Hàn Dân Quốc, khoản
đãi các phái đoàn đại diện 25 quốc gia đồng
minh. Đại Hàn Dân Quốc là tên gọi của quốc
gia phía nam của Triều Tiên theo chế độ dân chủ tự
do, trong khi quốc gia phía bắc theo chế độ cộng sản độc
tài, ranh giới giữa hai quốc gia này là vĩ tuyến
38. Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt (năm 1945), cũng
là lúc ba quốc gia trên thế giới bị chia đôi:
Đó là Đức Quốc chia làm hai quốc gia theo chiều
Đông Tây, Triều Tiên và Việt Nam chúng
ta chia làm bốn quốc gia theo chiều Nam Bắc.
Riêng hoàn
cảnh chính trị của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan)
có khác so với Việt Nam Cộng Hòa và Đại
Hàn Dân Quốc về địa lý, nhưng hoàn cảnh
chính trị là cùng chống chiến tranh ý thức
hệ cộng sản, có lẽ vì vậy mà những ngày sau
đó, phải thừa nhận là chánh phủ Đại Hàn
đã dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta và phái đoàn Trung Hoa
Dân Quốc, sự đón tiếp rất nồng hậu gần như riêng
biệt trong số 25 phái đoàn quốc tế tham dự. Tổng Thống
Đại Hàn -theo lời của Bộ Ngoại Giao Đại Hàn- chỉ tiếp
phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và phái
đoàn Trung Hoa Dân Quốc. Khi tiếp phái đoàn
Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống nói tiếng Đại Hàn
và ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa
nói tiếng Pháp. Tôi rất ngạc nhiên về điều
này, vì lẽ ra ông phải nói tiếng Việt Nam.
Thông dịch buổi tiếp kiến là hai thanh niên Đại
Hàn, một nam một nữ.
Quốc gia thứ 3 có
hoàn cảnh chính trị giống nhau là Cộng Hòa
Liên Bang Đức, nhưng có thể do địa lý và văn
hoá mà phái đoàn Cộng Hòa Liên
Bang Đức không nằm trong chương trình riêng biệt
nói trên chăng, mặc dù phái đoàn
này cũng có mặt trong lễ nhậm chức?
Trước khi rời Seoul, mỗi
thành viên trong phái đoàn chúng ta
được chánh phủ Đại Hàn tặng 2 thùng trái
cây tươi (bôm và nho) do Đại Hàn sản xuất
bước đầu về kỹ nghệ trong nông nghiệp. Đây là
chính sách quan trọng trong sách lược quốc gia của
Đại Hàn Dân Quốc -theo lời ông Đại Sứ Việt Nam Cộng
Hòa tại Đại Hàn- từ sau cuộc chiến tranh 1950-1953.
Trở lại Tokyo
ngày 20/12/1963. Đêm 24/12/1963, phái đoàn
được ông Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa và phu nhân
tại Nhật Bản, khoản đãi phái đoàn tại nhà
riêng. Trong khi trò chuyện, bỗng mọi thứ trong nhà
đều rung chuyển nhè nhẹ, ly tách chén dĩa lắc lư
kêu leng keng trong vài chục giây đồng hồ. Ông
Đại Sứ Nghĩa (xin lỗi là tôi không nhớ họ)
trông thấy nét ngạc nhiên của phái
đoàn nên ông lên tiếng trấn an:
- “Khu vực
chúng ta đang ngồi vừa bị động đất nhẹ nên không hư
hại gì. Mời quí vị xem tivi sẽ rõ”.
Vậy là, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được
đôi chút về động đất.
Ngày 25/12/1963,
tôi với Đại Úy Nhan Văn Thiệt -tùy viên của
Thiếu Tướng Thiệu- rời Tokyo trở về Sài Gòn vì hết
tiền. Ông Phạm Đăng Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, cũng rời
Tokyo ngày ấy, nhưng ông chưa về Việt Nam mà
còn đi thăm quốc gia nào đó.
Trung Tướng Khiêm
nhận chức vụ mới.
Về đến là
tôi vào văn phòng ngay vì chánh văn
phòng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi vào gặp Trung
Tướng Trần Văn Đôn dù hôm nay là ngày
nghỉ.
- “Thưa Trung Tướng,
tôi vừa về đến”.
- “Anh ngồi đi. Công du có vui không?”
- “Rất vui, thưa Trung Tướng”.
- “Anh có hay tin về chức vụ mới của Trung Tướng Khiêm
chưa?”
- “Dạ chưa Trung Tướng”
- “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đã cử Trung
Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn
III/Vùng III Chiến Thuật rồi”.
- “Thưa Trung Tướng, trường hợp này hồ sơ Trung Tướng
Khiêm bàn giao cho vị nào để tôi chuẩn bị cho
kịp?”
- “Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Kim
(Lê Văn Kim). Anh chuẩn bị cần thiết để Trung Tướng Khiêm
khi về đến là bàn giao ngay và sang nhận
Quân Đoàn III”.
- “Lệnh này Trung Tướng Khiêm có biết chưa, thưa
Trung Tướng?”
“Tôi chắc là chưa, nhưng dù sao thì anh cũng
nên trình với Trung Tướng Khiêm khi anh đón
ổng. Mà hôm nào Trung Tướng Khiêm về? -
- “Rạng sáng ngày 1 tháng 1 (1964) về đến, thưa
Trung Tướng”.
- “Anh liên lạc với chánh văn phòng Trung Tướng Kim
và chánh văn phòng Trung Tướng Đính để thu
xếp chương trình lễ bàn giao. Mọi việc đều diễn tiến
trong phạm vi nội bộ thôi. Anh có điều gì cần hỏi
nữa không?”
- “Dạ không. Tôi sẽ thi hành, thưa Trung Tướng”.
Tôi rất thắc mắc
là tại sao không chờ Trung Tướng Khiêm về hãy
đưa ra quyết định này. Phải chăng Trung Tướng Dương Văn Minh cử
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm vào phái đoàn
công du ngoại quốc để các vị ở nhà không gặp
trở ngại khi quyết định như vậy? Trung Tướng Khiêm có
nói với tôi rằng, ông là một trong rất
ít (nếu tôi nhớ không lầm là 4 vị) vị đứng ra
lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963), với lại
chỉ riêng những lệnh tối mật mà Trung Tướng Khiêm
chỉ thị cho tôi vào sáng sớm ngày đảo
chánh, cũng đủ nói lên vị trí quan trọng của
ông đến mức nào trong cuộc đảo chánh đó. Sao
lại xử sự như vậy? Bởi đây là một cách mà
trong giới cầm quyền thường nửa đùa nửa thật là “hạ tầng
công tác”. Dù đúng hay không
đúng thì rõ ràng là từ chức vụ Tham
Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu đến chức vụ Tư
Lệnh Quân Đoàn, nhìn từ bên ngoài
là xuống một bậc rồi còn gì!
Tôi chuẩn bị bàn giao, kể cả xin lệnh thuyên chuyển
tất cả nhân viên văn phòng (6 người) sang Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn III, đồn trú trong khuôn viên
trại Lê văn Duyệt, tọa lạc đường Lê văn Duyệt, Quận 3
Sài Gòn (về sau là bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu
Thủ Đô).
Tuy Trung Tướng
Khiêm đã dặn tôi và nhắc lại một lần trước
khi tôi rời Tokyo ngày 25/12/1963, khi ông và
gia đình về đến Tân Sơn Nhất, chỉ một mình
tôi cùng mấy nhân viên trong tư dinh
đón mà thôi, vì ông cho rằng đây
chẳng qua là chuyện gia đình chớ không phải
là phái đoàn công du trở về. Chính
vì vậy mà ông chọn chuyến phi cơ về đến thủ
đô khi Sài Gòn còn chìm trong giấc
ngủ.
Đúng 3 giờ
sáng ngày 1/1/1964, Trung Tướng Khiêm, Thiếu Tướng
Thiệu và hai gia đình về đến. Phi cơ dừng hẳn lại. Tắt
máy. Tôi ra tận cầu thang đón ông. Chỉ
vài bước đi:
- “Xin Trung Tướng
đi chậm một chút vì tôi có nhận lệnh của
Trung Tướng Đôn, thưa Trung Tướng”.
- “Chuyện gì vậy?”
- “Trung Tướng có được tin gì về lệnh cử Trung Tướng giữ
chức Tư Lệnh Quân Đoàn III chưa?”
- “Chưa. Mà ai nói với chú vậy?”
- “Dạ, Trung Tướng Đôn”.
- “Ổng nói với chú hồi nào?”
- “Dạ ngay khi tôi về đến Sài Gòn. Và Trung
Tướng Đôn có nói là công tác
bàn giao sau khi Trung Tướng về đến. Tôi đã chuẩn
bị hồ sơ bàn giao xong rồi thưa Trung Tướng”.
Trung Tướng Khiêm
đứng hẳn lại và im lặng một lúc:
- “Ổng có
nói gì nữa không?”
- “Dạ không”.
- “Sáng mai tôi gặp mấy ổng”.
Trung Tướng Khiêm
nhìn vào nhà ga bên khu vực dành
riêng cho các nhân vật quan trọng:
- “Ai đón
mà đông vậy?”
- “Dạ các vị Trưởng Phòng/Tổng Tham Mưu. Tôi xin
lỗi Trung Tướng, vì các vị ấy nói quá
nên tôi không thể nói dối về ngày giờ
Trung Tướng về. Với lại tôi nghĩ là không nên
cứng nhắc quá với các vị “tay phải tay trái” của
Trung Tướng, e không có lợi”.
Đi được mấy bước, bà Khiêm quay lại:
- “Chú Hoa.
Bộ có chuyện hả?”
Tôi thuật
tóm tắt cho bà Khiêm nghe, bà có
ý trách:
- “Sao mấy ổng kỳ
vậy?”
- “Tôi cho là điều không bình thường,
dù rằng Trung Tướng Đính cần giảm bớt chức vụ Tư Lệnh
Đoàn III để chu toàn chức vụ Tổng Trưởng An Ninh”.
- “Chú biết ai thay “nhà tôi” không?”
- “Dạ Trung Tướng Kim”.
Bà Khiêm
buột miệng:
- “Họ hàng
với ông Đôn rồi”.
Sáng ngày
2/1/1964, Trung Tướng Khiêm từ phòng Trung Tướng Đôn
trở về, ông gọi tôi:
- “Chú tổ
chức bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân với
chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III ngay chiều nay. Không
có ai chủ tọa hết”.
Lời nói và
giọng nói của ông cho phép tôi suy
đoán là ông đang tức giận.
- “Vâng.
Tôi thi hành ngay thưa Trung Tướng”.
Ngay chiều hôm ấy,
Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn
Kim tại Bộ Tổng Tham Mưu, sau đó sang Quân Đoàn III
nhận quân kỳ tiêu biểu chức vụ Tư Lệnh từ tay Trung Tướng
Tôn Thất Đính. Cả hai lễ bàn giao đều tổ chức trong
văn phòng mỗi nơi một cách nhanh chóng.
Từ ngày Trung
Tướng Trần Văn Đôn nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng
kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng (2/11/1963), giờ làm việc trong
quân đội được ấn định từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, được
nghỉ nửa giờ để ăn trưa tại chổ, nhưng tại văn phòng
chúng tôi thông thường là phải đến 6 giờ
chiều mới ra về.
Trung Tướng Khiêm
khá xông xáo trong công tác đi thăm
các đơn vị, các tiểu khu trực thuộc, nhưng theo
cách nhìn của tôi thì ông không
bộc lộ hết nhiệt tình như lúc giữ chức vụ Tư Lệnh Sư
Đoàn 21 Bộ Binh. Xin đừng nghĩ rằng, nét nhìn của
tôi bị ám ảnh bởi quyết định từ chức vụ Tham Mưu Trưởng
Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu đến Tư Lệnh Quân
Đoàn III của Trung Tướng Khiêm mà có,
vì tôi là một sĩ quan tham mưu đặc biệt dưới quyền
trực tiếp của Trung Tướng Khiêm từ năm 1960, nên tôi
khá quen với thái độ cũng như cử chỉ của ông trong
những lúc vui buồn, suy tư, hay tức giận.
Khoảng từ trung tuần
tháng 1/1964, tức là nửa tháng sau ngày
nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Khiêm
(tại Sài Gòn) với Trung Tướng Nguyễn Khánh (tại
Đà Nẳng), rất thường liên lạc nhau qua điện thoại viễn
liên, và rõ ràng là Trung Tướng
Khánh khích Trung Tướng Khiêm trong việc phục hồi
danh dự vì bị thuyên chuyển mà không được
biết trước.
Trung Tướng Khiêm
là người ít nói, không thích tiếp
xúc với các cơ quan truyền thông, cũng chẳng
thích phô trương, và con đường chính trị
-theo tôi- cũng không phải là hướng đi của
ông, nên tôi không nghĩ là ông dễ
dàng bị Trung Tướng Khánh dẫn đến một cuộc chính
biến nữa để gọi là phục hồi danh dự cho ông, đành
rằng ông đang buồn phiền và chắc là buồn phiền về
vấn đề ấy.
Chỉnh Lý = Đảo
Chánh.
Nhưng tôi lầm,
vì cuộc đảo chánh quân sự lại xảy ra khá đột
ngột.
Vào những ngày
cuối tháng 1/1964, Trung Tướng
Khánh từ Đà Nẳng điện thoại bảo tôi cho xe
đón ông trong căn cứ Không Quân Tân Sơn
Nhất (thường thì đón ông bên nhà ga
dân sự) và tuyệt đối không cho ai biết là
ông về Sài Gòn. Tôi trình Trung Tướng
Khiêm và dùng xe của Trung Tướng Khiêm đi
đón Trung Tướng Khánh. Lúc ấy đã hết giờ
làm việc trong ngày. Sau đó, hai vị cùng
ngồi chung xe đi đâu đó mà tôi không
rõ vì xe an ninh không được chạy theo như lệ
thường. Điều này làm cho tôi tự hỏi: “Liệu
có cuộc đảo chánh nữa hay không, vì sự vắng
mặt bất thường này giống như những ngày cuối tháng
10/1963 vậy?”
Mờ tối ngày
29/1/1964, sau khi từ bộ tư lệnh Quân Đoàn III về đến
nhà, Trung Tướng Khiêm gọi tôi đến nhà
ông ngay. Vào cửa, tôi thấy bàn ăn đã
sẳn sàng nhưng gia đình ông chưa người nào
ngồi vào bàn, ông chỉ tôi ngồi đối diện
ông ngay trong phòng khách, và ông ra
lệnh:
- “Việc
này đối với chú là lần thứ hai. Tôi
muốn nói là chú biết việc gì phải
làm. Chú mà hé môi với bất cứ ai
trước khi thực hiện thì chú bị đứt đầu nghe chưa”.
- “Vâng”.
Trong một thoáng
thật nhanh tôi liên tưởng đến sự đi đâu đó của
hai vị giống như trước ngày 1 tháng 11 năm ngoái
(1963). “Đảo chánh nữa chăng, vì Trung Tướng Khiêm
vừa nói đây là lần thứ hai?” Ông tiếp:
- “Vào
sáng sớm mai, tôi + Trung Tướng Khánh + và
Đại Tá Viên (Cao Văn), lật đổ nhóm
ông Minh ông Đôn, vì các ông
này có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập mà
trung lập thì sớm muộn cũng vào tay cộng sản. Chú
rõ chưa?”
- “Dạ rõ”.
- “Sau giờ này, chú điều động xe truyền tin hành
quân của Quân Đoàn về đậu sau nhà chú.
Nhà chú có chổ kín đáo hông?”
- “Dạ có. Sau nhà tôi là vườn chuối,
tôi đốn bớt vài cây cho xe vào và sẽ
thực hiện khi trời tối. Bên trái nhà tôi
là Thiếu Tá Đào Ngọc Thọ, và bên phải
là gia đình Thiếu Tướng Thiệu. Mình ở Quân
Đoàn, hệ thống liên lạc hành quân là
chuyện bình thường, chắc chẳng ai quan tâm đâu, thưa
Trung Tướng”.
- “Đích thân chú phải lên máy
liên lạc trực tiếp với Thiếu Tướng Thiệu (ở Biên
Hòa) và Thiếu Tướng Có (ở Mỹ Tho). Làm
như vậy để biết chắc là mình giữ liên lạc được với
hai ổng thôi, và khi liên lạc được rồi phải
giữ máy thường trực cho tôi. Công tác
này phải xong trước 2 giờ sáng. Nếu có gì
trở ngại, chú trình tôi ngay. Chú rõ
chưa?”
- “Dạ rõ”.
- “Chú gọi chú Có sang ngủ nhà chú
đêm nay. Chú Có không được quyền biết trước
công tác này. Chú với chú Có
đem xe truyền tin đến sân nhà Trung Tướng Khánh
(sát bên phải cổng số 1 Tổng Tham Mưu) trước 3 giờ
sáng, nhưng không nên sớm quá. Đúng 3
giờ sáng, Đại Tá Viên và Tiểu Đoàn
Dù vào cổng số 1. Chú đón tại cổng, mời Đại
Tá Viên vào nhà ông Khánh,
và hướng dẫn Tiểu Đoàn lên bố trí chung
quanh tòa nhà chánh. Phần an ninh trại Trần hưng
Đạo, chú với Trung Tá Luông tổ chức như lần trước.
Chú cần hỏi gì thêm không?”
- “Dạ không”.
- “Chú chỉnh đồng hồ theo đồng hồ tôi đây. Trung
Tá Luông sẽ nhận lệnh sau”.
Sau khi rời khỏi
nhà Trung Tướng Khiêm, tôi sang Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn, mời Đại Uý Truyền Tin (dường như
là Đại Uý Nguyễn Hữu Phụng) lên văn phòng:
- “Trung Tướng Tư
Lệnh vừa ra lệnh cho tôi, đêm nay Trung Tướng cần giữ
liên lạc thường trực với Sư Đoàn 5 Bộ Binh, để theo
dõi cuộc hành quân vào căn cứ Hố Bò
(của cộng sản), vì có tin là một tên quan
trọng của chúng vừa đến nơi đây (tôi bịa ra tin
này). Ngay bây giờ, anh có thể cho anh em
trên chiếc xe AN/GRC 26 chuẩn bị di chuyển sang nhà
tôi bên Tổng Tham Mưu”.
“Tôi cho lệnh chuẩn bị ngay. Khi xong, xe đến đây chờ lệnh
Thiếu Tá”.
Cũng phải mất nửa tiếng
đồng hồ dọn đường, chiếc xe truyền tin mới vào được vị
trí. Lúc đó tối lắm rồi, tôi trợ giúp
anh em truyền tin dựng cột antenne vì liên lạc xa. Đại
úy Nguyễn Hữu Có vừa đến và tiếp tay, nên
công tác chuẩn bị cho hệ thống liên lạc hành
quân được nhanh chóng. Đại úy Có không
thấy tôi nói lý do sự có mặt xe này
tại đây nên cũng không hỏi, vì thật ra giữa
chúng tôi hiểu nhau về những vấn đề bảo mật, nếu một
bên không nói thì bên kia không
bao giờ hỏi. Nhóm hành quân chúng tôi
chẳng ai ngủ được cả, vì ăn khuya xong là bắt tay
vào việc lên máy gọi Sư Đoàn 5 và Sư
Đoàn 7. Lúc 00 giờ 30 ngày 30/1/1964:
- “Cửu Long gọi Đồng
Nai. Trả lời”.
- “Đồng Nai nghe 5/5. Có gì cho Đồng Nai. Trả lời”.
- “Giới chức của Cửu Long cần gặp thẩm quyền Đồng Nai trên
máy. Trả lời”.
- “Rõ. Xin chờ đầu máy…. “
- “Hoa đó hả? Tôi đây”. Đó là tiếng
nói của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
- “Thưa Đại Bàng, Đại Bàng tôi chỉ cần biết
có liên lạc là tốt rồi. Tôi xin phép
ngưng. Trả lời”.
- “Được rồi”.
Cửu Long là danh
hiệu Quân Đoàn III. Đồng Nai là danh hiệu Sư
Đoàn 5 Bộ Binh. Đại Bàng có nghĩa là vị Tư
Lệnh.
Đến Sư Đoàn 7 Bộ
Binh, hai anh chuyên viên luân phiên gọi
liên tục mà cứ như gọi vào khoảng không
mù mịt của đêm khuya vì chẳng nghe tăm hơi đầu kia
gì cả.
Đang rầu thúi
ruột! Bỗng dưng, đài của Sư Đoàn 7 Bộ Binh nhảy vô
và lúc đó gần 2 giờ sáng rồi. Sau khi
tôi liên lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, cả 3
đài trên hệ thống đặc biệt này giữ máy
thường trực. Xin nói rõ thêm, Sư Đoàn 7 Bộ
Binh thuộc Quân Đoàn IV, nên không có
trong hệ thống liên lạc thường trực của Quân Đoàn
III. Nhưng giữa các vị thu xếp trước, nên Sư Đoàn 7
Bộ Binh vào hệ thống đặc biệt này. Dĩ nhiên
là tôi phải “ngụy tạo lý do” để giải thích
cho các anh chuyên viên, vì sao mà Sư
Đoàn 7 Bộ Binh tăng phái cho Quân Đoàn III
trong cuộc hành quân đặc biệt từ hôm nay. Đơn giản,
là vùng hành quân dọc theo liên ranh
Quân Đoàn III và Quân Đoàn IV. Thế
thôi.
Điện thoại trình
Trung Tướng Khiêm xong, tôi ngồi luôn trên xe
truyền tin như là ngồi chơi với các anh chuyên
viên, nhưng thật ra là tôi ngăn chận những
liên lạc đến bất cứ nơi nào khác, vì
lúc nảy có một anh thắc mắc về sự có mặt của Sư
Đoàn 7 Bộ Binh trong hệ thống này. Lúc gần 3 giờ,
nhóm chúng tôi di chuyển lại nhà Trung Tướng
Nguyễn Khánh, tạm gọi là “bản doanh nhóm
lãnh đạo đảo chánh”. Kể ra thì tên gọi
đó cũng không sai. Trước khi rời nhà, tôi mới
cho Đại úy Nguyễn Hữu Có biết công việc đã
làm từ đêm qua và đang làm tiếp. (hai
ông cùng tên Nguyễn Hữu Có, nhưng một
là Đại Úy và một kia là Thiếu Tướng)
- “Sao đảo
chánh hoài vậy Anh?” Vợ tôi hỏi.
- “Anh cũng hổng biết. Chỉ biết Trung Tướng
(Khiêm) nói là Trung Tướng Dương Văn Minh có
kế hoạch trung lập, mà trung lập thì gần tới cộng sản rồi
Em”.
- “Ghê vậy!”
Đúng 3 giờ
sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964. Đại Tá Cao
Văn Viên và Tiểu Đoàn Nhẩy Dù lặng lẽ
qua cổng số 1 Tổng Tham Mưu với nhiệm vụ sẳn sàng tác
chiến, nếu như có đơn vị nào đó kháng cự
lại.
Trong cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963, Đại Tá Cao Văn Viên,
Tư Lệnh Nhẩy Dù, bị xếp vào những nhân vật
thân tín của Tổng Thống Ngô Đình Diệm
nên bị Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng
cách ly với Lữ Đoàn. Ngày 2/11/1963, Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết, các vị bị
cách ly từ hôm trước được trả tự do nhưng hầu hết đều bị
cách chức. Đại Tá Cao Văn Viên cũng trong số
các vị bị cách chức. Ngày hôm sau bà
Cao Văn Viên điện thoại tôi:
- “Chú Hoa.
Trung Tướng của chú (ý nói Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm) có hứa với chị là sẽ xin với Trung Tướng
Minh (Dương Văn Minh) cho Đại Tá (Cao Văn Viên) trở về
chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù để lấy lại danh dự, và 24 tiếng
đồng hồ sau đó Đại Tá sẽ đệ đơn từ chức. Chị nhờ
chú theo dõi diễn tiến ra sao rồi cho chị biết ngay nghe
chú”.
- “Vâng”.
Ngưng một chút,
bà tiếp:
- “Mà
chú thấy có hi vọng không?”
- “Em thì chưa biết gì về việc này, nhưng theo em
nghĩ, với vị trí hiện nay của Trung Tướng (Khiêm) trong
Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, hi vọng là
Trung Tướng thực hiện được lời hứa với chị”.
Và rồi Đại
Tá Cao Văn Viên trở về chức vụ cũ, nhưng sau đó
ông có xin từ chức Tư Lệnh Nhẩy Dù hay không
thì tôi không biết, nhưng rõ ràng
là ông vẫn trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy
Dù.
Các đơn vị an
ninh thuộc Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã vào vị
trí. Trung Tá Nguyễn Văn Luông đi lúc
nào tôi không rõ, nhưng chắc chắn là
đi rồi. Nhiệm vụ của Trung Tá Luông cùng với
toán Quân Cảnh, Nhẩy Dù, An Ninh Quân Đội, ….
đi bắt những vị Tướng mà Trung Tướng Khiêm với Trung Tướng
Khánh cho là có kế hoạch trung lập. Đó
là các vị: Trung Tướng Trần Văn Đôn. Trung Tướng
Tôn Thất Đính. Trung Tướng Mai Hữu Xuân. Trung Tướng
Lê Văn Kim. Và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ.
Riêng Trung Tướng
Dương Văn Minh thì tôi không rõ
là có tên trong danh sách bị bắt
hay không. Trước lúc bình minh, tại bản doanh
-nhà Trung Tướng Khánh- có mặt: Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tá Cao
Văn Viên, một người Việt Nam dáng vấp trung bình về
chiều cao lẫn chiều ngang, và một người Mỹ mặc quần tây
dài áo sơ-mi tay ngắn. Anh chàng Mỹ này
không phải là người có mặt trong cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963 trước đây. Nói
cách khác, người Mỹ này không phải Trung
Tá Conein. Căn cứ theo lần đảo chánh đó, tôi
tin chắc rằng, người Mỹ này là gạch nối giữa nhóm
đảo chánh với giới chức thẩm quyền Hoa Kỳ tại Sài
Gòn. Thậm chí, có thể là đại diện của cơ
quan tình báo trung ương Hoa Kỳ từ Mỹ. Mà cho
dù là gạch nối hay đại diện đi nữa, cũng là bằng
chứng một sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc đảo chánh
ngày 1/11/1963, và cuộc đảo chánh hôm nay
30/1/1964.
Chỉ cần ba nhân
vật, một ít lực lượng, với một người Hoa Kỳ quyền thế, cuộc đảo
chánh diễn tiến thật êm thấm vì chỉ cần bắt 5 vị
Tướng nói trên là xong. Êm thấm đến nỗi
tôi tin rằng, người dân Sài Gòn và
ngay cả nhiều cơ quan đơn vị quân đội, không hề biết
gì về một biến cố quan trọng vừa xảy ra, nếu như đài
phát thanh Sài Gòn vẫn phát đi chương
trình bình thường. Năm vị Tướng bị bắt, đã
đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, và nơi đến là
Đà Nẳng. Trung Tướng Khánh đã chỉ thị ngoài
đó đón và đưa về nơi giam giữ. Người bị bắt thứ 6
là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung -tùy viên của
Trung Tướng Dương Văn Minh- người mà tôi đặt nghi vấn cao
nhất “đã đâm và bắn Tổng Thống Ngô
Đình Diệm với ông cố vấn Ngô Đình Nhu”,
thì bị đưa lên trại Hoàng Hoa Thám -tức
doanh trại Lữ Đoàn Nhẩy Dù- và giữ tại đó.
Tại đây, Thiếu Tá Nhung buộc phải viết tờ khai về
những gì đã làm liên quan đến cái
chết của ông Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Sau
ngày đảo chánh 30/1/1964, tôi cũng không biết
gì về nội dung trong tờ khai đó. (mãi đến năm
1998, qua bài báo của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa,
tôi mới biết chính xác là Thiếu Tá
Nhung đã giết hai ông ấy. Được cựu Đại Tá Nghĩa
đồng ý qua điện thoại, tôi đã bổ túc phần
đó trong ấn bản lần 3 vào cuối năm 1998).
Vài hôm
sau, Lữ Đoàn Nhẩy Dù cho biết là Thiếu Tá
Nhung đã thắt cổ tự tử. Mẫu tin đơn giản đó liệu
có mấy người tin? Bởi Đại Tá Cao Văn Viên được xem
là người thân tín của Tổng Thống Ngô
Đình Diệm, ông bị giữ trong ngày đảo chánh
1/11/1963, nhưng sau đó nhờ Trung Tướng Khiêm mà
ông được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù,
do vậy mà cho dẫu Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung có
chết một cách bình thường cũng là điều mà
dư luận khó chấp nhận, huống chi đây là tin Thiếu
Tá Nhung thắt cổ! Căn cứ theo lời viết trong tờ khai, Thiếu
Tá Nhung khai là anh đâm ông Ngô
Đình Nhu bằng lưỡi lê, Tổng Thống Ngô Đình
Diệm chống cự khi ông Nhu bị anh đâm chết, nên anh
đâm Tổng Thống Diệm luôn. Sau đó, Thiếu Tá
Nhung bắn bồi thêm cho mỗi người một viên đạn ân huệ.
Cứ theo luật pháp
thông thường trong xã hội, giết người phải đền tội
là chuyện phải đến thôi. Chuyện phải đến trong hoàn
cảnh là như vậy, nhưng Thiếu Tá Nhung có
đáng chết hay không lại là vấn đề khác.
Có điều lạ là tôi không thấy dư luận đặt nghi
vấn: “Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết là do chính
ông tự tử, hay ông chết do bị giết rồi tạo cảnh như
là chính ông tự tử? Nếu Thiếu Tá Nhung bị
giết thì ai là người ra lệnh giết? Ai là người thi
hành lệnh đó? Và lệnh giết Thiếu Tá Nhung
có đúng hay không”? Nếu cho rằng, giết người
mà không do phán quyết của tòa án
là sai, thì Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm
với ông Cố Vấn Nhu là sai, và người giết Thiếu
Tá Nhung cũng là sai. Tôi nghĩ, nếu truy tố Thiếu
Tá Nhung ra tòa án quân sự trong tình
hình lúc bấy giờ cầm chắc là bản án tử
hình đến với anh. Nếu hành động minh bạch như vậy, sẽ cho
thấy nhóm lãnh đạo đảo chánh tôn trọng luật
pháp chớ không áp dụng “luật giang hồ” theo kiểu
tam-đoạn-luận: “Giết người thì bị người (khác) giết. Anh
đã giết người. Anh phải bị người (khác) giết”.
Đến đây tôi
xin mở ngoặc để ghi lại lời thuật của ba vị nói về cái
chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung. Trước hết là lời của
cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, định cư tại San Jose,
California. Anh đồng ý cho tôi đưa vào hồ sơ
này qua e-mail lúc 2 giờ 31 phút chiều ngày
6/3/2004:
“Vào thời
điểm 1/11/1963, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban An Ninh
Căn Cứ Hoàng Hoa Thám Lữ Đoàn Nhẩy Dù, thời
Đại Tá Cao Văn Viên làm Tư Lệnh Lữ Đoàn
này. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị giữ tại trại Cãi
Hối do Phân Đội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù phụ
trách. Tôi được lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nhung
và Thiếu Tá Nhung khai rằng, khi đoàn xe chạy đến
cổng xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu
Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông
Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng
câu tiếng Pháp “Feu tous les deux” (bắn cả hai).
Đây là
câu trả lời được ghi lại trong ký ức tôi. Luôn
tiện tôi xin đưa ra dữ kiện về việc Thiếu Tá Nhung tự tử
để quí vị phán xét. Trước khi tôi bắt đầu
thẩm vấn, Thiếu Tá Nhung xin phép tôi điện thoại về
nhà để nhắn nhủ vợ con yên tâm. Trên
nguyên tắc thì người đang bị thẩm vấn không được
liên lạc ra ngoài, nhưng tôi muốn tạo tình
cảm thuận lợi cho công tác lấy lời khai nên
tôi đồng ý. Thẩm vấn xong, tôi giao lại Phân
Đội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù. Đến sáng hôm sau
được báo là Thiếu Tá Nhung đã treo cổ.
Tôi đến nơi trông thấy Thiếu Tá Nhung treo cổ bằng
sợi giây giày loại giày cao cổ, có để lại
mấy chữ ở bìa trắng của tờ báo như sau:
“Em ở lại nuôi
các con, bọn Diệm sống lại rồi”’.
“Cây viết
Parker 51 nắp vàng, còn nằm trên tờ báo.
Tôi thuật lại đây để quí vị tùy nghi
xét đoán, nếu không thì có nhiều
người suy đoán trật quá xa sự thật. Tối thiểu,
chúng ta cũng phải căn cứ trên các dữ kiện
tôi nêu trên có thể kết luận Thiếu Tá
Nhung tự vận hơn là bị giết.”
Hết phần trích dẫn trên trang e-mail về lời thuật của cựu
Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, và xin tiếp lời thuật của
cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh qua điện thoại. Cựu Trung Tá
Phạm Ngọc Khanh, định cư tại San Francisco, California. Trong cuộc đảo
chánh 30/1/1964, anh là Đại Úy sĩ quan tùy
viên của Đại Tá Cao Văn Viên. Giữa năm 2001, sau khi
đến Washington DC thăm cựu Đại Tướng Cao Văn Viên trở về, anh
điện thoại cung cấp cho tôi một số tin tức liên quan đến
sức khoẻ và cuộc sống hằng ngày của vị Tướng đã
từng là Tổng Tham Mưu Trưởng liên tục gần 10 năm.
Nhân đó, anh thuật cho tôi nghe mẫu tin Thiếu
Tá Nhung tự tử sau cuộc đảo chánh ngày 30/1/1964.
Lời thuật như sau:
“Cái hôm
Thiếu Tá Nhung chết, lúc đó còn sớm lắm,
điện thoại từ sĩ quan trực Lữ Đoàn Nhẩy Dù gọi đến tư
dinh báo cáo là Thiếu Tá Nhung đã tự
tử, và đưa vào bệnh xá của Lữ Đoàn rồi”.
Đại Úy Khanh
trình cho Đại Tá Viên, và Đại Tá
Viên ra lệnh:
“Nói với sĩ quan
trực (Lữ Đoàn) gọi bác sĩ cứu được gì thì
cứu”.
Theo lời Đại Úy
Khanh thì lúc ra lệnh đó, Đại Tá Viên
không có vẻ gì bất ngờ trước cái tin chết
người như vậy, nhất là người chết lại là người mà
dư luận đặt nghi vấn, thậm chí còn quả quyết anh ấy
đã giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm và
ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu nữa. Điều này cho
phép chúng ta suy đoán có thể là Đại
Tá Viên biết trước về cái chết của Thiếu Tá
Nhung. Nhưng nếu biết trước, thì liệu Đại Tá Viên
có liên quan gì? Bởi vì cái tin Thiếu
Tá Nhung tự tử có thể là thật, cũng có thể
là không thật. Không thật, vì có thể
cái chết đó là do dàn dựng cho Thiếu
Tá Nhung, cũng có thể là do áp lực dẫn đến
chính Thiếu Tá Nhung phải tự tử. Điều này vẫn
còn trong bóng tối.
Cũng liên quan đến
vụ này, vị thứ ba là cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
trong cuộc điện đàm vào tối ngày 21 tháng
10 năm 2003, khi nói đến cái chết của Thiếu Tá
Nguyễn Văn Nhung, ông nói với tôi là
ông nghe nói một số quân nhân Nhẩy Dù
đã vì tức giận việc Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống
Diệm, nên ra tay giết Thiếu Tá Nhung.
Xin đóng ngoặc.
Thật tình tôi không có
bằng chứng để quả quyết là ai ra lệnh giết, nhưng điều mà
cựu Đại Tướng Khiêm nghe nói lại, dường như chưa đủ sức
thuyết phục người đọc lẫn người nghe. Quí vị có suy nghĩ
gì về sự kiện này không?
Với lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm
Sanh Kim, đối chiếu với lời thuật của cựu Đại Tá Dương Hiếu
Nghĩa mà tôi được phép đăng trong chương nói
về cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963,
thì nghi vấn về người ra lệnh giết Tổng Thống Ngô
Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu,
trở nên phức tạp. Tôi xin ghi lại những lời đó sau
đây:
Theo lời của cựu Đại Tá Nghĩa, sau
ngày đảo chánh 1/11/1963, ông gặp Thiếu Tá
Nhung và hỏi điều ông thắc mắc là tại sao giết cả
hai ông, thì Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trả lời một
cách tỉnh bơ rằng:
“Một người hay hai người cũng vậy thôi. Hai
người thì khó khăn một chút, nhưng chắc ăn hơn.
Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị
tôi đâm chết, nên tôi phải thanh toán
luôn. Có lệnh cũng được, mà không có
lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó
đâu có đợi lệnh được”.
Theo lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm
Sanh Kim, thì đầu năm 1964 anh là Trung Úy, sĩ
quan An Ninh của căn cứ Lữ Đoàn Nhẩy Dù, anh được lệnh
thẩm vấn Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, và anh ghi nhận lời
khai của Thiếu Tá Nhung như sau:
“ … Khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa
trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu
Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì
được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng
Pháp “feu tous les deux” (bắn cả hai) . .
Vậy, ai là người ra lệnh giết Tổng Thống
Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Trung Tướng Dương Văn Minh, hay
Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, hay cả hai vị?
Theo cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, với lời
của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung đã nói trực tiếp với
ông (tức cựu Đại Tá Nghĩa), thì nghi vấn của
tôi về người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn
Nhu là Trung Tướng Dương Văn Minh (cấp bậc lúc đảo
chánh). Nhưng theo lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung
trước mặt cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì Thiếu
Tướng Mai Hữu Xuân đã ra lệnh cho ông (tức Thiếu
Tá Nhung) giết chớ không phải Trung Tướng Dương Văn Minh.
Cho đến bây giờ là tháng 3 năm
2004, tức sau khi e-mail của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim với
nội dung thuật lại lời khai của cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung,
tôi vẫn giữ nguyên nghi vấn Trung Tướng Dương Văn Minh ra
lệnh cho Đại Úy Nguyễn Văn Nhung (cấp bậc lúc đảo
chánh) giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm với ông
Cố Vấn Ngô Đình Nhu, vì Trung Tướng Dương Văn Minh
là vị lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày
1/11/1963. Trong chức vụ và quyền hạn của Trung Tướng Dương Văn
Minh, chỉ có ông mới đủ thẩm quyền ra lệnh cho Đại
Úy Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, chớ
không thể nào Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trong
trách nhiệm thay mặt Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng -theo lời của cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa- lại tự ý
ra lệnh này được.
Cứ thử nêu một giả thuyết là Trung
Tướng Minh có giao quyền rộng rãi cho Thiếu Tướng
Xuân tùy cơ ứng biến với Tổng Thống Diệm và
ông Cố Vấn Nhu đi nữa, thì từ khi đoàn xe rời
nhà thờ Cha Tam chạy đến cổng xe lửa dừng lại chờ xe lửa chạy
ngang, đã có việc gì xảy ra đâu mà
Thiếu Tướng Xuân đến nỗi phải “ứng biến” bằng cái lệnh
“bắn cả hai” như Thiếu Tá Nhung khai với sĩ quan an ninh căn cứ
Hoàng Hoa Thám là Trung Úy Lâm Sanh
Kim lúc ấy? Một giả thuyết như vậy không có sức
thuyết phục, vì lệnh “bắn cả hai” là bắn Tổng Thống với
Cố Vấn của Tổng Thống, tính cách quan trọng của
cái lệnh này ở cấp quốc gia chớ không phải
cái lệnh bắn giết địch quân dành cho vị Tư Lệnh ở
chiến trường.
Tôi có hai giả thuyết về lời khai của
Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung:
Thứ nhất. Hoặc lời khai đó là thật,
nghĩa là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân được Trung Tướng Dương
Văn Minh giao cho cái quyền rộng rãi đó để
tùy tình hình mà giải quyết. Nhưng
trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu trong một “tình hình
hoàn toàn yên tỉnh” mà Thiếu Tướng
Xuân lại ra lệnh “bắn cả hai” thì hành động
đó có thể xem là lạm dụng quyền được giao. Như
vậy, phải chăng bắt nguồn từ nguyên nhân hận thù
nào đó của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đối với Tổng
Thống Ngô Đình Diệm? Nhưng nếu do thù hận
riêng tư mà Thiếu Tướng Xuân dám ra lệnh giết
chết Tổng Thống và Cố Vấn của Tổng Thống, quả là
ông liều lỉnh. Liều lỉnh vì cấp trên của ông
là Trung Tướng Dương Văn Minh còn đó, cho
dù ông có là bạn thân của Trung Tướng
Minh đi nữa, không chắc ông dám liều đến như vậy.
Thứ hai. Hoặc lời khai đó do Thiếu Tá
Nguyễn Văn Nhung tự bịa ra để khai khi bị thẩm vấn. Nhưng tại sao lại
bịa ra? Rất có thể là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung
muốn bảo vệ Trung Tướng Dương Văn Minh, vị Tướng mà Thiếu
Tá Nhung đang là cận vệ. Hoặc không do nguyên
nhân bao che bảo vệ cho Trung Tướng Minh, thì rất
có thể là Thiếu Tá Nhung có điều gì
đó không bằng lòng Thiếu Tướng Xuân nên
khai cho Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân chăng? Giả thuyết này
có vẻ không vững, bởi lúc Thiếu Tá Nhung
cung cấp lời khai này chỉ ba tháng sau ngày Tổng
Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn Ngô
Đình Nhu bị giết, mà trong dư luận chưa nghe loan truyền
về cái lệnh giết Tổng Thống và ông Cố Vấn là
công hay tội, thì khó mà nói
là Thiếu Tá Nhung đổ tội cho Thiếu Tướng Xuân qua
lời khai của ông. Rốt lại, chỉ còn giả thuyết oán
ghét hay thù hận của Thiếu Tá Nhung với Thiếu
Tướng Xuân thôi. Trong cuộc sống, cũng có những sự
kiện xảy ra mà không thể dựa trên những dữ kiện
bình thường để suy đoán phần kết luận. Nói
nôm na là nghịch lý. Phải chăng trường hợp
này là thế?
Trở lại cái chết của Thiếu Tá Nguyễn
Văn Nhung. Theo lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim mô
tả khi đến phòng giam trông thấy thi hài Thiếu
Tá Nhung trong tình trạng thắt cổ bằng sợi giây
giày loại giày cao cổ. Đây là loại
giày mà quân nhân sử dụng khi mặc quân
phục tác chiến. Giá mà cựu Thiếu Tá Kim
mô tả rõ thêm là khi bị ông thẩm vấn
thì Thiếu Tá Nhung mặc quân phục gì,
có thể có thêm tin tức cần thiết. Sở dĩ tôi
nêu điều này vì cuộc Chỉnh Lý (cũng
là một loại đảo chánh) thực hiện lúc nửa đêm
về sáng, năm vị Tướng và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung
bị bắt trong khi cư dân Sài Gòn còn
chìm trong giấc ngủ, thì liệu các vị có
thì giờ mặc quân phục không? Thôi thì
tạm thời chấp nhận Thiếu Tá Nhung mặc quân phục tác
chiến lúc bị bắt đưa về giam tại Phân Đội 204 Quân
Cảnh Nhẩy Dù. Vì nếu Thiếu Tá Nhung không
mặc quân phục tác chiến tức là không đi
giày cao cổ, vấn đề lại thêm rắc rối và phải quay
trở lại đào sâu thêm nữa để làm sáng
tỏ về cái chết của Thiếu Tá Nhung, vì không
đi giày cao cổ thì sợi giây giày thắt cổ anh
Nhung từ đâu ra?
Nửa đêm về sáng ngày 30/1/1964,
Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt đưa về căn cứ Lữ Đoàn
Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trải
qua cuộc thẩm vấn tại Lữ Đoàn Nhẩy Dù là sự thật.
Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết trong tình trạng thắt cổ
là sự thật. Nhưng Thiếu Tá Nhung chết trong tình
trạng thắt cổ, thì những dữ kiện trên đây chưa đủ để
khẳng định điều đó là sự thật. Tôi có hai
giả thuyết:
Thứ nhất. Chính Thiếu Tá Nguyễn Văn
Nhung tự thắt cổ. Nhưng ông tự thắt cổ là do ông hối
hận, do bị áp lực, hay do ông muốn làm một anh
hùng vì ông đã giết Tổng Thống với Cố Vấn
trong khi không ai làm được, ông bị bắt nhưng
ông không muốn bị làm nhục, đã dẫn đến quyết
định như vậy? Giả thuyết hối hận không vững, vì luật
pháp cũng như dư luận có buộc tội đâu. Giả thuyết
do bị áp lực, hoặc giả thuyết ông muốn làm anh
hùng, có thể lắm.
Thứ hai. Không phải chính Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Vậy, ai đã thắt cổ Thiếu
Tá Nhung? Người thắt cổ Thiếu Tá Nhung là do
chính người đó, hay người đó nhận lệnh của người
nào khác nữa? Tôi không có dữ kiện
nào về giả thuyết này, mong vào những nhà
viết sử, theo thời gian sẽ thu thập được nhiều dữ kiện làm
sáng tỏ vấn đề.
Cuối cùng, tôi vẫn đặt nghi vấn cao nhất và duy
nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, người ra lệnh giết chết Tổng
Thống Ngô Đình Diệm với ông Cố Vấn Ngô
Đình Nhu.
Nay thì Tổng Thống Ngô Đình
Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung, ba con người này đã
vào lòng đất tối tăm mù mịt, hay đang bay lượn
trên những tầng mây cao với những nàng tiên
xinh đẹp, thôi hãy để các vị yên nghỉ!
Và nếu như hai con người nào đó “đã ra lệnh
giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, giết ông cố vấn
Ngô Đình Nhu, và ra lệnh giết Thiếu Tá Nhung
nếu có, còn sống trên cõi đời này
mà còn chút lương tâm, tôi tin
là hai con người đó, đã và đang còm
cõi với nỗi khổ riêng của họ! Năm 2003, Đại Tướng Dương
Văn Minh, người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất là
người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, đã
vào giấc ngủ ngàn thu! Xin cắm một nén hương trước
mộ ông, với lời nguyện hương linh ông sớm siêu
thoát vào cõi vĩnh hằng xa xôi nào
đó, hay cõi đó cũng quanh quẩn trong cõi
tạm trần ai này!
Thêm nữa, theo lời của cựu Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21 tháng 10
năm 2003, thì nguyên nhân dẫn ông vào
cuộc đảo chánh này là vì Trung Tướng Dương
Văn Minh đã đồng ý với ông (tức Thiếu Tướng
Khiêm, cấp bậc lúc đảo chánh) trong cuộc đảo
chánh ngày 1//11/1963, là chỉ giải quyết ông
cố vấn Ngô Đình Nhu, còn Tổng Thống Ngô
Đình Diệm phải được bình yên và xuất ngoại,
nhưng sau đó Trung Tướng Minh đã ra lệnh giết luôn
Tổng Thống Diệm làm cho ông bất mãn. Cũng do bất
mãn đó mà Trung Tướng Khiêm (cấp bậc trong
cuộc đảo chánh 30/1/1964) đồng ý với Trung Tướng
Khánh lật đổ Trung Tướng Minh và những vị Tướng
thân cận của Trung Tướng Minh. Vậy là suy đoán của
tôi trong quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ từ ấn bản 1 đến ấn
bản 3, về nguyên nhân Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
trực tiếp trong cuộc đảo chánh 30/1/1964, chỉ đúng một
nửa.
Tôi có dịp dùng cơm với cựu Đại
Tướng Cao Văn Viên vào tối ngày 6 tháng 9
năm 2003 tại Virginia, nhưng tôi cảm thấy không nên
hỏi những gì liên quan đến cái chết của Thiếu
Tá Nguyễn Văn Nhung, vì gần như phần lớn thời gian trong
bữa ăn kéo dài 3 tiếng đồng hồ, cựu Đại Tướng Viên
cho tôi biết thêm vài sự kiện, đồng thời ông
giải thích một số sự kiện về những gì tôi viết về
ông trong quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ của tôi,
nhưng cần giải thích thêm để sự kiện được rõ
ràng. Ông cũng giải thích về những sự kiện
mà những tác giả khác đã nói về
ông. Trong đó, có vẻ ông không bằng
lòng tác giả Nguyễn Tiến Hưng, vì có những
sự kiện mà ông nói là ông Hưng tưởng
tượng hoàn toàn.
Xin đóng ngoặc, và mời quí vị trở lại bản doanh
cuộc đảo chánh.
Khoảng 7 giờ sáng, Đại Tá Nguyễn
Chánh Thi đến bản doanh. Một lúc sau, Thiếu Tá
Nguyễn Huy Lợi -cùng nhóm lưu vong với Đại Tá Thi
trong vụ đảo chánh 11/11/1960 thất bại- và nhiều sĩ quan
khác cũng đến. Đại Tá Thi bước vội đến Thiếu Tá
Lợi đang đứng bên ngoài nhà, và sau một
lúc lời qua tiếng lại, Đại Tá Thi bốp một phát
vào mang tai Thiếu Tá Lợi. Thiếu Tá Lợi đỏ mặt
và trong tư thế sẳn sàng bốp lại, nhưng nghĩ sao
đó, Thiếu Tá Lợi quay lưng bỏ đi. Đại Tá Thi
vào nhà, có vẻ như để chứng minh ông
đúng:
- “Thằng khốn nạn đó nó coi
thường tôi”.
Lời lẽ này đúng hay không chỉ
có quí vị trong nhóm lưu vong mới biết, nhưng
hành động như vậy, tự Đại Tá Thi làm giảm phong
cách của một sĩ quan cao cấp trong quân đội.
Sau một lúc thảo luận, viết rồi sửa, sửa rồi
viết. Một bản Tuyên Cáo được phát đi
trên làn sóng đài phát thanh
Sài Gòn. Đại ý nội dung cho rằng, Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng thành lập trong cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963, đã có kế hoạch
đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập thì
trước sau gì cũng vào tay cộng sản. Hội Đồng
Quân Nhân Cách Mạng thành
lập hôm nay, sẽ truy tố các vị đó ra tòa
trong thời gian sớm nhất.
Khoảng 10 giờ sáng, điện thoại reo:
- “Thiếu Tá Hoa tôi nghe”.
- “Em mời Trung Tướng Khiêm nói chuyện với Trung Tướng
Minh nghe em”.
Đó là lời của Trung Tá Đỗ Kiến Nhiễu, chánh
văn phòng của Trung Tướng Minh. Năm 1955, ông là
Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng của tôi (Tiểu
Đoàn 510 Khinh Quân), nên ông thường gọi
tôi bằng em. Xe của Trung Tướng Minh và Trung Tá
Nhiễu đã vào cổng lúc hơn 9 giờ.
- “Xin Trung Tá chờ đầu máy”.
- “Mời Trung Tướng tiếp chuyện với Trung Tướng Minh”.
Tôi bước đến ghế bố mà Trung Tướng Khiêm đang nằm
vì ông bị cảm, tôi trao ống nói cho
ông, nhưng:
- “Chú nói với Trung Tướng Minh
là tôi đang mệt và cần nghỉ ngơi. Tôi sẽ gọi
lại sau”.
Quả thật là Trung Tướng Khiêm đang mệt, ông bị
khàn tiếng. Từ lúc bắt đầu cuộc đảo chánh, Trung
Tướng Khiêm là người ra chiều suy nghĩ âu lo
và theo dõi chặt chẻ diễn tiến “cuộc hành
quân bắt cóc các vị Tướng”. Đến khi các vị
đó lên phi cơ quân sự đi Đà Nẳng, ông
nằm dài trên ghế bố. Dù sự thật là như vậy,
nhưng chắc gì Trung Tướng Minh tin như vậy. Và rồi Trung
Tướng Minh có thể nghĩ rằng, Trung Tướng Khiêm đã
bắt hết các vị Tướng thân cận của ông rồi, nên
khước từ nói chuyện với ông cũng nên. Tôi
thì không nghĩ như vậy. Tuy Trung Tướng Khiêm chưa
phải là vị Tướng xuất sắc của chiến trường hay nơi bàn
giấy, nhưng ông có một tình cảm chân
thành của một con người đối với cấp trên, với bạn
bè, và nhất là với các cộng sự viên
xa gần lớn nhỏ của ông. Tôi đã chứng kiến nhiều lần
khi ông niềm nở bắt tay những đồng đội thuộc Tiểu Đoàn 3
Việt Nam, đơn vị mà có lần Trung Tướng Khiêm rất
vui vẻ khi ông nói với tôi là ông rất
nhiều cảm tình. Những đồng đội trước kia dưới quyền của Trung
Tướng Khiêm tại Tiểu Đoàn này, đến những năm 60,
phần lớn là Thượng Sĩ hay Thượng Sĩ Nhất.
- “Thưa Trung Tá, Trung Tướng
Khiêm bị cảm và khàn cổ. Thể nào Trung Tướng
Khiêm cũng gọi lại Trung Tướng Minh khi sức khỏe cho phép”.
Nói thì nói vậy, nhưng khoảng 30 phút sau
thì Trung Tướng Khiêm điện thoại nói chuyện với
Trung Tướng Minh. Theo lời ông thuật lại với Trung Tướng
Khánh và Đại Tá Viên, tôi biết
là Trung Tướng Minh cần gặp ông với Trung Tướng
Khánh để thảo luận một số vấn đề cần thiết. Vấn đề gì
thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ chỉ quanh
quẩn về việc các vị bị bắt thôi, chớ chẳng việc nước việc
non gì đâu. Bởi sự thể đã đâu vào
đó rồi. Nhưng nếu Trung Tướng Khánh ở vị trí Trung
Tướng Minh hiện tại, thì Trung Tướng Khánh không
nói chuyện êm thấm nhẹ nhàng vậy đâu, bởi
Trung Tướng Khánh vốn là không ôn hòa,
nhất là trong tình cảnh đó.
Sau một lúc thảo luận to nhỏ với người Mỹ
đã có mặt từ sớm, Trung Tướng Khánh mời Trung
Tướng Khiêm và Đại Tá Viên vào
bàn họp. Một số sĩ quan quan tâm hay hiếu kỳ, đang đứng
lóng ngóng trong nhà để theo dõi tin tức,
được mời ra sân. Tại sân, khá đông sĩ quan
các quân binh chủng, cùng một số phóng
viên báo chí. Tuy không đông,
không nhộn nhịp như cuộc đảo chánh 1/11/1963, nhưng cũng
chật sân trước. Lúc bấy giờ trong nhà Trung Tướng
Khánh, chỉ có Trung Tướng Khánh, Trung Tướng
Khiêm, Đại Tá Viên, người Việt Nam có vẻ
là thân tín của Trung Tướng Khánh, một
viên chức Hoa Kỳ, và tôi. Trung Tướng Khánh
lên tiếng trước như là người chủ tọa:
- “Thôi, mọi việc xong rồi. Bây giờ
thì anh Khiêm làm đi”.
Trung Tướng Khiêm, tay phải gỡ kiến xuống
và tay trái lau kiến, đó là những động
tác biểu hiện sự suy nghĩ của ông. Tiếp đó,
ông xoay qua Đại Tá Viên, vừa cười vừa nói:
- “Phần tôi đến đây là đủ
rồi. Tôi không thích chính trị đâu, hay
là anh Viên nhận đi”.
Đại Tá Viên với nụ cười không hết miệng như
lúc nào, ông nói:
- “Thôi. Hai anh tính với nhau đi,
ai làm cũng được mà. Tôi không thích
lao vào chính trị đâu. Phần tôi đến đây
là xong. Tôi muốn ở Lữ Đoàn Dù với anh em
của tôi”.
Đại Tá Viên lớn tuổi hơn hai vị
kia, nhưng ông rất cẩn thận trong cách xưng hô với
mọi người, ngay cả với cấp dưới cũng vậy, chớ không nhất thiết
là chỉ cẩn thận với hai vị này.
- “Các “toa” không nhận thì
“moa” đành nhận thôi”.
Nói xong, Trung Tướng Khánh cười
khoan khoái. Trung Tướng Khánh nói nhận ở
đây, là nhận chức Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng, tức Quốc Trưởng, và kiêm luôn chức
Thủ Tướng. Vậy là chức vụ của Trung Tướng Khánh nhiều
bằng chức vụ của Trung Tướng Minh với ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc
Thơ trước đây cộng lại. Trung Tướng Khánh đồng ý
giữ Đại Tá Viên trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy
Dù. Mời Trung Tướng Khiêm giữ chức Tổng Tưởng Quốc
Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, nhưng
Trung Tướng Khiêm không nhận. Ông muốn ở lại chức vụ
Tư Lệnh Quân Đoàn III. Dĩ nhiên là
chính ông “muốn” chớ không phải ông “bị” như
cách đây tròn 1 tháng. Buổi họp chọn vị đứng
đầu quốc gia và đứng đầu chánh phủ tạm ngưng, vì
Trung Tướng Khánh phải lên tòa nhà
chánh họp báo.
Lúc đó là 2 giờ chiều, tại tầng trệt toà
nhà chánh. Rất đông phóng viên
báo chí truyền thanh truyền hình trong nước lẫn
ngoại quốc. Trên bàn chủ tọa, Đại Tá Cao Văn
Viên ngồi cạnh Trung Tướng Nguyễn Khánh, còn Trung
Tướng Khiêm vắng mặt vì bệnh. Chuẩn Uý Nguyễn Ngọc
Linh là thông dịch. Chuẩn Uý Linh tốt nghiệp
khóa 12 (hoặc 13) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông
là chủ một trường Anh ngữ khá nổi tiếng tại Sài
Gòn. Sinh viên sĩ quan khóa này có
một số khá đông tốt nghiệp đại học mà báo
chí thường gọi là “thành phần khoa bảng”.
Tổng quát thì Trung Tướng
Khánh cho rằng, một số Tướng Lãnh trong nhóm đảo
chánh 1/11/1963, đã âm mưu đưa nước Việt Nam đến
trung lập, mà trung lập là thời kỳ chuyển tiếp đến chế độ
cộng sản. Và âm mưu này phải phá vở từ trong
trứng, nếu không, nó sẽ là một sỉ nhục các
chiến sĩ và đồng bào đã ngã xuống cho ngọn
cờ quốc gia chống cộng. Đồng thời, dân tộc Việt Nam phải chịu sự
thống trị của cộng sản và lệ thuộc Trung Cộng như hằng
ngàn năm trong lịch sử. Do vậy, mà nhóm của
ông đứng lên làm cuộc “chỉnh lý” hôm
nay….
Sau đó, ông trả lời những câu
hỏi của báo chí. Phần lớn những câu hỏi đều xoay
quanh điều mà ông nói là âm mưu trung
lập Việt Nam. Tôi không nhớ hết nguyên văn câu
hỏi và trả lời, nhưng những điều dưới đây là
tôi tóm tắt theo trí nhớ (đoạn này tôi
viết lại lúc trong tù):
- “Nhóm lãnh đạo chỉnh lý
gồm những ai?”
- “Nhóm lãnh đạo của chúng tôi gồm 3 người:
Tôi, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Đại Tá
Cao Văn Viên”. Vừa nói ông vừa chỉ Đại
Tá Viên.
- “Xin Trung Tướng cho biết những bằng cớ về âm
mưu trung lập?”
- “Hội Đồng chúng tôi sẽ truy tố các vị đó
ra tòa theo luật định. Toà án sẽ căn cứ vào
những bằng cớ để phán quyết”.
- “Các vị Tướng đó nghe nói đã bị bắt,
có đúng không? Nếu đúng, thì
các vị đó bị giữ ở đâu?”
- “Đúng. Các vị đó được giữ ở nơi an toàn
trong khi chờ ra tòa”.
- “Nhóm Chỉnh Lý có thành lập chánh
phủ dân sự như nhóm đảo chánh trước đây hay
không?”
- “Chúng tôi thành lập chánh phủ quân
sự, nhưng cũng là tạm thời”.
- “Hiến Chương tạm thời bao giờ được thay đổi?”
- “Sẽ được thay bằng Hiến Pháp khi Quốc Hội được bầu lên
trong một tình hình ổn định”.
- “Hàm râu của Trung Tướng cắt theo kiểu đó
có nghĩa gì?”
Dường như bị bất ngờ, Trung Tướng Khánh đưa
tay vuốt chòm râu cụt ngủn kèm theo nụ cười
kéo dài khá lâu, chắc là để
tìm câu trả lời trước câu hỏi này.
- “Mỗi quân nhân chúng
tôi thường có cái gì đó để kỷ niệm
cho riêng mình. Hàm râu của tôi cũng
không ngoài ý nghĩa đó”.
Và cuộc họp báo chấm dứt, nhưng điều
mà các phóng viên thắc mắc liên quan
đến bằng chứng về kế hoạch trung lập của các vị Tướng bị bắt,
thì Trung Tướng Khánh trả lời rất mơ hồ, khiến họ tỏ vẻ
không hài lòng. Mà thật ra ngôn ngữ
trong chính trị, không nhất thiết một với một là
hai như trong ngôn ngữ của các ngành sinh hoạt
khác, cho nên có hài lòng hay
không hài lòng cũng vậy thôi.
Trước bữa ăn tối, Trung Tướng Khánh, Trung
Tướng Khiêm, và Đại Tá Viên, thảo luận với
một số vị dân sự và hành chánh để
thành lập chánh phủ. Tôi xin phép chạy về
nhà vì con tôi lên cơn nóng,
nên không theo dõi được phần thảo luận chi tiết. Sau
đó Trung Tướng Khiêm gọi tôi trở lại “bản doanh” gấp:
- “Chú sang bộ tư lệnh Quân
Đoàn nói với Đại Tá Mạnh (Nguyễn Văn Mạnh) Tham
Mưu Trưởng, chuẩn bị để sáng mai tôi bàn giao cho
Thiếu Tướng Lâm Văn Phát. Còn mấy chú cũng
chuẩn bị bàn giao văn phòng rồi trở về Tổng Tham Mưu với
tôi”.
- “Trung Tướng đã nhận lời với Trung Tướng Khánh?”
- “Không có người nên tôi phải nhận
thôi. Tôi coi Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham
Mưu luôn. Tôi ngồi ở văn phòng mà trước kia
Đại Tướng Tỵ ngồi đó. Chú sắp xếp lại cho tôi. Phần
chú, chú làm chánh văn phòng cả hai
bên, nghĩa là Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham
Mưu. Thôi, chú chạy qua Quân Đoàn lo cho kịp.
Nhớ bảo Đại Uý Tuấn về lại Tổng Quản Trị luôn”. (Đại
úy Nguyễn văn Tuấn, về sau là Đại Tá, Giám
Đốc Nha An Ninh Hành Chánh khi Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm làm Thủ Tướng)
- “Chào Trung Tướng, tôi đi ngay”.
Sáng 31/1/1964, bàn giao xong,
tôi và các quân nhân văn phòng
dọn về lại văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Vẫn trên tầng
lầu, nhưng khác phòng. Trung Tướng Khiêm nhận hai
chức vụ của Trung Tướng Trần Văn Đôn nhưng không có
bàn giao, vì Trung Tướng Đôn đã bị bắt từ
hôm qua. Cùng lúc, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu
nhận chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân, cũng không
có bàn giao vì Trung Tướng Lê Văn Kim cũng
bị bắt rồi. Tôi nhận bàn giao của Thiếu Tá
Đặng Văn Hoa, gồm văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng
và văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng gần như
hoàn toàn về kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ,
dĩ nhiên là về mặt chính trị cũng vậy. Nói
rõ hơn trong các biến cố chính trị, nhóm
nào được Mỹ ủng hộ thì phần thắng có thể trong tầm
tay. Ủng hộ thì có thể có nhiều cách, nhưng
sự có mặt của một người Mỹ trong cuộc đảo chánh 1/11/1963
và cuộc đảo chánh lần này, là biểu hiện
rõ nhất. Với cuộc đảo chánh 30/1/1964, giữa bộ ba
lãnh đạo đảo chánh (chỉnh lý, chỉ là một
loại ngôn ngữ chính trị) với Hoa Kỳ, liệu bên
nào là bên khởi xướng? Điều đó tôi
không rõ, nhưng chắc chắn là ba vị này
đã tiếp xúc ít nhất là 2 lần với Hoa Kỳ, kể
từ lúc tôi đón Trung Tướng Khánh về đến
Sài Gòn.
Nhìn từ góc độ cá nhân.
Liệu có phải cuộc đảo chánh bắt nguồn từ “cái hận
của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm” khi cử ông vào
phái đoàn công du Đại Hàn mà
ông tưởng như phần thưởng, để rồi cử ông vào
chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III trong khi ông
công du ngoại quốc chưa về? Xin nhớ rằng, Trung Tướng Khiêm
là một trong những vị nòng cốt lãnh đạo cuộc đảo
chánh 1/11/1963, vì trong chức vụ Tham Mưu Trưởng
Liên Quân nếu ông không tham gia thì
cuộc đảo chánh cũng không dễ gì thực hiện được.
Và cũng liệu có phải là từ “cái hận” của
Đại Tá Viên khi bị tách khỏi Lữ Đoàn Nhẩy
Dù trong cuộc đảo chánh 1/11/1963 không? Nếu
không phải là “những cái hận” đó, thì
tại sao trong buổi họp chọn người lãnh đạo ngay sau khi đảo
chánh thành công, Trung Tướng Khiêm
nói “phần tôi đến đây là đủ rồi”, và
tại sao Đại Tá Viên cũng nói “phần tôi đến
đây là xong rồi”. Cả hai vị có cùng
câu nói tương tự nhau là bao hàm ý
nghĩa rằng “tôi không thích chính trị”
hoặc “tôi không thích lao vào
chính trị”, để rồi Trung Tướng Khánh “đành” nhận
cả hai chức vụ cao nhất nước? Hãy để câu trả lời
chính xác cho cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
và cựu Đại Tướng Cao Văn Viên.
Nếu chấp nhận giả thuyết “hai cái hận”
nói trên là nguyên nhân, thì
theo tôi, hành động phục hận của Trung Tướng
Khiêm và Đại Tá Viên mới là “động
lực”, mà động lực không cũng chưa đủ, vì phải
có “ngòi nổ” để phát nổ nữa chớ. Trung Tướng
Khánh là mẫu người nhiều tham vọng, và đây
đúng là “ngòi nổ” để đẩy động lực kia nổ
máy. Tôi muốn nói là Trung Tướng
Khánh đã khai thác cái hận của Trung Tướng
Khiêm với Đại Tá Viên bằng cách khích
hai vị ấy phục hận. Cũng chưa đủ, phải có “lửa” châm
ngòi nổ nữa chớ. Tôi cho rằng Hoa Kỳ là ánh
lửa châm ngòi. Như vậy, nếu đúng là phục hận
thì Hoa Kỳ cũng có nguyên nhân nào
đó chớ chẳng lẽ Hoa Kỳ giúp đảo chánh chỉ để hai
vị phục hận riêng tư sao? Chắc chắn là không.
Nhìn vào một góc độ
khác, góc độ chính trị ngoại giao. Liệu
có phải Hoa Kỳ muốn loại trừ những Tướng lãnh cầm quyền
mà trước đó có tiếng là thân
Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không? Chắc
trong chúng ta, lứa tuổi chào đời thập 20, 30,
không ai quên là Pháp rất không bằng
lòng hành động của Hoa Kỳ góp phần đẩy nước
Pháp đến việc ký kết Hiệp Định Đình Chiến
Genève 20/07/1954 với Việt Minh cộng sản, dẫn đến sự kiện nước
Pháp thua trận và đoàn quân viễn chinh của
Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam năm 1956.
Tổng Thống Pháp quốc, Tướng Charles De Gaulle, vào đầu
thập niên 1960, trong chuyến viếng thăm Cambodge, ông cổ
võ chính sách trung lập cả ba nước Việt Nam, Cam
Bốt, và Lào. Quan niệm trung lập của ông De Gaulle,
chẳng khác nào xúi ba nước trên bán
đảo Đông Dương vào ảnh hưởng cộng sản, điều đó
có nghĩa là vực Việt Nam Cộng Hòa (cùng với
Cam Bốt và Lào) ra khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Phải chăng
đây cũng là cách phục hận của Pháp đối với
Mỹ? Lúc ấy, Tổng Thống Ngô Đình Diệm phản ứng mạnh
mẽ về lời tuyên bố đó của Tổng Thống Pháp.
Liên quan đến đoạn trên đây, cựu
Đại Tướng Khiêm nói với tôi trong cuộc điện
đàm tối 21/10/2003, như sau:
- “Tôi không biết tại sao mà
Mỹ lại bỏ rơi ông Minh nữa”.
Tôi nói với ông về nét
nhìn của tôi như đoạn viết ở trên. Ông
nói:
- “Điều chú nói có
lý lắm, nhưng có thể còn điều gì đằng sau
đó nữa”.
Nhưng mà thưa các bạn, với câu
nói ngắn ngủi của cựu Đại Tướng Khiêm trên
đây, cộng với nguyên nhân mà Trung Tướng
Khánh (cấp bậc lúc đảo chánh) đã
tuyên bố trong buổi họp báo cách nay 39 năm sau khi
đảo chánh thành công (30/1/1964), theo đó
thì Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị trong Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập
ngày 1/11/1963, có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập,
có thể làm quí vị suy nghĩ nếu quí vị muốn
đào sâu thêm về con người dẫn đến sự kiện
ngày 30/1/1964.
Nhìn sang góc độ khác nữa,
góc độ chính trị nội bộ. Liệu có phải năm vị Tướng
vừa bị bắt kia, thật sự có kế hoạch trung lập Việt Nam hay
không vì Trung Tướng Khánh với quyền uy cao nhất
nước, đã nói với báo chí là sẽ đưa
các vị đó ra tòa (?). Tôi chấm hỏi trong
ngoặc đơn như vậy vì tôi nghi ngờ lời ông. Tôi
nghi ngờ vì chen lẫn trong lúc ba vị thảo luận
thành lập chánh phủ, Trung Tướng Khánh có
nói sẽ ra lệnh cho Trung Tá Cao (Albert Nguyễn Cao)
và Thiếu Tá Nhiêu (Lê Văn Nhiêu) -sĩ
quan tình báo- truy tìm tài liệu về “kế
hoạch trung lập”. Câu nói đó cho tôi hiểu
đôi chút là khi bắt các vị Tướng bị
cáo buộc “trung lập”, thì trong tay các vị đảo
chánh chưa có bằng chứng gì trung lập hết, hoặc
nếu có cũng chưa đủ để đưa các vị ấy ra tòa.
Năm 1994, khi tôi viết lại đoạn này
thì cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm sống ở Washington D.C.
một cách lặng lẽ, không tiếp xúc với ai liên
quan đến chính trị. Trong khi cựu Đại Tướng Cao Văn Viên
thì đi sâu vào thiền, cũng ở Washington D.C.
và cuộc sống càng ẩn dật hơn cựu Đại Tướng Khiêm
nữa. Điều đó đúng trong thời gian ấy.
Ngày 6 tháng 9 năm 2003, vợ chồng
tôi lên Virginia thăm ông bà cựu Đại Tướng
Khiêm, nhận thấy ông và gia đình ông
vẫn trong cuộc sống ẩn dật tuy là trong căn nhà
khá rộng. Buổi tối cùng ngày, tôi và
hai người bạn nữa đến đón cựu Đại Tướng Viên từ một gian
phòng nhỏ trong building khang trang, về nhà anh chị
Lý Thanh Tâm dùng cơm tối. Anh Lý Thanh
Tâm, một cựu sĩ quan ngành Tổng Quản Trị. Anh Chị
Lý Thanh Tâm, là người giúp cựu Đại Tướng
Viên rất nhiều việc trong những năm gần đây. Trong bữa ăn
này, tôi thấy sức khoẻ của ông rất kém nhưng
sự minh mẫn không sa sút bao nhiêu, tôi
không hỏi ông về thiền vì sức khoẻ của ông như
vậy ông không thể ngồi thiền được nữa. Có một điều
thật dứt khoát là ông không thể tham gia
vào những vấn đề chính trị, đơn giản là sức khỏe
của ông trong tình trạng sút kém đến mức
khó mà hình dung được nếu không trông
thấy ông.
Xin giải thích thêm về cựu Đại Tướng Cao văn Viên.
Trong cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm
ngày 1 và 2/11/1963, lúc ấy ông là
Đại Tá, bị Hội Đồng Quân Cách Mạng cách ly
khỏi chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù và bị
cách chức sau khi Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng đảo chánh thành công. Nhưng bà Cao Văn
Viên nhờ Trung Tướng Trần Thiệm Khiêm (cấp bậc lúc
bấy giờ) vì hai vị là bạn thân, vận động với Trung
Tướng Dương Văn Minh và Đại Tá Viên được trở lại
chức vụ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, dĩ nhiên vị sĩ
quan thay thế ông mấy ngày phải chuyển sang đơn vị
khác. Tháng sau đó, trong một cuộc hành
quân trực thăng vận (chuyển quân bằng phi cơ trực thăng đổ
ngay tại chiến trường) dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt thuộc quận
Hồng ngự, tỉnh Kiến Phong. Cuộc hành quân này
đã đánh nhau dữ dội với quân cộng sản từ bên
trong lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vào, với sự yểm trợ
của Pháo Binh, Thiết Giáp, và Không
Quân, Nhẩy Dù đã chiến thắng nhưng chấp nhận số
thương vong đáng kể. Trong số bị thương có Đại Tá
Viên, ông và những thương binh khác được đưa
về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị. Chiều hôm đó,
Trung Tướng Nguyễn Khánh với chức năng Quốc Trưởng, cùng
với Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng
kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, vào tận giường bệnh trao gắn
cấp bậc Thiếu Tướng cho Đại Tá Cao Văn Viên. Đây
là thăng cấp mặt trận. Đến đây là hết phần giải
thích.
Một hôm, Trung Tướng Khiêm gọi
tôi vào văn phòng, tôi thấy ông
có vẻ như có điều gì quan trọng, ông
nói:
- “Chú phải biết là ngoài
Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu, tôi còn
là cố vấn cho Trung Tướng Khánh nữa, nên tôi
không có thì giờ nhiều như trước đây.
Vì vậy mà chú phải thận trọng khi thu xếp chương
trình tiếp khách hằng ngày của tôi để
tôi có thì giờ nghiên cứu nhiều vấn đề.
Chú hiểu ý tôi chớ?”
- “Vâng. Tôi hiểu”.
- “Dù muốn hay không muốn, tôi cũng phải dính
dáng đến chính trị. Đó là điều không
thích hợp với tôi”.
- “Vâng. Tôi hiểu”.
Ngưng một chút, ông tiếp:
- “Chú liên lạc Phòng Tổng
Quản Trị (Tổng Tham Mưu) làm lệnh thuyên chuyển Đại
Úy Đặng Văn Châu về văn phòng (Tổng Tham Mưu
Trưởng), làm thông dịch viên khi cần”.
Đại Úy Đặng Văn Châu là
chánh văn phòng Tỉnh Trưởng Vỉnh Long, lúc ấy
Trung Tá Lê Văn Phước là Tỉnh Trưởng. Sau
ngày 1/11/1963, Trung Tá Phước bị cách chức
và giải ngũ. Thế là Đại Úy Châu về văn
phòng tôi. Trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng
có các sĩ quan sau đây: Tôi, Đại Úy
Nguyễn Hữu Có sĩ quan tùy viên luôn
luôn đi theo Trung Tướng Khiêm, Đại Úy Nguyễn Tinh
Tú sĩ quan tùy viên tại tư dinh, và Đại
úy Đặng Văn Châu thông dịch viên. Trước
ngày đảo chánh còn có Đại Uý Trần
Thiện Ngươn, anh của Trung Tướng Trần Thiện Kiêm, nhưng sau
ngày đảo chánh anh thuyên chuyển đơn vị khác
vì văn phòng dư sĩ quan theo ấn định trong bảng cấp số.
Thật ra Trung Tướng Khiêm chỉ sử dụng Đại Úy Châu
thông dịch trong trường hợp tiếp các phóng
viên báo chí ngoại quốc, không phải ông
không nói được Anh ngữ, nhưng vì nhà
báo ngoại quốc thường hỏi những câu hóc búa,
thành ra ông cần cái khoảng thời gian thông
dịch để chuẩn bị câu trả lời.
Vài tuần sau ngày trở lại Bộ Tổng
Tham Mưu, Trung Tướng Khiêm bảo tôi viết chi phiếu xuất 100
ngàn đồng cho nhà thờ Martino tu sửa những hư hỏng,
vì ảnh hưởng trong cuộc chạm súng giữa lực lượng tấn
công với lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống trong
ngày 1/11/1963. Tập chi phiếu này tôi nhận
bàn giao ngày 31/1/1964 từ Thiếu Tá Đặng Văn Hoa,
chánh văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng, lúc
ấy số tiền trong quỹ mật còn 36 triệu đồng.
Lần thứ nhì, tôi cũng được lệnh viết
chi phiếu 100 ngàn đồng cấp cho Trung Tá Nguyễn Văn
Luông, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, trong
dịp Trung Tá Luông cưới vợ cho con. Tôi nghĩ,
ngoài công tác bắt những vị Tướng khởi đầu cũng
là kết thúc cho cuộc đảo chánh ngày
30/1/1964 ra, không có nguyên nhân nào
khác để Trung Tá Luông được phần thưởng này
cả. Cho Trung Tá Luông để cưới vợ cho con, tôi nghĩ,
đó chỉ là cái cớ hơn là nguyên
nhân.
Trong số những sĩ quan bị bắt sau cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963 đang giữ tại Nha An Ninh Quân
Đội, có Trung Tá Nguyễn Văn Minh, và Trung
Tá Nguyễn Khắc Bình, là hai trong số những vị
tôi quen biết khá nhiều. Trung Tá Minh, Tỉnh Trưởng
An Giang trong khi Đại Tá Trần Thiện Khiêm (cấp bậc
lúc bấy giờ) Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư
Lệnh Khu 33 Chiến Thuật (còn gọi là Khu Chiến Thuật Hậu
Giang). Trung Tá Bình, khi còn tổ chức Quân
Khu, ông là Tham Mưu Trưởng đệ ngũ Quân Khu đồn
trú tại Cần Thơ. Tháng 4/1961, khi giải thể tổ chức
Quân Khu để thành lập Khu Chiến Thuật với Vùng
Chiến Thuật, Sư Đoàn 21 Bộ Binh từ Sa Đéc di chuyển sang
Cần Thơ đồn trú ngay trong doanh trại Quân Khu vừa giải
thể, và Thiếu Tá Bình (cấp bậc lúc bấy giờ)
giữ chức Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Do mối liên
hệ công tác đó đã dẫn đến thân
tình giữa Đại Tá Khiêm với hai vị.
Cũng xin nói thêm đôi nét
về Thiếu Tá Nguyễn Khắc Bình. Từ Sư Đoàn 21 Bộ
Binh, Thiếu Tá Bình được Tổng Thống Ngô Đình
Diệm bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng Định Tường. Theo lời Đại
Uý Nguyễn Hữu Tài hồi năm 1964 -anh của Thiếu Tướng
Nguyễn Hữu Có- thì sáng ngày 1/11/1963,
Thiếu Tá Bình mang một phúc trình mật từ Mỹ
Tho lên Sài Gòn để trình Tổng Thống
Ngô Đình Diệm về những dấu hiệu của một cuộc đảo
chánh, nhưng Thiếu Tá Bình bị Đại Tá
Có (cấp bậc lúc bấy giờ) chận bắt.
Bà Nguyễn Văn Minh và bà
Nguyễn Khắc Bình, sau nhiều lần đến nhà tôi nhờ
tôi trình với Trung Tướng Khiêm xin cứu xét
giúp cho hai ông được tự do. Trung Tướng Khiêm
có vẻ phân vân, chưa quyết định. Lần trình
bày thứ nhì của tôi cùng với đơn của hai
bà, Trung Tướng Khiêm phê dòng chữ trên
hai đơn đó: “Nha An Ninh (Quân Đội) cứu xét rộng
rãi”. Sau đó, Trung Tá Minh và Thiếu
Tá Bình được tự do. Chưa có quyết định gì
về Trung Tá Minh, nhưng Thiếu Tá Bình được
thuyên chuyển về văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, và
Trung Tướng Khiêm giao trách nhiệm cho Thiếu Tá
Bình khai thác đống hồ sơ của đảng Cần Lao, mà
Trung Tướng Trần Văn Đôn đã cho chở đầy một xe vận
tải quân sự GMC từ Phủ Tổng Thống về tòa nhà
chánh Tổng Tham Mưu từ ngày 2/11/1963, và
tôi cho mang lên để ở tầng lầu trên cùng.
Vài tháng sau đó, Thiếu
Tá Nguyễn Khắc Bình được thăng cấp Trung Tá. Trong
khi Trung Tá Nguyễn Văn Minh vẫn cấp bậc cũ, nhưng ông
có cái may khác. Trung Tá Minh lần đầu
tiên đến văn phòng tôi kể từ sau ngày được tự
do, ông vẫn giữ thông lệ chơi ngọt với tôi nên
phần “uống cà phê chơi” của tôi lần này
là con búp bê sản xuất “bên Tây” rất
đẹp.
Xin nhắc lại là khi ông làm
Tỉnh Trưởng An Giang, tôi là chánh văn phòng
Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh đồn trú tại Cần Thơ, cứ mỗi
lần ông đến Cần Thơ họp là y như rằng, Trung Tá
Minh tặng tôi cái phong bì mà bên
trong là 200 đồng (Việt Nam) kèm theo lời nói của
ông: “em cầm lấy uống cà phê chơi” dù
ông biết rằng tôi không quen uống cà phê.
Sau đó thỉnh thoảng ông tạt vào văn phòng
tôi chơi. Một hôm Trung Tá Minh nhờ tôi
trình Trung Tướng Khiêm, cho ông thuyên chuyển
đến Sư Đoàn 21 Bộ Binh và ông bằng lòng nhận
bất cứ nhiệm vụ gì ở đó. Ông giải thích
thêm:
- “Em biết hông, theo thầy tướng số, nếu
Anh được về hướng đó sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn.
Em ráng giúp Anh nghe Hoa”.
Trong khi chờ quyết định của Trung Tướng
Khiêm, Trung Tá Minh cho tôi thêm thông
tin liên quan đến ông, rằng Đại Tá Tư Lệnh Sư
Đoàn 21 Bộ Binh đồng ý cử ông vào chức vụ
Chỉ Huy Trưởng Lữ Đoàn Cà Mau. Và rồi Trung
Tá Minh thành công bước đầu, tức là
ông được Trung Tướng Khiêm chấp thuận thuyên chuyển
đến Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Và bước thứ hai:
- “Hoa à! Em ráng giúp Anh
lần nữa nghe. Lần này là em thu xếp cho Anh chiếc phi cơ
L19, và điều cần là anh phi công với phi cơ
có mặt tại sân VIP đúng 7 giờ sáng
-không sớm cũng không muộn- và đừng tắt máy.
Anh sẽ lên phi cơ ngay. Anh nói nhỏ em nghe: ông
thầy tướng số nói nếu như Anh đi đúng như vậy và
đúng về hướng Sư Đoàn 21 thì tương lai Anh sẽ
lên tột đỉnh trong quân đội đó em. Ráng nghe
Hoa”.
Trước khi ra về, ông đưa tôi cái
phong bì tặng anh phi công, và phần ‘uống cà
phê chơi’ của tôi cũng là một phong bì.
Xin giải thích. Trung tuần tháng 12
năm 1962, ngay sau khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (thăng cấp
Tướng ngày 6/12/1962) bàn giao Sư Đoàn 21 Bộ Binh
cho Đại Tá Bùi Hữu Nhơn, thì Bộ Tư Lệnh Sư
Đoàn cùng các đơn vị yểm trợ trực thuộc, di chuyển
đến nơi đồn trú mới là Bạc Liêu, vì Bộ Tư
Lệnh Quân Đoàn IV sẽ thành lập từ ngày
1/1/1963 đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt trong tỉnh lỵ
Cần Thơ. Còn phi cơ L19 là loại phi cơ sử dụng quan
sát từ trên không, và hướng dẫn Pháo
Binh hoặc phi cơ khu trục tác xạ. Trường hợp cần thiết, sử dụng
chở một sĩ quan hay Tướng Lãnh công tác. Còn
Lữ Đoàn Cà Mau là tên gọi một đơn vị chiến
thuật do Sư Đoàn 21 Bộ Binh thành lập cho nhu cầu ổn định
tình hình tỉnh An Xuyên (Cà Mau là
tỉnh lỵ), gồm Trung Đoàn 32 Bộ Binh (trực thuộc Sư Đoàn
21 Bộ Binh) và Pháo Binh với Thiết Kỵ (Thiết Giáp
Kỵ Binh).
Vài tuần sau ngày Trung Tá
Nguyễn Văn Minh nhận nhiệm vụ tại Lữ Đoàn Cà Mau,
ông điện thoại về tôi:
- “Hoa à! Anh đang có một việc
liên quan đến tòa án và họ có giấy
gọi Anh về Sài Gòn để trả lời một số câu hỏi. Em
ráng nói với chánh văn phòng Bộ Tư
Pháp là đơn vị Anh đang hành quân, khi xong
thì Anh về trình diện. Em ráng giải quyết
càng sớm càng tốt nghe em”.
- “Mà chuyện gì vậy Trung Tá? Liệu có
ghê gớm lắm hông?”
- “Không quan trọng đâu em. Chẳng qua là sự việc
chưa rõ ràng thôi mà”.
- “Được. Tôi sẽ cố gắng nhưng không hứa chắc chắn nghe
Trung Tá, vì tôi chưa hiểu đầu đuôi ra sao”.
Sau khi liên lạc với chánh văn phòng ông Tổng
Trưởng Tư Pháp, tôi mới biết Trung Tá Nguyễn Văn
Minh đang là một trong những nghi can về cái chết của mấy
nhân vật chính trị đã bị thủ tiêu ở tỉnh An
Giang mà lúc ấy Trung Tá Minh là Tỉnh
Trưởng. Chánh văn phòng Bộ Tư Pháp cho biết
là ông Tổng Trưởng thuận dời lại đến khi Trung Tá
Minh chấm dứt hành quân. Tôi cũng không hiểu
là bằng cách nào mà chỉ trong thời gian
ngắn sau đó, Trung Tá Nguyễn Văn Minh đã vận động
ra sao mà từ đó tôi không nghe thấy gì
về vụ này nữa. Khi viết lại những dòng này,
tôi tự hỏi: có phải là tôi đã chen
chân vào vụ án đó hay không nữa? Thật
lòng là tôi chỉ nói đúng theo
yêu cầu của Trung Tá Minh chỉ xin dời ngày
trình diện của ông thôi.
Về ông thầy tướng số tử vi đã giải
lá số tử vi của Trung Tá Nguyễn Văn Minh hay dở ra sao
thì tôi không rõ, nhưng có điều
là sau cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa tháng 4 năm
1972, có dư luận ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu là Trung
Tướng Nguyễn Văn Minh (ông đã thăng cấp khá nhanh)
có hi vọng thay thế Đại Tướng Cao Văn Viên trong chức vụ
Tổng Tham Mưu Trưởng .
Xin trở lại Bộ Tổng Tham Mưu.
Đầu tháng 4 năm 1964, một Sắc Lệnh do Trung
Tướng Nguyễn Khánh ký, nâng danh xưng Bộ Tổng Tham
Mưu thành Bộ Tổng Tư Lệnh. Và một Sắc Lệnh khác,
nâng danh xưng Quân Đội thành Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa bao gồm: Lục Quân, Không Quân,
Hải Quân, Địa Phương Quân, và Nghĩa Quân. Vậy
là, Bộ Tổng Tham Mưu, từ bấy giờ có danh xưng là
Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vị đứng
đầu tức Trung Tướng Trần Thiện Khiêm là Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng bên trên
còn có vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao trong chức năng Quốc
Trưởng, chính vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao này mới có
thẩm quyền tuyên chiến.
Trung tuần tháng 4 năm 1964, Hội Đồng Tướng Lãnh
mà nòng cốt là Trung Tướng Nguyễn Khánh,
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng với chức năng
Quốc Trưởng, kiêm Thủ Tướng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm,
Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư
Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù, lên Đà Lạt họp để giải
quyết năm vị Tướng bị bắt giữ từ ngày 30 tháng 1 năm
1964, vì các vị này bị cáo buộc là
“chủ trương trung lập hoá Việt Nam và sẽ truy tố ra
tòa” mà Trung Tướng Khánh đã tuyên bố
trong buổi họp báo chiều ngày 30 tháng 1 năm 1964
tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, sau khi đảo
chánh thành công. Kết quả trong tinh thần
hòa giải hòa hợp (?), xem như các vị Tướng bị
cáo đều không có tội nhưng không được giữ
những chức vụ quan trọng trong quân đội. Thật ra không
hòa giải hòa hợp cũng không được, vì
đâu có bằng chứng gì để truy tố ra tòa.
Hòa giải hòa hợp xong, các vị có mặt gồm
“nguyên cáo lẫn bị cáo” ôm nhau vui vẻ
và “ăn nhậu linh đình”, có cả sự “giúp vui”
của những cô gái ngay tại biệt thự chọn làm nơi hội
họp. Các cô này được phi cơ C47 đưa từ Sài
Gòn lên.
Sở dĩ Hội Đồng Tướng lãnh họp tại Đà
Lạt là vì sau khi năm vị Tướng bị bắt ngày 30
tháng 1 năm 1964 đưa ra giữ ở Đà Nẳng, nhưng do thiếu
tiện nghi sinh hoạt nên Trung Tướng Nguyễn Khánh chấp nhận
lời yêu cầu của năm vị mà chuyển lên Đà Lạt
giam trong một biệt thự với những tiện nghi sinh hoạt tốt hơn. Trong
thời gian giam giữ các vị tại Đà Nẳng, Trung Tướng Trần
Thiện Khiêm chỉ thị tôi trách nhiệm thanh
toán chi phí, nhưng khi chuyển lên Đà Lạt
thì văn phòng Phủ Thủ Tướng trách nhiệm.
Về hòa giải hòa hợp giữa các
vị Tướng Lãnh. Xin quí vị quí bạn lùi lại
những ngày cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1964. Đại
Tá Nguyễn Cao (có tên Pháp là Albert
Cao), Trung Tá Lê Văn Nhiêu, hai vị này
thuộc Phủ Thủ Tướng, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình
văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, ba sĩ quan này đã
phục vụ nhiều năm trong ngành tình báo quân
sự, tạo thành một toán công tác tình
báo đặc biệt. Theo lệnh của Trung Tướng Nguyễn Khánh, ba
vị sĩ quan này truy tìm chứng cớ để kết tội năm vị Tướng
bị cáo buộc “chủ trương trung lập”. Đến ngày kết
thúc, Trung Tá Bình sau khi từ phòng Trung
Tướng Trần Thiện Khiêm bước ra, anh nói với tôi:
- “Anh biết hông, tụi tôi truy lục
các hồ sơ ở An Ninh Quân Đội, Tổng Nha Cảnh Sát,
rồi bên Phủ Đặc Ủy Tình Báo, và hầu hết
các tòa soạn báo chí, nhưng không
tìm ra bất cứ một chứng cớ nào liên quan đến chủ
trương trung lập của mấy ông Tướng bị bắt cả”.
- “Vậy các vị Tướng bị cáo chủ trương trung lập chẳng qua
là cái cớ cho cuộc “Chỉnh Lý” (Trung Tướng Nguyễn
Khánh gọi như vậy, thật ra cũng là đảo chánh
thôi), còn nguyên nhân nằm ở đâu?”
- “Tôi cũng tự hỏi như anh vậy”.
- “Khi anh trình kết quả này, Trung Tướng (Trần Thiện
Khiêm) có nói gì hông?”
- “Không”.
Vậy, nguyên nhân nằm ở đâu?
Tôi nghĩ, nguyên nhân ở người Mỹ có mặt trong
buổi sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964 tại nhà
Trung Tướng Nguyễn Khánh, đây cũng là bản doanh của
các vị lãnh đạo đảo chánh. Phải chăng Hoa Kỳ muốn
loại trừ hẳn những Tướng lãnh cầm quyền mà trước
đó bị cáo buộc là thân Pháp ra khỏi
chính trường Việt Nam không?
Nếu đúng như vậy thì rõ
ràng là Hoa Kỳ thực hiện mục tiêu theo từng bước:
Bước một, lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì Tổng
Thống Diệm không đồng ý để Hoa Kỳ thiết lập căn cứ
quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong
chiến lược Domino của Hoa Kỳ, nhằm tạo một hàng rào che
chắn mặt Nam của Trung Hoa cộng sản. Tổng Thống Diệm đã
nhìn thấy thế chính trị Việt Nam Cộng Hòa bị tổn
thương trong bối cảnh chính trị quốc tế nếu có mặt
quân bộ chiến Hoa Kỳ trong cuộc chiến này.
Sau khi lật đổ Tổng Thống Diệm, trao cờ vào
tay Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị Tướng thâm
niên phất tạm. Bước hai, Hoa Kỳ “bật đèn xanh” cho Trung
Tướng Trần thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh,
và Đại Tá Cao Văn Viên, giành lấy cờ từ tay
các vị Tướng bị cáo buộc thân Pháp để phất
tiếp. Chính sách của Hoa Kỳ, năm 1954 đẩy Pháp đến
chỗ chia đôi đất nước Việt Nam, năm 1956 đã góp
phần không nhỏ trong việc đẩy quân đội Liên
Hiệp Pháp rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa, và
năm 1964 đẩy luôn các vị Tướng bị cho là thân
Pháp ra khỏi chánh quyền lẫn quân đội. Thuận
lý chớ?
Trở lại vấn đề nội tình Việt Nam. Trong
hướng cố gắng tạo chiến công để có tiếng vang về khả năng
lãnh đạo, Trung Tướng Nguyễn Khánh lệnh cho Trung Tướng
Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn II/Vùng II
Chiến Thuật, tổ chức cuộc hành quân qui mô
vào mật khu Đỗ Xá, nằm sâu trong vùng rừng
già giáp ranh 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi.
Lực lượng hành quân vào tận sào huyệt Đỗ
Xá, phá hủy nhiều vũ khí đạn dược và
toàn bộ cơ sở tiếp vận (mà cộng sản gọi là hậu
cần), nhưng không diệt được lực lượng của chúng. Tuy vậy,
một phần lực lượng tham dự hành quân qui mô
đó cùng với bộ chỉ huy hành quân của Trung
Tướng Trí, được đưa về thủ đô Sài Gòn tham
dự cuộc duyệt binh diễn binh tại công trường Lam Sơn, ngã
tư đại lộ Nguyễn Huệ với đại lộ Lê Lợi. Nhiều quân
nhân được thăng cấp mặt trận và ân thưởng huy
chương, mà theo tôi là vượt trên mức
thành tích đạt được. Sở dĩ có sự kiện như vậy
vì Trung Tướng Nguyễn Khánh muốn tỏ ra chánh phủ
do ông lãnh đạo có khả năng tạo được thành
tích.
Hiến Chương Vũng Tàu.
Trung tuần tháng 7 năm 1964, ban hành
Sắc Lệnh thiết lập cấp Chuẩn Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. Những cấp bậc Tướng Lãnh từ trước đến lúc bấy
giờ là Thiếu Tướng biểu tượng bằng 2 ngôi sao mỗi
bên ve áo hay cầu vai trên áo, Trung Tướng 3
ngôi sao, Đại Tướng 4 ngôi sao, và Thống Tướng 5
ngôi sao. Cấp Chuẩn Tướng mới thiết lập được qui định là 1
ngôi sao mỗi bên ve áo hay cầu vai trên
áo. Ngay sau đó là Sắc Lệnh thăng cấp Chuẩn Tướng
cho 9 Đại Tá, và Trung Tướng Trần Thiện Khiêm được
thăng cấp Đại Tướng, dĩ nhiên là do Trung Tướng Nguyễn
Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực (cải danh
của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng)), với chức năng
Quốc Trưởng, ký ban hành. Như vậy, có phải
là Đại Tướng Khiêm thăng cấp nhanh quá chăng?
Vì ngày 6 tháng 12 năm 1962 ông từ Đại
Tá thăng cấp Thiếu Tướng do công vụ, ngày 2
tháng 11 năm 1963 thăng cấp Trung Tướng do tham gia trong
nhóm lãnh đạo đảo chánh 1/11/1963, ngày 15
tháng 7 năm 1964 thăng cấp Đại Tướng không do nguyên
nhân nào cả, trừ khi Trung Tướng Khánh muốn vị Tổng
Tư Lệnh phải là cấp bậc 4 sao như dự trù cấp bậc
lý thuyết trong bảng cấp số Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhưng liệu khi
Trung Tướng Khánh quyết định thăng cấp Tướng cho một số vị
là do nhu cầu công vụ, hay đằng sau quyết định đó
còn có nhu cầu nào khác chăng?
Sở dĩ tôi nêu câu hỏi đó
cho tôi, vì sau ngày trao gắn cấp Tướng cho
các vị vừa vinh thăng, thì Trung Tướng Khánh cho
triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực tại ngôi biệt thự
màu trắng ở Vũng Tàu, nơi mà cư dân Vũng
Tàu thường gọi là “bạch dinh”, để thông qua bản
“Hiến Chương” thay thế cho Hiến Ước Lâm Thời sau khi bãi
bỏ Hiến Pháp đệ nhất Cộng Hòa. Đại Hội Đồng Quân
Lực sau khi được bổ sung một số vị mới thăng cấp Tướng, nâng tổng
số gần 40 thành viên. Và rồi Đại Hội Đồng
Quân Lực thông qua bản Hiến Chương, đồng thời bầu Trung
Tướng Nguyễn Khánh vào chức Chủ Tịch Việt Nam Cộng
Hòa. Vậy, theo quí vị, có phải là Trung
Tướng Khánh “mua chuộc” hay một ý nghĩa nào
đó tương đương với mua chuộc các thành viên
trong Đại Hội Đồng Quân Lực, nhất là đối với các vị
vừa mang những ngôi sao mới toanh trên ve áo?
Tôi chưa kịp đọc bản Hiến Chương này,
nhưng qua báo chí cũng như những bản tuyên bố của
những tổ chức chính trị, cáo buộc Trung Tướng
Khánh là độc tài khi soạn thảo Hiến Chương
và điều khiễn Đại Hội Đồng Quân Lực bầu ông
vào chức vụ Chủ Tịch với rất nhiều quyền hành. Thế
là ngay sau ngày Hiến Chương được thông qua tại
Vũng Tàu mà báo chí thường gọi là
“Hiến Chương Vũng Tàu”, các tổ chức chính trị,
tôn giáo, mà khởi đầu là sinh viên
xuống đường mít tinh biểu tình, cáo buộc Trung
Tướng Nguyễn Khánh là độc tài, đòi hủy bỏ
Hiến Chương Vũng Tàu, và đòi Trung Tướng Nguyễn
Khánh từ chức.
Một hôm, tôi mang hồ sơ của Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm đến Phủ Thủ Tướng ở số 7 đại lộ Thống Nhất, để
trình tận tay Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh
đúng lúc đoàn biểu tình vừa dừng trước cổng
và hô to:
Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn
Khánh!
Lúc bấy giờ, Trung Tướng Khánh từ
trong Phủ Thủ Tướng bước ra dưới sự bảo vệ của hàng rào
cận vệ võ trang chống biểu tình. Khi đoàn biểu
tình trông thấy ông thì họ lại hô to:
Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn
Khánh!
Lúc ấy tôi không thể tưởng tượng
được là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng giơ tay
lên và cũng hô to:
Đả đảo Nguyễn Khánh! Đả đảo Nguyễn
Khánh!
Bỗng dưng đoàn biểu tình trở
nên im lặng. Tôi nghĩ là đoàn biểu
tình quá bất ngờ về hành động của Trung Tướng
Khánh làm cho họ mất đối thủ, vì chính
ông cũng đả đảo ông thì còn ai để đoàn
biểu tình đả đảo nữa. Và rồi Trung Tướng Khánh
chen vào đoàn biểu tình cười nói
huyên thuyên chẳng khác một thành viên
nhiệt tình trong đoàn biểu tình vậy. Phải
công nhận phản ứng của Trung Tướng Khánh rất cao tay, chớ
không phải ông quên ông là Trung Tướng
Thủ Tướng Nguyễn Khánh đâu quí vị à!
Cuối cùng Trung Tướng Khánh tuyên bố hủy bỏ Hiến
Chương mới công bố mấy ngày trước đó. Thế là
thủ đoạn chính trị của ông đối với Đại Hội Đồng Quân
Lực quá dễ, nhưng với lực lượng chính trị và
tôn giáo thì ngược lại. Một bên có
quân có súng nhưng phục tùng, một bên
khác không súng nhưng lại có một sức mạnh
nếu không nói là phi thường thì sức mạnh
đó cũng đủ đập tan chiếc ghế Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa
của Trung Tướng Nguyễn Khánh.
Đúng là quân nhân phải
chấp hành kỷ luật một cách triệt để, nhưng đó
là nhiệm vụ quân sự thuần túy, còn trường
hợp thông qua bản Hiến Chương tại Vũng Tàu thì
không thể coi là nhiệm vụ quân sự mà
là nhiệm vụ chính trị, và cao hơn nữa là
nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia. Vậy, quyền quyết định thông
qua hay không thông qua bản Hiến Chương, các vị
thành viên Đại Hội Đồng Quân Lực phải tự mình
quyết định lá phiếu của mình chớ! Nhưng rồi bản Hiến
Chương đã thông qua dễ dàng, điều đó
có nghĩa là các vị đã đồng ý nội
dung cho dù từ trong thâm tâm quí vị rất
có thể là không phải như vậy. Nếu đúng như
vậy thì quí vị đã không thực hiện được vai
trò thành viên của tập thể lãnh đạo quốc gia
rồi còn gì, và quí vị phải chịu chung lỗi
lầm sai trái khi đồng tình với nội dung bản Hiến Chương
bị cáo buộc là độc tài.
Hội Đồng Quân Lực thu hẹp vội vã họp
tại Trung Tâm Hành Quân/Bộ Tổng Tư Lệnh để
tìm giải pháp cho sự khủng hoảng, nhưng suốt ngày
vẫn không thành công. Cuối cùng, giải
pháp lãnh đạo bởi ba người mà báo
chí gọi là “tam đầu chế”, gồm: Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm, Trung Tướng Dương Văn Minh, và Trung Tướng Nguyễn
Khánh. Rốt cuộc cũng chỉ có Trung Tướng Khánh nắm
quyền, vì Đại Tướng Khiêm với Trung Tướng Minh, hoặc
không đủ thủ đoạn đối phó với Trung Tướng Khánh,
hoặc không muốn dấn thân vào chính trị.
Và dù muốn hay không muốn, hai vị cũng phải chịu
chung trách nhiệm về lỗi lầm của Trung Tướng Khánh trong
giải pháp “tam đầu chế”.
Nhưng vấn đề không dừng ở đây,
vì Trung Tướng Khánh tự thấy chiếc ghế quyền lực của
ông thực sự lung lay, thế là Trung Tướng Khánh nhắm
thẳng vào Đại Tướng Trần Thiện Khiêm mà ông
cho là nguyên nhân, là người đứng đằng sau
mọi hình thức chống đối ông. Tôi nhận định như vậy
vì có một người không có tên trong tổ
chức quân đội, trong tổ chức hành chánh, hay bất cứ
tổ chức hoặc cơ quan nào của chánh phủ, nhưng lại
là người có thế lực chỉ vì ông là em
vợ của Trung Tướng Nguyễn Khánh, tên của ông
là Phạm Quang Tước. Những tháng trước đó,
ông Tước thường đến văn phòng tôi với vài
món lặt vặt tặng tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông
nói chuyện huyên thuyên về mọi chuyện, trong khi
tôi nghe rất ít vì luôn bận việc của văn
phòng Bộ Quốc Phòng và văn phòng Bộ Tổng Tư
Lệnh. Nhưng từ sau ngày Trung Tướng Khánh buộc phải thỏa
mãn yêu sách của giới chính trị hủy bỏ Hiến
Chương, cũng là hủy bỏ chức Chủ Tịch mà ông
đã được bầu, thì ông Tước cũng lạnh nhạt với
tôi. Rồi từ lạnh nhạt đến xem tôi là kẻ thù
cũng chỉ vài bước thôi, và vài bước
đó đã qua khi ông Tước nói với tôi:
- “Đại Tướng của anh phải cẩn thận đó,
nếu như cứ lấn tới nữa thì tánh mạng không an
toàn đâu”. Nói xong là ông đi
ngay mà chẳng cần chào hỏi như trước nữa.
Đại Tướng Khiêm rất buồn Trung Tướng
Khánh, nhưng vì ông ít nói nên
tôi không nghe ông phân bua, cũng chẳng buồn
giải thích với những người chung quanh. Hoặc có thể
là Đại Tướng Khiêm xem thường Trung Tướng Khánh
mà không cần thanh minh chăng? Nếu đúng vậy,
thì Đại Tướng Khiêm áp dụng câu “im lặng cũng
là khinh bỉ”.
Chuyện 10 kí lô vàng thoi.
Sau ngày Chỉnh Lý 30/1/1964 -cũng
là hay là đảo chánh- vài tuần, Trung Tướng
Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) gọi tôi vào văn
phòng:
- “Chú xuống nhà Trung Tướng Minh
(Dương Văn) nhận vàng đem về cất, rồi liên lạc xem cơ quan
nào giữ thì giao cho người ta”.
- “Thưa Trung Tướng (cấp bậc lúc bấy giờ), tôi chưa
rõ công tác này. Xin Trung Tướng cho biết
tôi sẽ trình như thế nào với Trung Tướng Minh?”
- “Chú cứ nói là tôi bảo chú xuống
nhận vàng là được rồi”.
Sở dĩ phải hỏi lại là vì có bao giờ tôi nhận
cái lệnh tương tự như vậy đâu, bây giờ nghe
nói nhận vàng một cách quá nhẹ nhàng
nên hỏi để biết mình không nghe lầm. Tôi đến
tư dinh Trung Tướng Dương Văn Minh mà nơi đây báo
chí thường gọi là “dinh hoa lan”. Chờ một lúc, sĩ
quan tùy viên đưa tôi vào văn phòng
Trung Tướng Minh. Lại chờ một lúc nữa. Với thái độ vui
vẻ, vừa bước vào phòng là Trung Tướng Minh đưa
tôi cái túi xách và nói
luôn:
- “Anh mở ra xem và đếm lại coi
có đủ 10 kí không, rồi mang về đưa Trung Tướng
Khiêm”.
Đó là cái túi
xách màu xanh, cũ mèm, bên ngoài
có chữ “Air Việt Nam”. Đếm xong:
- “Thưa Trung Tướng, trong túi
này có 10 thoi nhưng không biết có phải
là 10 kí hay không thì tôi không
rõ”.
- “Anh cứ mang về trình Trung Tướng Khiêm chớ
có cân đong đo đếm gì đâu mà anh sợ”.
- “Vâng. Chào Trung Tướng”.
Vừa vào văn phòng Trung Tướng
Khiêm là tôi mở túi ra để trình
ông xem, nhưng ông không xem mà nói:
- “Chú nhận rồi thì cất trong tủ
sắt đi, cơ quan nào nhận giữ thì chú giao cho
người ta”.
- “Vâng”.
Theo tôi biết, số vàng này do Trung Tướng Đỗ Cao
Trí -lúc giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I-
tịch thu của ông Ngô Đình Cẩn ở Huế, đem vào
Sài Gòn giao cho Trung Tướng Minh. Bây giờ Trung
Tướng Minh giao lại Trung Tướng Khiêm. Xin nhắc lại là sau
cuộc đảo chánh lật đổ và giết chết Tổng Thống Ngô
Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, và
ông Cố Vấn Chỉ Đạo Miền Trung Ngô Đình Cẩn (bị
tòa kêu án tử hình và thi hành
bản án sau đó chẳng bao lâu), Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng thành lập “Ủy Ban Tịch Thu
Tài Sản Gia Đình Họ Ngô”, do Trung Tướng Lê
Văn Kim giữ chức Chủ Tịch. Đã có Ủy Ban đó, nhưng
không biết tại sao số vàng này lại “vòng vo
lưu lạc” như vậy nữa, kể cả mấy tháng nay nó nằm trong tủ
sắt ngay sau lưng tôi.
Khi mối giao hảo giữa Trung Tướng Khánh với
Đại Tướng Khiêm căng thẳng, Đại Tướng Khiêm hỏi tôi:
- “Chú còn giữ mấy kí
vàng đó không?”
- “Dạ còn thưa Đại Tướng”.
- “Bao nhiêu vậy?”
- “Dạ 10 kí vàng thoi”.
- “Chú liên lạc xem cơ quan nào nhận thì
giao cho người ta, giữ hoài mất công lắm”.
- “Vâng. Ngày mai tôi xuống Ngân Hàng
Quốc Gia hỏi xem nơi đây có biết không, thưa
Đại Tướng”.
Tôi đến Ngân Hàng Quốc Gia, mới
biết đây là cơ quan nhận số tài sản đã tịch
thu của gia đình anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm do
Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình Họ Ngô bàn
giao. Sau khi được ông Giám Đốc giải thích thủ tục
giao nhận, tôi hẹn hôm sau mang đến.
Sáng hôm sau, tôi lững thững
xách cái túi Air Việt Nam vào. Khi
ông Giám Đốc thấy cái túi cứ tưởng tôi
đi ngang chợt ghé chớ không nghĩ là 10 kí
lô vàng bên trong, vì cái túi
quá cũ chẳng ai thèm lượm nếu chợt thấy nó
bên đường. Khi biết vàng bên trong, ông
Giám Đốc quá sức ngạc nhiên:
- “Thiếu Tá đi với ai?”
- “Một mình tôi thôi mà”.
- “Sao Thiếu Tá liều mạng , dễ chết lắm đó!”
- “Đi một mình đâu có ai để ý mà
chết. Nếu bên cạnh tôi có thêm Quân Cảnh
hay nhân viên nào đó đi theo thì kẻ
gian cho là tôi mang thứ gì quí giá
bên trong nó sẽ theo chân ngay. Lúc ấy mới
là lúc dễ chết đó ông Giám Đốc.
Nói cho vui nghe, chương trình của trường quân sự
cao cấp chúng tôi có dạy về “9 nguyên tắc
chiến tranh”, trong đó có nguyên tắc “bất ngờ”
mà chúng tôi không bao giờ quên ứng
dụng nó, như trường hợp này chẳng hạn”.
Chúng tôi cười xòa và bắt tay vào
việc. Thủ tục giấy tờ xong, ông Giám Đốc hướng dẫn
tôi xuống tầng hầm của Ngân Hàng Quốc Gia. Ôi
chao! Mặt bằng của tầng hầm này có lẽ rộng hơn mặt bằng
của tầng trệt thì phải, và tôi nghĩ là
nó nằm ngay dưới mặt đường “Bến Chương Dương” nữa đó. Đi
một vòng rộng lớn, xem các bà các cô
đếm bạc. Nhân viên đếm bạc toàn mặc áo blouse
trắng không túi. Đến chỗ cân trọng lượng:
- “Số vàng này cân hả
ông Giám Đốc?”
- “Cân chớ. Cân cho biết bao nhiêu để ghi vào
biên bản thôi Thiếu Tá”.
- “Trời ơi! Hồi tôi nhận từ tay Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh)
tôi chỉ đếm đủ 10 thoi là mang về trình “sếp” chớ
có cân lượng gì đâu”.
Tôi được giải thích là
cái cân này rất nhạy và rất chính
xác. Một hột cát bé xíu là cân
hoạt động rồi. Lần lượt cân từng thoi một, bù qua sớt lại
vừa đủ 10 kí. Xong, đến trước một cái tủ thật lớn, hai
nhân viên ngân hàng cùng tra hai
chìa khóa vào và cùng mở một
lúc. Lại cùng mở thêm cánh cửa bên
trong nữa, một cái thúng lớn chứa đầy vàng
lá óng ánh, ông Giám Đốc nói:
- “Đây là 42 kí lô
vàng lá do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Đình
Họ Ngô bàn giao tháng trước đó Thiếu
Tá”.
Thế là 10 thoi vàng này đổ
vào cái thúng đó luôn.
- “Như vậy là xong rồi hả ông
Giám Đốc?”
- “Xong rồi Thiếu Tá”.
Câu chuyện 10 kí lô vàng thoi đến đây
là hết. Xin mời trở lại đoạn cuối của cuộc đảo chánh
không đổ máu ngày 30/1/1964.
Đoạn kết.
Vậy là Trung Tướng Dương Văn Minh, với chức
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng hành sử
chức năng Quốc Trưởng từ 2/11/1963 đến 29/1/1964, đó là
thời gian quá ngắn để vị lãnh đạo thể hiện khả năng
và bản lãnh của mình, nhưng với câu
mà ông nói với những vị Tướng Lãnh trong Hội
Đồng Quân Nhân Cách Mạng tại tòa nhà
chánh Bộ Tổng Tham Mưu vào chiều ngày 2/11/1963,
tức ngay sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm
thành công:
- “Các “toa” còn cần gì
“moi” không để “moi” còn đi đánh tennis?”
Quả thật là ông thiếu trách
nhiệm của người lãnh đạo quốc gia ngay sau cuộc đảo chánh
với biết bao vấn đề đặt ra, chỉ riêng phần ổn định nhân sự
trong các tổ chức trung ương sau cuộc khủng hoảng chính
trị đã là vấn đề quan trọng hàng đầu, vì
nhân sự bao giờ cũng chiếm đến 50% trong mọi thành
công hay thất bại. Thêm nữa, dân chúng
thì hoang mang trong khi cộng sản lợi dụng tình
hình rối ren để gia tăng áp lực quân sự tại nhiều
nơi. Ấy vậy mà Trung Tướng Minh tỏ ra nhàn nhã,
chừng như ông giao khoán công việc quốc gia cho
Chánh Phủ Nguyễn Ngọc Thơ và Tổng Trưởng Quốc
Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội, để
ông đi đánh tennis thì phải!
Lẽ dĩ nhiên không nên căn cứ
vào mỗi câu nói trên mà đưa ra nhận
xét về vị lãnh đạo quốc gia, nhưng trong 3 tháng
cầm cờ lãnh đạo trong tay, rõ ràng là Trung
Tướng Dương Văn Minh đã không thể hiện bất cứ khả năng hay
bản lãnh của vị Tướng lãnh đạo quốc gia. Chẳng những thế,
cả Chánh Phủ cũng lúng túng trong chính
sách Ấp Chiến Lược thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm để
lại.
Trên cương vị Tướng Lãnh trong
quân đội, quân đội đòi hỏi phải có một kiến
thức quân sự vững chắc để biết đánh và biết thắng
địch, phải có một nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy để
quân sĩ tin tưởng, tôn trọng, và nhiệt tình
thi hành nhiệm vụ. Nhưng khi vị Tướng trên cương vị
lãnh đạo quốc gia, vị Tướng đó cần có thêm
bản lãnh và thủ đoạn chính trị để lãnh đạo
toàn dân, để đương đầu với kẻ thù đang xâm
lăng đất nước, để đương đầu với những thử thách quốc tế, nhất
là với các quốc gia Đồng Minh, trong trách nhiệm
bảo vệ tổ quốc và phát triển dân giàu nước
mạnh
Đồng ý rằng, Trung Tướng Dương Văn Minh rất
được lòng của nhiều thành phần trong xã hội, nhưng
cảm tình này là do bản tính hiền hòa
vốn có của ông, chớ không do tài năng bản
lãnh của vị lãnh đạo quốc gia. Nhưng chẳng lẽ vị
lãnh đạo quốc gia chỉ cần trang bị có ngần ấy thôi
sao?
Vậy, Trung Tướng Dương Văn Minh, theo quí
vị, là vị Tướng thích ứng đến mức nào trong vai
trò lãnh đạo quốc gia?
Chương Ba
Biểu Dương Lực Lượng
ngày 13 tháng 9 năm 1964
Sự “mâu thuẫn một chiều” từ phía Trung
Tướng Nguyễn Khánh đối với Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, như
cái hố ngày càng rộng và sâu
thêm, cơ hồ khó mà hàn gắn lại nếu
không nói là không thể hàn gắn được.
Hai vị không có những cuộc tiếp xúc trực tiếp nhau
nữa, trong khi những hình thức chống đối Trung Tướng
Khánh từ các tổ chức chính trị không ngưng
nghỉ, càng làm cho Trung Tướng Khánh tức tối
thêm và mục tiêu chính mà ông
cần triệt hạ vẫn là Đại Tướng Khiêm. Rất có thể
những sự kiện chính trị nội tình Việt Nam Cộng Hòa
xảy ra trong tháng 7 và 8 năm 1964, chưa đủ để ông
thẳng tay với Đại Tướng Khiêm, vì dù sao Đại Tướng
Khiêm cũng là người chính yếu đưa ông đến tột
đỉnh vinh quang hiện nay.
Và rồi Trung Tướng Nguyễn Khánh
có cái cớ mà tôi nghĩ là nguyên
nhân của Trung Tướng Khánh, để ông xuống tay với
người bạn đồng khóa và rất thân của ông.
Và nếu nhìn theo góc cạnh tình cảm, Đại
Tướng Khiêm cũng là ân nhân của Trung Tướng
Khánh nữa.
Ngày 13 tháng 9 năm 1964, 07 giờ sáng, tôi
đưa Đại Tướng Trần Thiện Khiêm và gia đình gồm vợ
và hai con của ông, cùng với Đại Úy Nguyễn
Trọng Hồng -sĩ quan tùy viên- lên phi cơ đi
Đà Lạt, và dự trù trở về Sài Gòn
vào buổi chiều cùng ngày. Đại Úy Hồng thay
thế Đại Úy Nguyễn Hữu Có đã thuyên chuyển
sang Lữ Đoàn Nhẩy Dù, làm sĩ quan tùy
viên cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên. Phi cơ rời phi trường
Tân Sơn Nhất, và khi mất hút trong những đám
mây lang thang trên không phận Gia Định, tôi
lên xe quay về nhà với dự định đưa gia đình dạo phố
vì lâu lắm mới có một ngày chủ nhật rảnh
rang như hôm nay.
Nhưng không. Vì khi về đến nhà
là nghe tiếng súng ròn rã ở hướng Bộ Tổng
Tư Lệnh, và hướng Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô. Tôi
chạy sang Bộ Tổng Tư Lệnh. Đang mở cửa văn phòng thì gặp
ngay Đại Tá Huỳnh Văn Tồn, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh (đồn
trú ở Mỹ Tho) cũng vừa đến. Với nụ cười cố hữu trước khi
vào chuyện, ông hỏi:
- “Đại Tướng đâu rồi anh Hoa?
- “Đại Tướng và gia đình đi Đà Lạt, nhưng khoảng 8
giờ mới đến trên đó. Có chuyện gì vậy Đại
Tá?
- “Chúng tôi “Biểu Dương Lực Lượng” để cảnh cáo
ông Khánh. Có cách nào anh liên
lạc được với Đại Tướng sớm hơn không?
- “Chỉ có cách là nhờ hệ thống Bộ Chỉ Huy
Không Chiến của Không Quân thì may ra, nhưng
tôi nghĩ là mình không nên để bên
đó biết cuộc nói chuyện như vậy, thưa Đại Tá. Với
lại khoảng 20 phút nữa thì mình liên lạc
được thôi mà”.
Ngay lúc đó điện thoại reo:
- “Thiếu Tá Hoa tôi nghe”.
- “Trung Tướng Khánh đây. Đại Tướng Khiêm đâu
rồi?
- “Thưa Trung Tướng, Đại Tướng Khiêm đang trên không
trình Sài Gòn-Đà Lạt. Trung Tướng có
cần liên lạc ngay bây giờ không, thưa Trung Tướng?
- “Khi đến nơi, anh nói Đại Tướng Khiêm điện thoại ngay
cho tôi”.
- “Vâng. Nhưng điện thoại Trung Tướng ở tư dinh hay ở Phủ Thủ
Tướng, thưa Trung Tướng?
- “Phủ Thủ Tướng”.
Tôi liền gọi lên Đà Lạt, dặn
trên đó trình với Đại Tướng Khiêm liên
lạc ngay với Trung Tướng Khánh khi đến nơi. Vừa gác ống
nói vừa xoay qua Đại Tá Tồn:
- “Trung Tướng Khánh cần nói
chuyện với Đại Tướng đó Đại Tá”.
- “Ổng ở đâu vậy?
- “Dạ ở Phủ Thủ Tướng. Vị lãnh đạo hôm nay là ai
vậy Đại Tá?
- “Trung Tướng Đức với tôi”.
Trung Tướng Dương Văn Đức là Tư Lệnh
Quân Đoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Bộ Tư Lệnh đồn
trú tại Cần Thơ.
Đại Tướng Trần Thiện Khiêm bị quản
thúc.
Vài phút sau, điện thoại reo:
- “Thiếu Tá Hoa tôi nghe”.
- “Hồng đây anh. Anh gọi Đại Tướng có việc gì vậy?
- “Sài Gòn đang có biến động do Trung Tướng Đức
với Đại Tá Tồn lãnh đạo. Trung Tướng Khánh dặn Đại
Tướng khi đến Đà Lạt là gọi về ổng ở Phủ Thủ Tướng
đó. Anh trình Đại Tướng ngay đi. Có tin gì
thì cho tôi biết với nghe”.
Mấy phút sau đó, Đại Úy Hồng
gọi tôi:
- “Trung Tướng Khánh bảo Đại Tướng ở lại
Đà Lạt cho đến khi nào ổng cho về mới được về. Đại Tướng
bảo anh đến nhà lấy một ít áo quần và đồ
dùng cần thiết, cho phi cơ mang lên Đà Lạt ngay
hôm nay. Nhờ anh ghé nhà tôi lấy túi
áo quần gởi lên giùm tôi luôn. Vợ
tôi đang chuẩn bị đó. (Trong những năm 1970-1975,
Đại Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng, Đại Tá Hồng là
chánh văn phòng. Hiện anh định cư tại Houston).
- “Chiếc (phi cơ) C47 còn trên đó
không?
- “Sau khi nói chuyện với Trung Tướng Khánh, Đại Tướng
cho phi hành đoàn lái về Sài Gòn
rồi”.
- “Vậy tôi sẽ yêu cầu chiếc đó trở lên
Đà Lạt ngay chiều hoặc tối nay. Nhớ, có tin gì
thêm thì gọi tôi ngay nhé. Ngược lại,
tôi cũng gọi anh khi có tin tức mới nhất”.
Cuộc “Biểu Dương Lực Lượng” của Trung Tướng Dương
Văn Đức đến buổi trưa là xẹp xuống sau mấy tiếng đồng hồ ồn
ào, tự lui quân về Mỹ Tho và Cần Thơ. Tình
hình thủ đô cũng như những vùng lân cận trở
lại yên tỉnh. Nhưng đó chỉ là bề mặt thôi.
Và đây là lời của Đại Tá
Tạ Thành Long, thuật tóm tắt cho chúng tôi
nghe khi cùng bị giam tại trại tập trung tù chính
trị ở Nam Hà (miền bắc) năm 1981, về cuộc “Biểu Dương Lực Lượng”
nói trên. Lúc bấy giờ anh Long là Trung
Tá Tham Mưu Phó hành quân Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn IV tại Cần Thơ:
“Giữa đêm 12 rạng 13/9/1964, Trung Tướng Đức
ra lệnh tổ chức bộ chỉ huy hành quân và cấp tốc di
chuyển sang Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho, và chuyển
quân lên Sài Gòn vào sáng sớm.
Làm việc suốt đêm và di chuyển trên chặng
đường Cần Thơ-Mỹ Tho trong đêm tối mà không được bảo
vệ an ninh lộ trình, một cuộc vận chuyển rất nguy hiểm trong
tình hình lúc bấy giờ, nhưng cũng may là
đến nơi bình yên. Sau khi phối hợp với Sư Đoàn 7 Bộ
Binh, tất cả cùng chuyển quân lên Sài
Gòn”.
“Theo kế hoạch, các đơn vị phải dừng lại ở
Bình Chánh (một quận của tỉnh Gia Định ven ngoại ô
thủ đô), chỉ có Trung Tướng Đức và các sĩ
quan cần thiết mới được vào Sài Gòn. Nhưng Trung
Tướng Đức cho lực lượng tiến đến Phú Lâm, ngưỡng cửa
phía tây của thủ đô. Trung Tướng Đức giao cho
tôi (tức Trung Tá Long) đến tòa đại sứ Hoa Kỳ
liên lạc với bộ phận tình báo ở đó xem
tình hình sắp tới ra sao. Đến nơi, chờ một lúc mới
tiếp xúc được với nhân viên tình báo.
Ông ta lên tiếng:
“Các ông đã không thực hiện đúng lời
hứa. Tại sao các ông đưa lực lượng vào Sài
Gòn? Hành động của các ông gây
khó khăn cho chúng tôi và cho cả các
ông nữa. Ông chờ tôi liên lạc về Hoa Kỳ nhận
lệnh”.
Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau đó:
“Hoa Thịnh Đốn quyết định các ông phải
rút quân về vị trí ngay, nếu không,
các ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về
cuộc biến động hôm nay.
“Tôi quay về Bộ Tổng Tư Lệnh trình cho
Trung Tướng Đức về kết quả cuộc tiếp xúc đó thì
ông cho lệnh rút quân. Và chuyện kể chỉ
có thế ”
“Cuộc Biểu Dương Lực Lượng” ngày 13
tháng 9 năm 1964, chỉ diễn ra trong khoảng mười tiếng đồng hồ
thì lặng lẽ rút lui. Ngay sau đó, Trung Tướng Đức
bị bắt tại Cần Thơ đưa lên phi cơ về Sài Gòn,
ông đã nóng giận to tiếng khoa tay múa
chân tại phi trường Tân Sơn Nhất khi Quân Cảnh
và An Ninh Quân Đội “dìu” lên xe đưa về cơ
quan an ninh.
Chắc là Hoa Kỳ khó chịu về cái
hơi hám “độc tài” của Trung Tướng Khánh nhưng chưa
đến mức đảo chánh lật đổ, nên “nhờ” Trung Tướng Đức ra oai
cảnh cáo dưới tên gọi “Biểu Dương Lực Lượng”,
và lực lượng cảnh cáo hăng quá nên đưa
quân áp sát thủ đô suýt nữa là
chiếm luôn các cơ sở trọng yếu như các cuộc đảo
chánh trước đây đã làm. Thế là bộ
phận tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ giáng
cho một lệnh xuất phát từ Hoa Thịnh Đốn, và lực lượng
biểu dương vội vàng rút lui có phần mất trật tự
một chút. Rõ ràng là Mỹ chưa bật đèn
xanh hoặc đèn xanh giới hạn thì cái ghế Chủ Tịch
Hội Đồng Quân Lực không phải dễ.
Đại Tướng Khiêm bị cách chức.
Xin mời trở lại với Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm. Sau một tuần bị quản thúc trong một dinh thự tại
Đà Lạt, ông và gia đình được Trung Tướng
Khánh cho về Sài Gòn. Những ngày tiếp theo,
Đại Tướng Khiêm rất buồn và không vào văn
phòng làm việc. Buổi sáng và chiều,
tôi mang hồ sơ về nhà trình ông giải quyết.
Trung Tướng Khánh ra lệnh Đại Tướng
Khiêm bàn giao chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng cho
ông, và tôi thì bàn giao hồ sơ của văn
phòng Bộ Quốc Phòng cho Trung Tá Nguyễn Khắc
Bình (về sau, Trung Tá Bình là Chuẩn Tướng,
Đặc Uỷ Trưởng Trung Ương Tình Báo, và Tư Lệnh Cảnh
Sát). Trong hồ sơ này có cả hồ sơ 10 kí
lô vàng thoi mà tôi nói ở phần cuối
của cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964.
Như vậy, Trung Tướng Khánh, Chủ Tịch Hội
Đồng Quân Lực, Thủ Tướng, nay kiêm thêm chức Tổng
Trưởng Quốc Phòng. Một mình ông nắm giữ các
chức vụ tối quan trọng giống như trường hợp Tổng Thống Ngô
Đình Diệm trước ngày bị lật đổ và bị giết chết vậy.
Vào ngày cuối tháng 9 năm
1964, Trung Tướng Khánh điện thoại tôi:
- “Anh trình với Đại Tướng Khiêm,
12 giờ trưa nay tôi đến ăn cơm tại nhà Đại Tướng
Khiêm”.
- “Xin Trung Tướng vui lòng điện thoại với Đại Tướng Khiêm
đang có mặt tại nhà, thưa Trung Tướng”.
- “Không. Anh về trình đi”. Ra lệnh xong là
ông gác ống nói.
Thật khó nghĩ cho tôi, vì hai
gia đình đang hờn giận nhau nếu không nói là
Trung Tướng Khánh đang “ghìm” Đại Tướng Khiêm,
và trường hợp này chẳng khác nào Trung
Tướng Khánh lôi tôi vào thế trận giống như
tôi đang trở thành thành viên trong
nhóm sĩ quan dưới quyền ông vậy.
Tôi đến tư dinh Đại Tướng Khiêm,
trình xong, Đại Tướng Khiêm im lặng trong khi bà
Khiêm tức giận:
- “Tại sao ổng không điện thoại đến
đây mà lại nói chuyện với chú?
- “Bà phải hỏi ông Khánh sao lại hỏi chú
Hoa? Thôi, bà lo cơm cho kịp”.
Đại Tướng Khiêm đỡ lời cho tôi. Nếu Đại
Tướng Khiêm không đỡ lời thì tôi chỉ biết trả
lời là “Tôi cũng không biết tại sao nữa”.
Phần tôi, mỗi khi có khách đến
nhà Đại Tướng Khiêm dùng cơm, tôi lo sắp xếp
bàn ăn, tổ chức an ninh, và những gì cần thiết
liên quan đến bữa ăn đó. Hôm nay cũng vậy, cộng
thêm sự thận trọng cần thiết. Sau khi chỉ định công việc
và cách thức xếp bàn ăn cho mấy anh làm
việc tại nhà Đại Tướng Khiêm, tôi về văn
phòng.
Mưu sát Trung Tướng Khánh.
Khoảng nửa giờ trước giờ ăn, tôi trở lại tư
dinh Đại Tướng Khiêm. Như thường lệ, kiểm soát công
tác chuẩn bị trong phòng ăn, tôi sang bên
cạnh kiểm soát các nhân viên an ninh để biết
chắc là công tác đang diễn tiến như dự định. Chợt
thấy Trung Tá Luông đi tới đi lui mấy lần, điều mà
chưa bao giờ xảy ra vì không liên quan gì đến
chức vụ Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tư Lệnh của ông
cả.
Trung Tá Nguyễn Văn Luông, năm 1958
là Thiếu Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 35
Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon
Tum. Lúc ấy tôi là Trung Úy, Trưởng ban 3
kiêm Ban 5 bộ chỉ huy Trung Đoàn này. Trong cuộc
đảo chánh 1/11/1963, ông là Thiếu Tá Chỉ Huy
Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu (lúc chưa cải
danh Bộ Tổng Tư Lệnh), ngay sau đó thăng cấp Trung Tá
và giữ chức Chỉ Huy Trưởng thay thế Trung Tá Lê
Soạn về hưu.
Tôi đến cạnh ông:
- “Ô! Trung Tá. Trung Tá
có gì cần gặp Đại Tướng hả?
- “Không. Không có gì”.
- “Không có gì sao Trung Tá đi qua đi lại
với vẻ suy tư vậy?
Trung Tá Luông kề tai tôi với
giọng ngập ngừng:
- “Hôm nay tụi tôi ám
sát ông Khánh”.
Tôi rất kinh ngạc về câu nói của
ông:
- “Bằng cách nào?
Ngưng một lúc, ông tiếp:
- “Vào bàn ăn độ 5 phút,
ông Anh từ trên lầu gọi điện thoại xuống đây (vừa
nói ông vừa chỉ điện thoại trên bàn cạnh cửa,
sát phòng ăn), lúc đó tôi sang mời
ông Khánh qua nghe điện thoại và nói
là của Phủ Thủ Tướng gọi. Khi ông ta vừa qua khỏi khung
cửa thì anh Yểm câu cổ và đâm chết”.
- “Đại Tướng có biết việc này không Trung Tá?
- “Không”.
“Vậy là không được. Tôi muốn Trung Tá hủy bỏ
dự định này, nếu không, tôi sẽ trình Đại
Tướng ngay. Tôi chắc rằng, Đại Tướng không bao giờ đồng
ý về một hành động như vậy đâu. Xin Trung Tá
hãy hình dung việc gì xảy ra tiếp đó,
vì cả tháng nay mỗi khi Trung Tướng Khánh đến
đây là y như rằng, tiểu đội cận vệ của Trung Tướng
Khánh với vũ khí cầm tay gần như bao quanh nhà
này. Chỉ cần tiếng động lạ nào đó trong
phòng ăn, là tiểu đội đó nhào vô tức
thì, và liệu sự kiện xảy ra có phải là
những xác chết -kể cả chúng mình- nằm la liệt ở
đây không? Lịch sử sẽ lưu lại những gì cho mai sau,
nếu không phải là “tiếng xấu muôn đời” chỉ vì
tranh giành quyền lợi mà giết chết lẫn nhau! Hủy bỏ đi
Trung Tá”.
Trầm ngâm một lúc:
- “Anh chờ tôi một chút”.
Trung Tá Luông lên lầu và
khoảng 5 phút sau, ông lại kề tai tôi với giọng tự
nhiên:
- “Được rồi. Ông Anh đồng ý hủy bỏ
việc đó”.
Tư dinh Đại Tướng Khiêm gồm 3 căn nhà
số 1, số 2, và số 3 có cửa thông nhau, trong
dãy số 4 (của nhiều dãy) trong cư xá trại Trần
Hưng Đạo, tức khuôn viên Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhà 2
tầng, vách gạch, lầu đúc bê tông, kiến
trúc mang dáng vấp Châu Âu, vì do
quân đội Pháp xây dựng dùng làm bản
doanh bộ tư lệnh quân viễn chinh của họ. Phòng ăn ở căn số
1, ngay cạnh phòng ăn có cửa thông qua căn số 2,
nơi có cái bàn dành cho sĩ quan tùy
viên trực tại nhà. Trên bàn có
máy điện thoại và những vật dụng cần thiết của một văn
phòng thu hẹp. Tầng trệt căn này không có
người ở. Căn số 3 là gia đình của vợ chồng người em
gái của bà Khiêm ở. Em rể của bà là
luật sư Bùi Văn Anh, chính là người mà
Trung Tá Luông nhận chỉ thị sau khi tôi phản đối vụ
mưu sát nói trên. Tôi không trực tiếp
nghe luật sư Anh nói về vụ này, mà những gì
tôi ghi lại ở đây là do Trung Tá Luông
nói với tôi. (Đầu năm 1975, Trung Tá Luông
là Đại Tá, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Khu 3 tại
Biên Hòa, và anh Lưu Yểm là Đại Tá
Tỉnh Trưởng tỉnh Biên Hòa)
Trước 12 giờ một chút, Trung Tướng
Khánh đến cùng với 2 xe Jeep chở đầy nhân
viên cận vệ với vũ khí trong tay. Vẫn như hành động
trong thời gian gần đây, toán cận vệ có mặt quanh
nhà nhưng không anh nào ngồi hay đứng yên một
chổ mà luân chuyển nhau từ vị trí này đến vị
trí khác, miễn sao các anh ấy trông thấy
được bàn ăn bên trong.
Vì là bữa ăn rất căng thẳng nên
tôi không ra vào như lệ thường. Khoảng 10
phút đầu tiên, không khí trong phòng
ăn thật yên lặng nếu có đôi mắt bàng quan
nào đó nhìn vào. Nhưng, sau đó, lời
qua tiếng lại tuy không đến nỗi ồn ào nhưng rõ
ràng là bữa ăn đầy sóng gió. Lời lẽ gay gắt
qua lại giữa bà Khiêm với Trung Tướng Khánh, cho
tôi nhận xét “không cân sức” về phía
bà Khiêm trong khi Đại Tướng Khiêm đăm chiêu
suy nghĩ hơn là tranh cãi, vì Trung Tướng
Khánh đang có trong tay tất cả quyền lực quốc gia,
đâu dễ dàng bị thuyết phục cho dù ông
bà Khiêm là bạn thân với gia đình
ông. Chữ “bạn thân” chẳng qua là thuở chưa có
quyền lực đấy thôi, chớ bây giờ thì khác.
Khác xa lắm rồi!
Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong
Khi Trung Tướng Khánh rời phòng ăn
với thái độ gần như bình thường, cứ như không
có chuyện gì xảy ra cả. Đó là cái
lạnh lùng của người có quyền lực đối với “kẻ thù”!
Mà liệu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm có phải
là kẻ thù của Trung Tướng Nguyễn Khánh hay
không? Chính trị, biết đâu mà lường phải
không quí vị? Tôi vào phòng ăn:
- “Thưa Đại Tướng, điều gì xảy ra
mà Trung Tướng Khánh to tiếng vậy Đại Tướng?
- “Ông Khánh “muốn” (hàm chứa ý nghĩa một
mệnh lệnh) tôi phải ra ngoại quốc, nếu không thì
tánh mạng tôi khó an toàn”.
- “Đại Tướng nghĩ sao?
- “Tôi quyết định đi. Chú lo thủ tục cho tôi
và gia đình tôi càng sớm càng tốt.
Chú với chú Châu, nếu được thì cùng
đi với gia đình tôi”.
- “Tôi sẽ theo Đại Tướng. Còn anh Châu thì
tôi sẽ hỏi ý kiến anh ấy và trình Đại Tướng
sau, thưa Đại Tướng”.
“Chú Châu” mà Đại Tướng
Khiêm nói ở đây là Đại Úy Đặng Văn
Châu. Năm 1963, anh là chánh văn phòng tỉnh
Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước là
Tỉnh Trưởng. Sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, Trung Tá Phước
bị cách chức và anh Châu cũng mất chức luôn.
Sau cuộc đảo chánh 30/01/1964, Đại Tướng Khiêm bảo
tôi liên lạc phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tư Lệnh
thuyên chuyển anh Châu về văn phòng chúng
tôi để thông dịch Anh ngữ cho Đại Tướng Khiêm khi
có phóng viên báo chí ngoại quốc
phỏng vấn. Đại Tướng Khiêm nói tiếng Anh rất khá,
nhưng với báo chí quốc tế nên có thông
dịch để có thì giờ suy nghĩ cho câu trả lời.
Khi hỏi ý kiến, anh Châu đồng ý
đi. Vậy là số người “lưu vong” có Đại Tướng Khiêm,
vợ và hai con ông, tôi, và Đại Úy
Châu. Anh Châu sang Bộ Quốc Phòng xin “sự vụ lệnh”,
đến Sở Hành Chánh Tài Chánh số 6
lãnh phụ cấp xuất ngoại vì “sự vụ lệnh” ghi “thay mặt
chánh phủ sang Anh quốc và Cộng Hòa Liên
Bang Đức, cám ơn hai quốc gia này đã giúp
đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống cộng sản”. Lại đến Bộ Ngoại Giao xin
“thông hành ngoại giao” và chiếu khán ở
tòa đại sứ Anh quốc và Cộng Hòa Liên Bang
Đức. Xong, xuống Tổng Nha Hối Đoái và Ngân
Hàng để đổi ngoại tệ. Phần phụ cấp bằng tiền Việt Nam đổi được
10 ngàn mỹ kim, và phần tiền Việt Nam mà tôi
giữ trong tủ sắt của văn phòng đổi được 10 ngàn mỹ kim
nữa. Đó là số tiền dự trữ trong tủ sắt để Đại Tướng cấp
phát cho các đơn vị tình báo sử dụng. Trong
cuộc “Biểu Dương Lực Lượng” ngày 13/9/1964, tôi mang về
nhà và Đại Tướng Khiêm bảo tôi cứ giữ
đó. Nay, tôi đưa Đại Úy Châu đi đổi
luôn. Đúng lúc mọi thủ tục sẳn sàng
thì Trung Tướng Khánh điện thoại tôi:
- “Anh không được đi mà chỉ một
mình Đại Úy Châu theo Đại Tướng Khiêm”.
Ra lệnh xong là ông gác ống nói ngay.
Tôi điện thoại lại thì Thiếu Tá Thịnh, bí
thư, anh Thịnh cho biết Thủ Tướng không tiếp chuyện. Thế
là tôi không trình bày được gì
cả.
Tôi đến trình Đại Tướng Khiêm,
Đại Tướng không nói gì nhưng rõ ràng
là bà Khiêm không hài lòng.
Tôi nhận ra rằng, bà Khiêm không hài
lòng không phải vì tôi không được đi,
mà không hài lòng chỉ vì bà
ngờ tôi “chưa chi đã trở mặt” đây. Tôi
áp dụng câu của Đại Tướng Khiêm có lần
nói với tôi rằng: “Sự trong sáng không cần
phải đính chánh mà thời gian sẽ chứng minh cho
mình, tuy có chậm nhưng rất hiệu quả”. Tôi trở về
văn phòng.
Hôm sau tôi đến Phủ Thủ Tướng xin gặp
Thủ Tướng Khánh, và ông tiếp:
- “Anh có chuyện gì?”
- “Thưa Thủ Tướng, tôi không được đi theo Đại Tướng
Khiêm trong chuyến đi chưa biết ngày nào trở về.
Vậy, tôi xin Thủ Tướng vui lòng cho tôi một số tiền
đủ đổi 10 ngàn mỹ kim và một giấy phép để đổi số
tiền đó. Số tiền này tôi sẽ trao Đại Tướng
Khiêm như là món quà nhỏ để Đại Tướng
và gia đình có thêm khoản tiền chi
tiêu ở ngoại quốc trong thời gian đầu. Xin thưa với Thủ Tướng
rằng, tôi đến đây là tự tôi chớ Đại Tướng
Khiêm không hay biết gì về hành động
này, thưa Thủ Tướng”.
Không cần suy nghĩ, ông trả lời ngay:
- “Được. Tôi cho anh”.
- “Xin cám ơn Thủ Tướng”.
Chính tôi đi đổi tiền, và
tôi thuật lại Đại Tướng Khiêm nghe khi tôi trao tiền
cho ông. Ông rất cảm động:
- “Tôi cám ơn chú”.
Chiều ngày 6 tháng 10 năm 1964, Đại
Tướng Khiêm gọi tôi đến tư dinh của ông. Vào
phòng khách, ông mời tôi ngồi, điều mà
chưa bao giờ xảy ra mỗi khi tôi đến nhận lệnh ngoại trừ hai lần
ra lệnh về đảo chánh. Tự ông, đem bánh ngọt với
nước trà ra mời tôi. Tôi hiểu rằng, “sếp” của
tôi sắp tâm sự chia tay đây rồi vì ngày
mai ông và gia đình rời Việt Nam lưu vong. Năm năm
làm việc trực tiếp dưới quyền ông trong trách nhiệm
một sĩ quan tham mưu đặc biệt, trong một chừng mực nào
đó, tôi hiểu được những cử chỉ cùng những
thái độ của ông thể hiện điều ông muốn hoặc
ông sắp làm. Xong miếng bánh với hớp
trà, ông vào chuyện:
- “Tôi cám ơn chú, trong
mấy năm qua chú đã làm việc với tất cả nhiệt
tình và trung thực. Giờ đây, trước khi rời Việt Nam
lưu vong không biết ngày về, tôi muốn nói với
chú rằng, nếu chú và những chú khác,
còn nhớ đến tôi thì đừng bao giờ làm
chính trị, vì làm chính trị ít khi
người ta dành lại tình cảm cho bạn bè và
đôi khi cũng không còn tình cảm cho
thân nhân của họ nữa”.
Tay phải ông gỡ kiếng cận xuống và tay
trái ông cầm miếng nỉ lau, đó là thói
quen mỗi khi ông suy nghĩ. Mang kiếng vào, ông lại
mời tôi:
- “Chú ăn bánh uống trà
đi”.
- “Vâng. Xin mời Đại Tướng”.
Thái độ của ông làm tôi lúng
túng. Tôi nghĩ, không phải ông ngưng lại để
mời tôi ăn bánh uống trà, mà là
chính ông đang nén lại nỗi xúc động của
ông khi ông đang sống trong góc cạnh
tình cảm. Đại Tướng Khiêm là mẫu người giàu
tình cảm, rất có tình có nghĩa với những
quân nhân mà trước kia cùng đơn vị với
ông cho dù người đó hiện là sĩ quan hay hạ
sĩ quan cũng vậy. Tôi đã nhiều lần chứng kiến hình
ảnh lúc ông niềm nở bắt tay những anh hạ sĩ quan
cùng phục vụ tại Tiểu Đoàn 3 Việt Nam hằng chục năm trước
đó.
Đại Tướng Khiêm tiếp lời:
- “Trung Tướng Khánh đã xử sự với
tôi như chú thấy đó, thật là không
còn chút tình nghĩa gì hết”.
- “Có vài vị Tướng Lãnh nêu thắc mắc với
tôi rằng: “Tại sao Đại Tướng lại im lìm để Trung Tướng
Khánh dùng cả thủ đoạn không tốt với Đại Tướng”.
Riêng tôi, tôi thấy Trung Tướng Khánh
là mẫu người nhiều tham vọng chính trị, chính với
Đại Tướng là người đã góp phần quan trọng đưa
Trung Tướng Khánh lên đến tột đỉnh địa vị ngày nay,
nhưng Trung Tướng Khánh cứ quả quyết Đại Tướng là người
đang tìm cách đẩy ổng ra khỏi những chiếc ghế mà
ổng đang ngồi, thưa Đại Tướng”.
- “Tôi biết chớ chú. Nhưng tranh giành làm
gì!”
Trong phòng trở nên yên lặng.
Một lúc sau:
- “Các sĩ quan do tôi đào
tạo là người có khả năng và là người tốt
nữa. Chắc chắn chú sẽ được các vị khác sử dụng,
và tôi tin là không có gì
khó khăn cho chú đâu. Thôi, ngày mai
tôi đi, chú ở lại mạnh giỏi. Cho tôi gởi lời thăm
thiếm”.
- “Thưa Đại Tướng, tôi chân thành cám ơn Đại
Tướng đã dìu dắt tôi trong 5 năm qua. Tôi
kính chúc Đại Tướng và gia đình được mạnh
khỏe và luôn gặp điều may trên đường lưu vong.
Kính chào Đại Tướng”.
Tôi đứng thẳng người và chào ông một
cách trân trọng như khi tôi chào ông để
nhận chức chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ
Binh năm 1961 vậy. Đại Tướng Khiêm siết chặt tay tôi thật
lâu, và cả hai đều bùi ngùi trong cuộc chia
tay này!
Ngày 7 tháng 10 năm 1964, Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm và gia đình rời Việt Nam Cộng
Hòa trên chuyến bay của Air France đi Paris để “lưu vong”
dưới danh nghĩa thật là vinh dự (!): “Thay mặt chánh phủ
Việt Nam Cộng Hòa sang Anh quốc và Đức quốc, cám
ơn hai quốc gia đồng minh đã và đang giúp Việt Nam
Cộng Hòa chống cộng sản”.
Ngay chiều hôm đó, tôi và
gia đình dọn ra khỏi cư xá trong khuôn viên
bộ Tổng Tư Lệnh, và sẳn sàng nhận lệnh thuyên
chuyển đến đơn vị hay cơ quan nào đó, vì có
bao giờ một chánh văn phòng của ông Tướng thất sũng
lại tiếp tục phục vụ tại đơn vị cũ đâu, nhất là đơn vị cũ
lại là văn phòng Tổng Tư Lệnh.
Trung Tướng Nguyễn Khánh thêm chức
Tổng Tư Lệnh Quân Lực.
Đại Tướng Trần Thiện Khiêm ra đi không
bàn giao chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. Ngày hôm sau, Trung Tướng Nguyễn Khánh
vào nhận thêm chức đó. Có nghĩa là
Trung Tướng Khánh nắm giữ cả 4 chức vụ cao nhất nước: Chủ Tịch
Hội Đồng Quân Lực, Quốc Trưởng bao gồm Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Thủ
Tướng, Tổng Trưởng Quốc Phòng, và Tổng Tư Lệnh Quân
Lực.
Ngay hôm đầu tiên Trung Tướng
Khánh nhận chức, tôi viết “Phiếu Trình”
trình vào Trung Tướng Khánh, xin chỉ định đơn vị
tôi trình diện. Ông phê 3 chữ: “Ở tại chỗ”.
Thế là tôi vẫn ngồi lại văn phòng này nhưng
chưa rõ chức vụ. Xin nói thêm, “Phiếu Trình”
là một loại văn kiện trong hồ sơ tham mưu, sử dụng khi cần
trình một vấn đề gì để xin chỉ thị của cấp trên.
Cũng ngày hôm ấy, tôi thấy
thêm một thủ đoạn của Trung Tướng Khánh. Đó
là hai ngày trước khi Đại Tướng Khiêm lưu vong, văn
phòng tôi có nhận được một “Nghị Định” thiết lập
“quỹ mật” cho ông Tổng Tư Lệnh với số tiền đầu tiên
là 20 triệu đồng (Việt Nam). Phía dưới Nghị Định
có ghi chú “chờ lệnh”. Giới chức thiết lập quỹ là
Trung Tướng Khánh nhân danh Thủ Tướng cấp cho Tổng Tư
Lệnh, và bây giờ chức Tổng Tư Lệnh cũng trong tay Trung
Tướng Khánh. Vậy là, giới chức cấp quỹ với giới chức sử
dụng quỹ, đều là ông. Lúc ấy, hối suất chánh
thức là 35 đồng Việt Nam bằng 1 mỹ kim.
Xin giải thích đôi nét về “quỹ
mật”. Nguyên tắc của quỹ mật là chi tiêu không
cần chứng minh, nhưng giới chức sử dụng phải chịu trách nhiệm
trực tiếp với giới chức cấp quỹ khi giới chức cấp quỹ yêu cầu
chứng minh, nhưng thực tế thì trong những năm qua tôi chưa
thấy yêu cầu này xảy ra lần nào. Xem chừng lấy tiền
trong ngân khố của chánh phủ quá dễ chăng?
Nhưng còn ghê gớm hơn nữa kìa.
Theo lời bà Khiêm nói với tôi rằng, khi
mà gia đình Đại Tướng Khiêm với gia đình
Trung Tướng Khánh không còn coi nhau là bạn
bè thân thiết như trước nữa, bà biết bà
Khánh đã hai lần đưa cho người em làm Tổng
Lãnh Sự Việt Nam Cộng Hòa tại Hong Kong, mỗi lần 500
triệu đồng Việt Nam Cộng Hòa để bán lấy đồng mỹ kim. Ai
mua tiền Việt Nam đó nếu không phải là quân
cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, để mang trở
về mua hàng trên thị trường Việt Nam Cộng Hòa tiếp
tế cho quân của chúng đánh lại quân ta? Sự
thật đến mức nào tôi không rõ, nhưng những
thông tin này là từ bà Khiêm đến
tôi và tôi ghi lại đây là chính
xác.
Xin mở ngoặc để nối tiếp phần trên. Trong tạp
chí Thế Kỷ 21, số 147 tháng 7 năm 2001 phát
hành tại Nam California, có loạt bài “Công
Cuộc Nghiên Cứu Việt Sử Tại Bắc Mỹ” (1975-2000), và
bài số 10 với tựa: “Nhóm Viết Hồi Ký” của
tác giả Trần Anh Tuấn, nói về “Sĩ quan cấp Tá viết
hồi ký”. Dưới đây là vài đoạn trích
từ trong bài này.
“Cấp Tá viết hồi ký khoảng 18 người,
theo thứ tự tên gọi là: Trương Dưỡng, Trần Kim Định, Vương
Văn Đông, Phạm Bá Hoa, Đặng Trần Huân, Đỗ Kiểm, Trần
Khắc Kính, Hoàng Ngọc Liên, Vũ Văn Lộc, Phan Nhật
Nam, Trần Ngọc Nhuận, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Trịnh Tiếu,
Võ Đại Tôn, Trần Đình Trụ, Tạ Tỵ, và
Ngô Văn Xuân”.
“Nói một cách tổng quát, khi
chúng ta rời bỏ thế giới hồi ký của cấp Tướng để đọc hồi
ký của cấp Tá là chúng ta sang một thế giới
khác. Một thế giới của văn nhân. Một đàng
là quyền lực quốc gia, và một đàng là
văn chương nhân bản”.
” …… Về hình thức, nhiều hồi ký cấp
Tá với những áng văn chương trong sáng, chữ
dùng nhiều khi đắc địa, có thể trích làm
bài giảng văn mẫu trong các trung tâm Việt ngữ tại
hải ngoại. Điển hình của hồi ký loại này là
tác phẩm của Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Phạm Bá
Hoa, Đặng Trần Huân, Vũ Văn Lộc, …….”
Sau khi tác giả điểm qua hồi ký của
hai nhà văn Phan Lạc Phúc và Phan Lạc Tiếp, đến
quyển Đôi Dòng Ghi Nhớ của tôi (Phạm Bá Hoa),
tác giả Trần Anh Tuấn viết:
” ….. Hồi ký của cựu Đại Tá Phạm
Bá Hoa có nội dung khác hẳn những hồi ký
vừa kể”. “………. Đây là một hồi ký chính trị,
ghi lại những biến cố trên chính trường Việt Nam Cộng
Hòa từ năm 1963 cho đến ngày 30/4/1975. Giai đoạn lịch sử
này tương ứng với thời gian tác giả đóng vai
trò tuy không có hào quang của một
nhân vật trên mặt nổi, nhưng lại là người sắp xếp
và do đó thấu hiểu những uẩn khúc của hậu trường,
cùng diễn trình của nhiều biến cố có tầm mức lịch
sử ngay từ lúc khởi thủy. Việc ghi nhận này rất thẳng
thắn và thành thật. Ngòi bút Phạm Bá
Hoa can đảm, trung thực, bất vị thân… ”
“Đặc biệt, Đôi Dòng Ghi Nhớ” ghi nhận
sự kiện kinh khủng trong chiến tranh Việt Nam. Đó là
việc, lấy nguồn tin từ bà Trần Thiện Khiêm, tác giả
cho biết bà Nguyễn Khánh đã hai lần đưa cho người
em làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam Cộng Hòa tại Hong
Kong, mỗi lần 500 triệu, tổng cộng một tỷ bạc Việt Nam Cộng Hòa
để đổi lấy đô la. Sau tiết lộ kinh khủng đó, tác
giả Phạm Bá Hoa đặt một câu hỏi chắc như đinh đóng
cột, rằng, “Ai mua tiền Việt Nam trên đất Hong Kong nếu
không phải là Cộng Sản Việt Nam?”. Câu nghi vấn
đó của tác giả Phạm Bá Hoa, nay đã được
phía bên kia kiểm chứng là xác thực. Nếu
muốn, xin độc giả tìm đọc “Đồng Đô La Trong Cuộc
Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước” dựa theo hồi ký của Thăng
Long Huỳnh Bá Việt và những người làm công
tác tài chánh đặc biệt trong chiến tranh với
sự cộng tác của các nhà văn Nguyễn Quang
Sáng, Hiền Phương, Thanh Giang, và Hoàng
Xuân Huy, để biết Ban Kinh Tài Mặt Trận Dân Tộc Giải
Phóng Miền Nam Việt Nam (của cộng sản) đã mua tiền Việt
Nam Cộng Hòa từ đâu để đem về chi phí cho chiến
trường miền Nam….. ”
Sau đoạn nhận xét rất tinh tế của tác
giả về cách dùng chữ của người miền Nam trong khi
có vài chữ tôi dùng chữ của người miền Bắc
để giảm nhẹ ý nghĩa sự tức giận của Trung Tướng Trần Thiện
Khiêm đối với Trung Tướng Dương Văn Minh, tác giả Trần Anh
Tuấn kết luận:
“Điều tác giả Phạm Bá Hoa có
thể yên tâm là, ít nhất có một độc giả
tin ông, tin ở tấm lòng trung cang nghĩa khí của
ông. Đôi Dòng Ghi Nhớ, vì thế, là một
trong rất ít hồi ký chính trị hoàn tất sau
biến cố 30/4/1975 có cơ tồn tại với thời gian. Ông
là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có
tư cách”.
Xin đóng ngoặc, và trở lại văn
phòng Tổng Tư Lệnh.
Trung Tướng Khánh cho giải tán văn
phòng Tổng Tư Lệnh, và tổ chức thành “Nha Đổng
Lý Văn Phòng Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa”. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, được Trung Tướng Khánh
cử giữ chức Đổng Lý Văn Phòng. Lớn ơi là lớn,
nhưng kỳ ơi là kỳ! Dưới quyền Thiếu Tướng Vỹ có:
Thiếu Tá Thịnh, bí thư.
Tôi, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ, với toàn bộ
nhân viên và trách nhiệm của văn phòng
Tổng Tư Lệnh trước đây, ngoại trừ những vấn đề riêng tư của
ông Tổng Tư Lệnh.
Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao
Tiêu- Trưởng Phòng Dân Sự Vụ.
Thiếu Tá Tâm (tôi không nhớ họ), Trưởng
Phòng Báo Chí.
Công tác kế tiếp là Trung Tướng
Khánh giao cho Chuẩn Tướng Phạm Đăng Lân, Chỉ Huy
Trưởng binh chủng Công Binh, đúc bê tông tầng
trên phòng họp số 1 trong tòa nhà
chánh (nơi tạm giữ những vị bị Hội Đồng Quân Nhân
Cách Mạng xem là trung thành với Tổng Thống Diệm
trong cuộc đảo chánh 1/11/1963) để làm văn phòng
mới của Tổng Tư Lệnh. Đồng thời xây cái hầm ngầm ngay
phía dưới phòng họp số 1 để làm hầm trú ẩn
với tiện nghi cần thiết cho bộ chỉ huy hành quân khoảng 30
người. Từ bàn viết của ông Tổng Tư Lệnh nhìn đến
cuối phòng trước mặt, sát góc bên
trái có cầu thang xoáy ốc xuống hầm. Nếu
không phải nhân viên phục vụ nơi đây, phải để
ý lắm mới trông thấy được cái quan trọng của cầu
thang xoáy ốc này. Hầm làm xong từ mặt đất
lên đến nóc là 2.2 thước, chung quanh và cả
nóc hầm được tấn bằng những tấm kim khí thật dày,
lớp đất trên nóc hầm dày đến 1.5 thước. Ngay
trên hầm là một đoạn của con đường vòng đai
bên trong hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa Bộ
Tổng Tư Lệnh với một góc của phi trường Tân Sơn Nhất.
Trong lúc đơn vị Công Binh đang đổ đất lấp nóc hầm
thì Trung Tướng Khánh nói với Chuẩn Tướng Phạm
Đăng Lân, lúc ấy tôi đứng cạnh chờ trình
công văn gấp của Phòng 3:
- “Làm xong hầm này tôi
chấp tất cả phi cơ của “thằng” Kỳ đó”.
Nói xong ông cười khoái
chí, chừng như ông không còn lo ngại Thiếu
Tướng Kỳ đảo chánh ông bằng Không Quân vậy.
Tôi không hiểu câu nói của ông là
thật hay đùa, nhưng cho dù là đùa hay thật
thì tự ông nói lên nỗi lo của ông về sự
chống đối của những đồng đội quanh ông. Nhưng tại sao Trung Tướng
Khánh lại sợ như vậy? Mẫu người nhiều tham vọng với một bụng thủ
đoạn như ông, phải tự hiểu tại sao ông bị cô lập giữa
đồng đội và lúc nào cũng sợ đồng đội của
ông. Qua những hành động của ông từ trong cuộc đảo
chánh ngày 30/01/1964 đến bấy giờ, theo tôi,
ông là vị Tướng có vẻ như mang tham vọng vượt
lên trên tất cả mọi người để trở thành vị
lãnh đạo bậc nhất của Việt Nam Cộng Hòa trong nét
nhìn thán phục của các quốc gia lân bang
trong vùng, và cả Hoa Kỳ nữa. Cái tham vọng của
Trung Tướng Khánh dễ dàng nhận thấy qua 4 chức vụ cao
nhất nước đang trong tay ông: “Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng
Trưởng Quốc Phòng + Tổng Tư Lệnh Quân Lực”. Với 4
chức vụ đó, làm sao biện minh là ông
không có tham vọng? Làm sao biện minh là
ông không độc tài?
Thêm nữa, Trung Tướng Khánh còn
cấp cho Công Binh 10 triệu đồng để xây cái hầm
sâu trong lòng núi đá ngay sau lưng Trường
Thiếu Sinh Quân/Vũng Tàu nữa. Tôi không
rõ những chi tiết về cái hầm này, chỉ được nghe
ông nói trong buổi họp tham mưu của Bộ Tổng Tư Lệnh rằng:
“Trường hợp cuộc chiến dẫn đến sự xâm nhập
của không quân địch thì hầm này là nơi
đặt bản doanh hành quân của Bộ Tổng Tư Lệnh”.
Đến khi trường này chuẩn bị di chuyển để bắt
đầu phá núi xây hầm, cũng là lúc
Trung Tướng Khánh lưu vong nên kế hoạch bị hủy bỏ.
Ngay trước ngày Quốc Khánh đầu
tiên 1/11/1964 -kể từ sau cuộc lật đổ Tổng Thống Ngô
Đình Diệm- Trung Tướng Khánh tấn phong chánh phủ
dân sự do giáo sư Trần Văn Hương làm Thủ Tướng,
và kỹ sư Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng. Quốc Trưởng
là nhà cách mạng quốc gia lão thành,
hoạt động không mệt mỏi, từng vào tù ra khám
vì hoạt động cách mạng, nổi tiếng là trong sạch,
và chống cộng sản một cách triệt để. Thủ Tướng là
nhà giáo kỳ cựu, có tiếng là thanh
liêm, nhiệt tình, chống cộng sản không khoan nhượng,
nhưng có dáng vẻ và phong cách của một
công chức cần mẫn hơn là nhà hoạt động chính
trị. Cả hai vị đều do Trung Tướng Khánh nhân danh Chủ Tịch
Hội Đồng Quân Đội (Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng đã đổi danh xưng là Hội Đồng Quân Đội) đề cử
sau khi tham khảo cơ quan do ông thành lập có
tên gọi “Hội Đồng Dân Quân”.
Dưới nét nhìn nào đó
cho thấy Trung Tướng Khánh muốn dư luận thấy ông giảm bớt
cái hơi hám “độc tài” mà ông
luôn bị cáo giác trong các cuộc mít
tinh biểu tình, và nhất là trong những vị hoạt
động chính trị, nên ông nhường chức Quốc Trưởng
và Thủ Tướng cho hai vị dân sự. Nhưng thật ra, với chức
Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội, ông vẫn tự cho mình
cái chức năng trên Quốc Trưởng chẳng khác
dưới chế độ cộng sản độc tài bao nhiêu.
Dù sao thì chánh phủ dân
sự cũng tô điểm đôi chút cho hình ảnh
chính trị Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, bớt
tính cách năng nổ đầy u ám của một vị võ
tướng cầm quyền có pha chút “hơi hám
quân phiệt” lãnh đạo.
Ngày 1/1/1965, Trung Tướng Khánh
xuống Cần Thơ chủ tọa lễ kỷ niệm “Ngày Quân Đoàn IV
hai tuổi”. Ông nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội
thăng cấp Trung Tướng cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh
Quân Đoàn này.
Trong cuộc đảo chánh 1/11/1963, Đại
Tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh
tham gia tích cực. Đảo chánh thành công,
ngày hôm sau ông được thăng cấp Thiếu Tướng, giữ
chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Chẳng bao lâu sau
đó, ông bàn giao cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên
để nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV/Vùng IV Chiến
Thuật cách nay vài tháng. Nay, ông được
thêm một ngôi sao mỗi bên cầu vai.
Trung Tướng Khánh là người rất
xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác.
Ông thường thăm và khen thưởng tại chỗ về những
thành tích cá nhân cũng như tập thể đơn vị.
Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được lệnh mang theo tất cả hồ sơ
công văn của các phòng trình lên để
ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47
mà Không Quân dành cho ông, có
trang bị bàn viết, giường nằm, tủ lạnh nhỏ, và vài
tiện nghi lặt vặt khác. Thường khi như vậy, ngoài Trung
Tướng Khánh ra, còn có sĩ quan tùy
viên, cận vệ, vài nhân viên an ninh,
vài nhân viên truyền tin, và tôi. Đến
thành phố nào đó là tôi tìm
phi cơ khác của Không Quân Việt Nam, Không
Quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng Không dân sự, để mang
công văn trở về Bộ Tổng Tư Lệnh hoàn lại các
Phòng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn
được quan tâm đúng mức. Đây là nét đặc
biệt của Trung Tướng Nguyễn Khánh mà vị Tổng Tư Lệnh
trước ông là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, và
những vị sau ông là Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng
Nguyễn Hữu Có, và Đại Tướng Cao Văn Viên,
không có. Tôi không dám đoan chắc
đó là điều tốt, nhưng rõ ràng là
ông không để thời gian trống trong nhiệm vụ của ông.
Tôi không biết có phải là
do vụ “Biểu Dương Lực Lượng” ngày 13/09/1964 hoặc vụ đó
chỉ là “giọt nước làm tràn ly nước” hay
không, nhưng từ sau vụ ấy thì Trung Tướng Khánh với
Đại sứ Hoa Kỳ -cựu Tướng Maxwell Taylor- đã bất hòa nhau,
và Trung Tướng Khánh đặt bản doanh Bộ Tổng Tư Lệnh ở
tòa nhà trắng Vũng Tàu. Tòa nhà
này, người dân địa phương thường gọi là “bạch
dinh”. Hằng ngày, tôi dùng phi cơ nhỏ mang
công văn của Bộ Tổng Tư Lệnh từ Sài Gòn ra Vũng
Tàu trình ông, xong là quay về Sài
Gòn. Ngày hai buổi sáng chiều, tôi đi đều
đều như vậy. Đôi khi có công văn gấp, tôi phải
đi ngay dù là ngày chủ nhật hay nghỉ lễ. Thường
thì tôi sử dụng chiếc phi cơ L20 do anh bạn cùng
khóa với tôi lái. Anh Nguyễn Xuân Lễ, sau khi
ra trường thời gian ngắn thì anh chuyển sang Không
Quân. Hiện (2006) anh định cư tại Houston.
Trong một chuyến bay trên chiếc vận tải C7
(Caribou) từ Vũng Tàu về Sài Gòn, bị quân
cộng sản bắn lên và Đại Úy Long ngồi cạnh tôi
bị trúng đạn xuyên từ dưới mông lên vai,
và chết liền. Không biết chúng bắn bao nhiêu
viên đạn nhưng chỉ có 1 viên trúng phi cơ
và đã gây tử thương một sĩ quan mới tái ngũ
vài tháng trước đó, và đang phục vụ tại Bộ
Tổng Tư Lệnh. Hôm ấy, chiếc L20 tu bổ, tôi ôm
công văn quá giang chiếc L19 ra Vũng Tàu, và
lại quá giang chiếc C7 nói trên trở về Sài
Gòn.
Quí vị nghĩ xem, ông Tổng Tư Lệnh giận
ông Đại Sứ của nước “chi tiền”, dời văn phòng xa hơn trăm
cây số, để lại đằng sau cả một bộ tham mưu đầu não của
quân đội hơn 600 ngàn người đang từng giờ chiến đấu chống
cộng sản. Cho nên có những việc mà vị Trưởng
Phòng cần trình bày trực tiếp với vị Tổng Tư Lệnh
cũng chỉ dùng điện thoại mà điện thoại thì
không hoàn toàn bảo mật được! Phải chăng Trung
Tướng Khánh là vị lãnh đạo quốc gia xem
chính trường như sân khấu? Đồng ý chính
trường cũng là một loại sân khấu, nhưng nền tảng của
sân khấu là nghệ thuật dựng lại những góc cạnh của
cuộc sống, trong khi chính trường là nơi thể hiện
tài năng, kinh nghiệm, bản lãnh, của người lãnh
đạo xây dựng cuộc sống đó. Sở dĩ tôi nói đến
“sân khấu” là vì trong năm 1964, nhiều báo
chí tại Sài Gòn nói Trung Tướng
Khánh có giòng máu nghệ sĩ.
Xin mở ngoặc. Trong cuộc đàm thoại tối
ngày 21/10/2003, cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm từ
Virginia nói với tôi liên quan đến đoạn trên
đây, như sau:
- “Chú có biết tại sao ông
Khánh với ông Taylor giận nhau hông?”
- “Dạ không”.
- “Tại vì ông Khánh chửi ông Taylor (Đại Sứ
Hoa Kỳ) về vụ ông Đức (Trung Tướng Dương Văn Đức) biểu dương lực
lượng đó. Ông Khánh nói với tôi như
vậy sau khi ổng bị đuổi khỏi Việt Nam qua Hoa Kỳ ở với tôi mấy
ngày”.
Xin đóng ngoặc lại.
Ngày 16/02/1965, Trung Tướng Khánh ra
phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, điều mà ít khi xảy
ra. Sau khi phi cơ lên đến độ cao để trực chỉ Qui Nhơn, ông
ngưng tay duyệt công văn và quay sang tôi:
- “Tôi vừa thành lập xong
chánh phủ”.
- “Thủ Tướng Trần Văn Hương còn không, thưa Trung Tướng?
- “Bác sĩ Phan Huy Quát thay ông Hương rồi. Với
tôi thì mọi việc chẳng có gì khó khăn
cả”.
Nụ cười của ông lúc bấy giờ nếu cựu
Thủ Tướng Hương trông thấy chắc là dễ tức lắm cho
dù giáo sư Hương có tiếng là người trầm
tỉnh. Tôi không rõ nguyên nhân thay đổi
Thủ Tướng, chỉ nghe Trung Tướng Khánh nói rằng:
- “Trong giai đoạn này mà
làm mất lòng tôn giáo thì không
thể chấp nhận được”.
Ông là Trung Tướng, với chức Chủ Tịch
Hội Đồng Quân Đội, “đã” ngang nhiên chỉ định Thủ
Tướng trong khi Quốc Trưởng vẫn tại chức, lại còn tự cho
mình là người giải quyết công việc quốc gia nhanh
chóng nữa!
Đến Qui Nhơn, không có phi cơ về
Sài Gòn nên tôi phải ở lại. Tình
hình quân sự tại tỉnh Bình Định ngày
càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi người
phải ngủ tại hầm chiến đấu. Tôi sang Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận ngủ
nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ Huy này. Lúc ấy, Tỉnh Trưởng
Bình Định là Trung Tá Lê Trung Tường. Thiếu
Tá Trương Bảy là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận.
(Về sau, Trung Tá Tường là Chuẩn Tướng quân đội,
Thiếu Tá Bảy là Chuẩn Tướng Cảnh Sát).
Sáng hôm sau, cả đoàn
dùng trực thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư
Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt mà Chuẩn Tướng Đoàn Văn Quảng
là Tư Lệnh, Trung Tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô,
nơi mà hôm trước Hải Quân và Không
Quân Việt Nam Cộng Hòa đã bắn chìm chiếc
tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài
bắc xâm nhập vào. Nói cho đúng, chiếc
tàu này bị Hạm Đội 7 Hoa Kỳ phát hiện và
liên tục theo dõi, đến khi vào duyên hải Việt
Nam Cộng Hòa thì họ báo cho Bộ Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa biết. Kết quả là
tàu địch bị đánh chìm. Khi trực thăng lượn nhiều
vòng trên không phận Vũng Rô, tôi
nhìn thấy dòng chảy của nhiên liệu từ chiếc
tàu chìm phía dưới loang dài trên mặt
biển. Lực lượng Người Nhái của Hải Quân Việt Nam Cộng
Hòa đang trục vớt vũ khí lên tàu, trong khi
lực lượng của Quân Đoàn II đang hành quân lục
soát trong khu vực núi Đá Bia, lân cận Vũng
Rô. Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Quân
Đoàn II tin rằng, trong khu vực này có thể
có kho tồn trữ của quân cộng sản. Chỉ trong ngày
17/2/1965, cả hai lực lượng thu được hơn 1000 khẩu súng đủ loại,
tất cả hoàn toàn mới nguyên được bao bọc trong giấy
dầu cẩn thận.
Theo nhận định của Phòng Nhì/Bộ Tổng
Tư Lệnh, hơn một năm qua, với những bất ổn chính trị trong nội
tình Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, quân cộng
sản miền bắc đã lợi dụng “khoảng trống an toàn” đó
để gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí
đạn dược vào lãnh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc
dãy Trường Sơn và đường thủy dọc duyên hải từ bắc
vào. Những lần trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở
cửa sông Bồ Đề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba
Động tỉnh Vỉnh Bình (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô
này là lần thứ 3 tịch thu được số lượng vũ khí
quan trọng .
Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc đảo
chánh thành công, với một Thông Điệp quan
trọng, Trung Tướng Khánh chánh thức lên tiếng
kêu gọi các quốc gia đồng minh giúp Việt Nam Cộng
Hòa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều mà
Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không làm
theo ý muốn của Hoa Kỳ. Nhưng liệu có phải Thông
Điệp mà Trung Tướng Khánh tuyên đọc là do
Hoa Kỳ trao cho ông hay chánh phủ của ông chủ động
viết bản văn đó? Nhìn theo góc độ quân sự,
cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện “chiến lược Domino” bằng
cách thiết lập các căn cứ quân sự trên đất
nước chúng ta hay không thì sự hiện diện của
quân bộ chiến Hoa Kỳ, trong một mức độ nào đó thật
sự là cần thiết.
Trong khi áp lực quân sự từ
phía quân cộng sản ngày càng xấu đi
thì tình tình chính trị tại thủ đô
Sài Gòn vẫn trong tình trạng rối ren. Tuy
là Quốc Trưởng với Thủ Tướng đều là dân sự, nhưng
thực chất thì quyền hành vẫn trong tay Trung Tướng
Khánh. Các nhà chính trị vẫn thường tổ chức
những cuộc hội họp mít tinh nhằm tạo áp lực đòi
Trung Tướng Khánh rút lui thật sự, vì vậy
mà Trung Tướng Khánh luôn luôn lo sợ một
ngày “xấu trời” nào đó ông sẽ bị đảo
chánh bởi lực lượng quân sự. Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm đã lưu vong từ tháng 10/1964, và Trung
Tướng Dương Văn Minh cũng lên đường lưu vong 2 tháng sau
đó, nhưng điều đó không có nghĩa là
“họa đảo chánh” không còn.
Chương Bốn
Đảo Chánh ngày 19
tháng 2 năm 1965
Sáng sớm chủ nhật, 19
tháng 2 năm 1965, tiếng súng nổ ở hướng Bộ Tư Lệnh Biệt
Khu Thủ Đô, hướng căn cứ Không Quân Tân Sơn
Nhất, và hướng Bộ Tổng Tư Lệnh. Tôi lái xe xuống
Biệt Khu Thủ Đô vì gần nhà. Đường Lê văn
Duyệt từ Chợ Ông Tạ đến “trại Lê Văn Duyệt” (tức Bộ Tư Lệnh
Biệt Khu Thủ Đô) phải hơn nửa tiếng đồng hồ vì kẹt xe. Đến
cổng trại, tôi gặp ngay Thiếu Tá Lưu Ngọc Kỉnh -bạn
tôi từ năm 1955- đang là Tiểu Đoàn Trưởng thuộc Sư
Đoàn 25 Bộ Binh, có nhiệm vụ chiếm giữ Bộ Tư Lệnh Biệt
Khu Thủ Đô:
- “Chào anh Kỉnh. Ông nào
lãnh đạo vậy anh?
- “Anh Hoa, lâu quá mới gặp. Thiếu Tướng Phát
(Lâm Văn Phát) lãnh đạo đó”.
- “Bây giờ Thiếu Tướng đi với cánh quân nào
anh biết không?
- “Thiếu Tướng lên hướng căn cứ Không Quân và
tôi đoán là ổng đang ở trên đó”.
- “Tôi nghe có tiếng súng bên hướng Bộ Tổng
Tư Lệnh. Vậy bên đó có lực lượng nào
không anh?
- “Có. Trung Tá Thao với 2 Tiểu Đoàn chiếm giữ
bên đó. Nè, anh nói giùm với Trung
Tá Thao là tôi đến đây rồi mà chưa
có lệnh gì thêm, với lại không có tiếp
tế thực phẩm cho anh em. Anh nói Trung Tá Thao liên
lạc với tôi và đem tiếp tế đến đây giùm nghe”.
- “Sao anh không gọi máy nói chuyện với ảnh?
- “Lệnh im lặng vô tuyến chưa giải toả nên không
dùng máy. Thôi, anh đi giùm đi”.
- “Được rồi. Tôi sang Bộ Tổng Tư Lệnh ngay. Chào anh”.
Chiếc Jeep phải lách mãi mới quay lại được đường Thoại
Ngọc Hầu và chạy sang Bộ Tổng Tư Lệnh. Tại cổng số 1, Quân
Cảnh Bộ Tổng Tư Lệnh kiểm soát chặt chẻ người lẫn và xe
ra vào cổng. Bên trong, hầu hết là quân
nhân mang phù hiệu Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Trước cửa
văn phòng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi gặp
Trung Tá Lê Hoàng Thao.
Đầu năm 1962, anh là Thiếu Tá Tỉnh
Trưởng tỉnh Vỉnh Bình trong thời gian Đại Tá Trần Thiện
Khiêm, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu
Chiến Thuật Hậu Giang bao gồm 8 tỉnh bờ nam sông Tiền, kể cả tỉnh
Vỉnh Bình. Lúc ấy tôi là Chánh Văn
Phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, kiêm điều
hành văn phòng Ấp Chiến Lược của Khu Chiến Thuật Hậu
Giang. Do công tác này mà tôi tiếp
xúc thường xuyên với quí vị Tỉnh Trưởng đang trắc
nghiệm Ấp Chiến Lược, từ đó chúng tôi quen nhau.
- “Anh Thao. Hôm nay trông anh oai
quá”.
- “Oai cái gì. Mệt quá trời đây nè”.
- “Anh Kỉnh cần liên lạc với anh và xin anh lo tiếp tế cho
Tiểu Đoàn của ảnh bên Biệt Khu Thủ Đô đó”.
- “Giờ này làm sao tôi lo được, bên đó
phải tự túc chớ. Được rồi, tôi sẽ gọi ảnh”.
- “Thiếu Tướng Phát ở đâu anh Thao?
- “Bên căn cứ Không Quân. Ổng bắt được ông
Khánh rồi (ý nói Trung Tướng Nguyễn Khánh).
Tôi cho anh biết là có ông Thảo bên Mỹ
về làm vụ này đó nghe. Xong là “sếp” về
ngay”.
“Sếp” mà Trung Tá Thao vừa nói
có nghĩa là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đang
là Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Còn
ông Thảo, tức Trung Tá Phạm Ngọc Thảo. Trước kia ông
Thảo bên hàng ngũ cộng sản về “hồi chánh” thời Tổng
Thống Diệm. Với mức độ tin cậy nào đó, Tổng Thống Diệm
đồng hóa cấp Đại Úy cho ông và cử ông
giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre), một địa phương
mà đa số đồng bào có thân nhân hoạt
động trong hàng ngũ cộng sản. Do thành tích triệt
hạ nhiều hạ tầng cơ sở cộng sản tại đây nên được tiến cấp
Thiếu Tá, sau đó lại lên Trung Tá (cấp đồng
hóa khi được thăng cấp gọi là “tiến cấp”), và do
đề nghị của Trung Tá Thảo mà Thiếu Tá Thao được
Tổng Thống cử giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Vỉnh Bình.
Trung Tá Thảo có vẻ như được
lòng của Đại Tá Khiêm, có thể vì
ông được Tổng Thống Diệm nâng đỡ, cũng có thể do
thành tích của Trung Tá Thảo tại Kiến Hòa,
hoặc cả hai kết hợp lại. Nhưng có điều tôi không
rõ là Đại Tá Khiêm có cảm tình
với Trung Tá Thảo là thật lòng hay vì yếu
tố chính trị? Bởi, theo tôi, Đại Tá Khiêm
là người ít nói nhưng không phải là
kém thận trọng, vì dù sao đi nữa thì những
gì Trung Tá Phạm Ngọc Thảo đạt được trong thời gian qua,
vẫn chưa đủ sức bôi xóa được nguồn gốc quá khứ của
ông, để tạo cho ông chỗ đứng vững chắc trong Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa.
Trung Tá Thảo đang làm việc trong
tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Do những điều
tôi biết về Đại Tướng Khiêm đến trước ngày ông
lưu vong (7/10/1964) thì tôi không tin Đại Tướng
Khiêm phái Trung Tá Thảo về đây tổ chức đảo
chánh. Nhưng có thể là nhận thức của tôi sai
lầm, vì biết đâu quan điểm chính trị của Đại Tướng
Khiêm từ ngày lưu vong đến nay -dù chưa đầy 5
tháng- đã thay đổi? Dù sao thì Trung
Tá Phạm Ngọc Thảo -theo lời Trung Tá Thao- cũng đang
có mặt trong cuộc đảo chánh này vẫn làm
tôi thắc mắc.
Đến đây tôi xin mở ngoặc để thuật lại
câu chuyện liên quan giữa tôi với cựu Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm tối 21 tháng 10 năm
2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi tiết trong cuộc đảo
chánh này, tôi liền hỏi lại ông: (trong
câu chuyện, cựu Đại Tướng Khiêm xưng là anh Tư
và ông gọi tôi là chú, tôi
thì xưng em)
- “Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong vụ
Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2
năm 1965, theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao
nói với em là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo từ
tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ về tham gia, dự
trù khi thành công thì anh Tư về cầm quyền.
Điều đó có đúng không anh Tư?
- “Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh mới biết là tại sao
lúc đó mấy anh nhà báo của Mỹ nhất
là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. “Họ hỏi Anh biết
gì về cuộc đảo chánh đó? Anh trả lời là Anh
không biết gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt Nam.
Còn cái vụ ông Thảo về Việt Nam là do
ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh) gởi công
điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói
khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được người
nào đó cho biết là ông Khánh
đã phái người chận bắt ông Thảo đem đi giết,
nên người đó giúp ông Thảo chạy trốn
luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được
và giết chết”.
- “Vậy thì lời của Trung Tá Lê Hoàng Thao
đã không đúng”.
Và cựu Đại Tướng Khiêm hỏi lại
tôi:
- “Chú có biết là tại sao
ông Phát (Thiếu Tướng Phát) đảo chánh
ông Khánh (Trung Tướng Khánh) bị thất bại,
mà ông Khánh lại lưu vong hông? Ông
Phát thua thì phải rồi, còn ông Khánh
tại sao thua? Hồi ông Khánh qua ở đây với Anh (Đại
Tướng Khánh có đến nhà Đại Tướng Khiêm khi
ông Khiêm giữ chức Đại Sứ tại Hoa Kỳ), Anh có hỏi
ổng:
- “Tại sao ông Phát thua mà Anh cũng thua nữa?
Ông Khánh cười cười mà không trả lời.
- “Điều này em không biết rõ, chỉ biết rằng Hội
Đồng Quân Đội lúc ấy có Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi,
và còn nữa nhưng người kể lại cho em nghe thì
không nhớ hết, các vị quyết định Thiếu Tướng Phát
phải lui quân. Và các vị lại họp tiếp và
quyết định trục xuất Trung Tướng Khánh ra khỏi Hội Đồng
Quân Đội, cách chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, và buộc lưu vong”.
- “Anh có gặp Thiếu Tướng Phát khi ổng qua Mỹ này,
Anh hỏi ổng tại sao ổng đảo chánh hồi năm 1965. Ông
Phát trả lời thật ngắn là “Mỹ xúi”. Anh thấy
chuyện đời mà buồn! Chú có biết là Anh (tức
cựu Đại Tướng Khiêm), ông Khánh, ông Đức
(Dương Văn), và ông Phát, bốn đứa Anh cùng
học một khoá không? Vậy mà khi lên Tướng lại
quay mặt đánh nhau! Chú có thấy chính trị
nó làm mất tình cảm giữa anh em bè bạn với
nhau không!
- “Thưa anh Tư, em còn nhớ vào chiều ngày 6
tháng 10 năm 1964, khi chuẩn bị lưu vong, anh Tư gọi em đến
nhà, anh đích thân đem bánh rót nước
trà mời em. Anh Tư có nói rằng: “Tôi
nói với chú cũng như mấy chú trong văn
phòng, nếu như còn thương tôi thì đừng bao
giờ làm chính trị, vì chính trị đôi
khi dẫn người ta đến chỗ không còn giữ lại cho mình
tình cảm với người thân, với bạn bè bằng hữu”.
Mà theo em nghĩ, chính trị tự nó không
có gì là xấu cả, chỉ tại người làm
chính trị thôi anh Tư”.
Đến đây thì cựu Đại Tướng Khiêm bận việc gì
gấp nên chấm dứt vội vàng. Một lúc sau ông
gọi lại cho biết là có việc nên không tiếp
tục được. Xin đóng ngoặc.
Trước khi trở lại câu chuyện giữa tôi
với Trung Tá Lê Hoàng Thao, tôi xin
nói thêm về sự kiện Trung Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt
và bị giết. Ngày 18 tháng 1 năm 2004, đài
Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại do ông Hồng Phúc phỏng
vấn tôi về cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm
1964, nhưng ở phần đầu người xướng ngôn có đọc bức thư của
ông Bùi Dzũng từ Paris (con trai của cựu Đại Tá
Bùi Dzinh). Theo đó thì khoảng tháng 7 năm
1965, Trung Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt và bị giết chết sau
đó. Theo một vị đã trả lời trong cuộc phỏng vấn cũng của
đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại, nguyên nhân
là do bà Bùi Dzinh thường tới lui thăm nuôi
chồng nên bị lộ tung tích. Lúc ấy cựu Đại Tá
Bùi Dzinh, cựu Đại Tá Đỗ Văn Diễn, và Trung
Tá Phạm Ngọc Thảo, cùng trốn chung trong một ngôi
nhà vùng ngoại ô Biên Hòa. Ông
Dzũng cho biết, thật ra người đến thăm thường xuyên là
bà Đỗ Văn Diễn nên bị lộ tung tích chớ không
phải bà Bùi Dzinh, tức mẹ của ông Dzũng. Cuối
cùng, ông Dzũng yêu cầu đính chánh để
mẹ ông được yên nghỉ trong lòng đất. (So với ấn bản
lần 3, xin đính chánh theo yêu cầu của ông
Bùi Dzũng, ông không phải là bác sĩ.
Đa tạ)
Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện.
Tôi hỏi Trung Tá Lê Hoàng Thao:
- “Anh có chắc là Trung Tướng
Khánh bị bắt rồi không?
- “Chắc chắn mà. Nói thiệt anh nghe, nếu không xong
thì 2 trái lựu đạn này đủ giải quyết rồi anh”.
Trung Tá Thao vừa nói vừa đưa 2 tay
nắm vào 2 trái lựu đạn móc ở giây thắt lưng.
Mặc dù anh Thao quả quyết việc Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát đã bắt được Trung Tướng Nguyễn Khánh nhưng
tôi chưa dám tin, vì bắt Trung Tướng Khánh
không phải dễ dàng đâu, bởi ông có
toán an ninh cận vệ xứng đáng với sự tin cậy của
ông.
Tôi lên xe với ý định xuống
nhà Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Đổng lý Văn Phòng
Bộ Tổng Tư Lệnh. Vừa ra cổng Bộ Tổng Tư Lệnh, trông thấy xe của
bác sĩ Trung Úy Nguyễn Đức Thành (em ruột của
Thiếu Tướng Nguyễn Đức Thắng. Cấp bậc lúc ấy), bác sĩ
riêng của Trung Tướng Khánh, từ hướng phi trường xuống,
tôi ngoắc lại:
- “Anh Thành. Anh có biết Trung
Tướng ở đâu không?
- “Trung Tướng lên phi cơ đi rồi Thiếu Tá”.
- “Chắc không anh, vì tôi nghe ông Trung
Đoàn Trưởng đang chiếm giữ Bộ Tổng Tư Lệnh nói là
Trung Tướng bị bắt rồi?
- “Chắc chắn vì tôi đưa đi mà. Lúc phi cơ
cất cánh có 2 chiếc Thiết Giáp chạy ra đường băng
cản lại nhưng không kịp”.
- “Trung Tướng đi đâu anh biết không?
- “Tôi không rõ lắm, nhưng có thể là
bay xuống Sư Đoàn 21 Bộ Binh (Bạc Liêu)”.
- “Bây giờ tôi xuống nhà Thiếu Tướng Vỹ, anh
có đi với tôi không?
- “Tôi bận chút việc, nếu tiện thì tôi đến
sau”.
- “Vâng. Chào anh”.
Vào nhà Thiếu Tướng Vỹ, hai ông bà rất thản
nhiên chừng như không có việc gì xảy ra hết
trơn.
- “Lâu quá mới gặp anh. Anh chị
mạnh khỏe chớ? Bà Vỹ thật vui khi nói với tôi
như vậy.
- “Cám ơn chị, tụi tôi vẫn thường
thôi”.
- “Hôm nay anh ở đây dùng cơm với vợ chồng tôi
à nghe. Đây này, anh điện thoại về cho chị đi”.
Vừa nói chị vừa đưa ống nói điện thoại cho tôi.
- “Rất cám ơn chị và xin lỗi chị,
chúng tôi có thân nhân từ Vĩnh Long
lên thăm, nên chốc nữa phải quay về dùng cơm trưa
chị à”.
Tôi vào chuyện nóng bỏng luôn:
- “Thưa Thiếu Tướng, chắc Thiếu Tướng biết tin
Trung Tướng Khánh đã xuống miền Tây rồi?
- “Có. Tôi có biết”.
Lúc ấy tôi nghĩ mãi không ra là do
đâu mà Thiếu Tướng Vỹ biết nhanh như vậy. Tôi thuật
lại những gì tôi với bác sĩ Thành nói
chuyện với nhau cho ông bà Vỹ nghe, sau đó
tôi chào ông bà và trở lại Bộ Tổng Tư
Lệnh, tìm gặp Trung Tá Thao:
- “Anh Thao, Trung Tướng Khánh đã
rời Sài Gòn bằng phi cơ lúc sáng, điều
đó là xác thực. Tôi nghĩ là anh
nên trình với Thiếu Tướng Phát mà cẩn thận,
vì Trung Tướng Khánh nhiều thủ đoạn lắm, tôi e
là không ổn đâu nghe”.
- “Thiếu Tướng Phát nói với tôi là bắt
ông Khánh rồi mà”.
- “Tôi không nói Thiếu Tướng Phát nói
không đúng, nhưng anh nên nghe tôi vì
tin tôi nhận được là chính xác. Tùy
anh”.
Tôi vào văn phòng và chờ
xem nội vụ mà tôi tin là thất bại. Buổi trưa
hôm ấy, các vị Tướng Lãnh họp trong căn cứ
Không Quân để tìm biện pháp giải quyết.
Các vị nhiệt tình nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Thiếu Tướng Nguyễn
Chánh Thi. Kết quả buộc Thiếu Tướng Lâm Văn Phát
phải rút quân.
Tôi nghĩ, Trung Tướng Khánh chắc
là rất bằng lòng khi biết quyết định này,
vì Hội Đồng Quân Đội thu hẹp dù không
có ông nhưng đã giải quyết đúng theo
ý ông. Nhưng, các vị Tướng lại họp nữa, và
kết quả sau cùng là “trục xuất” Trung Tướng Khánh
ra khỏi Hội Đồng Quân Đội, đồng thời buộc ông phải lưu vong.
Xin nói thêm rằng, sau cuộc Chỉnh
Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, Thiếu Tướng Thi với
Thiếu Tướng Kỳ là hai vị Tướng Lãnh ủng hộ Trung Tướng
Khánh mạnh mẽ nhất, vì cả 3 vị này có
cùng quan điểm là phải đánh ra Bắc mới giải quyết
tận gốc chiến tranh. Mở cuộc chiến tranh vào lãnh thổ
cộng sản miền Bắc là một quyết định chiến lược ngoài tầm
tay và cả tầm vói của những vị lãnh đạo của
chúng ta cho dù các vị đang nắm quyền lãnh
đạo. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta được Hoa
Kỳ cung cấp trang bị cho một khả năng phòng thủ, mà chỉ
là phòng thủ diện địa chớ không có khả năng
chống không quân của địch nữa. Với hoàn cảnh
“trói tay” như vậy, quan niệm đánh ra Bắc chỉ là
một chiến lược không tưởng, dù rằng quan niệm này
không phải là quá sớm. Nhưng dù sao
thì những vị Tướng của chúng ta có một quan niệm
chiến lược như vậy cũng là điều đáng mừng, vì bộc
lộ một trách nhiệm cao độ trong chiến tranh gìn giữ
quê hương.
Khi biết mình bị loại ra khỏi Hội Đồng
Quân Đội, Trung Tướng Khánh gọi về văn phòng:
- “Anh Hoa, anh tìm xem ông Đại Sứ
Mỹ ở điện thoại nào và trình tôi ngay”.
- “Trung Tướng đang ở đâu vậy?
- “Vũng Tàu”.
- “Vâng. Tôi thi hành”.
Sau khi tìm mãi không được,
tôi điện thoại trình Thiếu Tướng Vỹ thì ông
cho biết là Trung Tướng Khánh vừa liên lạc với
ông Đại Sứ Mỹ rồi. Và theo Thiếu Tướng Vỹ biết thì
ông Đại Sứ cho rằng, người Mỹ không can thiệp vào
vấn đề chính trị nội bộ của Việt Nam Cộng Hòa. Điều
này được hiểu là Trung Tướng Khánh không
còn lối nào để thoát. Vậy là con đường lưu
vong mà Trung Tướng Khánh thiết lập cho Đại Tướng
Khiêm “khánh thành”, kế đó là Trung
Tướng Dương Văn Minh trong chức “đại sứ lưu động”, và bây
giờ chính ông là người lữ hành đơn độc
trên con đường mà chính ông chỉ muốn
dành riêng cho những vị Tướng mà ông xem như
“kẻ thù”. Tôi nghĩ, Trung Tướng Khánh không
ngờ rằng, tên ông cũng có trong danh sách
những vị một thời là “nạn nhân quyền lực” của chính
ông!
Xin mở ngoặc để ghi lại lời thuật của anh Võ
Văn Nghi, vào một tối cuối tháng 11 năm 2003 tại
thành phố Houston. Anh là bạn tôi, và anh
đồng ý cho tôi bổ túc vào ấn bản lần 4
này.
Anh Võ Văn Nghi, tốt nghiệp khóa 10
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt năm 1954. Cấp
bậc sau cùng (năm 1975) là Thiếu Tá, binh chủng
Truyền Tin. Năm 1964, anh là Đại Úy Tiểu Đoàn
Phó Tiểu Đoàn Truyền Tin/Bộ Tổng Tư Lệnh. Anh được cử
vào chức vụ Sĩ Quan Truyền Tin/Phủ Thủ Tướng, với nhiệm vụ
chính là cung cấp mọi dịch vụ liên lạc vô
tuyến khi tháp tùng theo Trung Tướng Nguyễn Khánh.
Cùng trong toán Truyền Tin lưu động với anh còn
có Đại Úy Lê Văn Hòa. Anh Nghi với anh
Hòa, luân phiên nhau trực đi theo Trung Tướng
Khánh. Ngoài Đại Úy Nghi hoặc Đại Úy
Hòa tùy phiên trực, trong toán Truyền Tin
lưu động này còn có một Trung Sĩ và một Hạ
Sĩ chuyên viên sử dụng máy WM2.
Giải thích của Phạm Bá Hoa:
Ngày 1/11/1964, Trung Tướng Khánh đã tấn phong
chánh phủ Trần Văn Hương, sau đó là chánh
phủ Phan Huy Quát. Như vậy, Trung Tướng Khánh không
còn ngồi trong Phủ Thủ Tướng nữa, nhưng theo lời anh Nghi
thì Trung Tướng Khánh vẫn sử dụng bộ phận Truyền Tin của
Phủ Thủ Tướng, vì cơ quan này có trang bị
máy vô tuyến WM2, loại máy liên lạc được với
tất cả các cơ quan hành chánh cũng như tất cả
các đơn vị quân đội trên toàn quốc. Do vậy
mà anh Nghi thuộc đơn vị Truyền Tin/Phủ Thủ Tướng. Điều
này cũng được hiểu là khi bàn giao chức vụ Thủ
Tướng, Trung Tướng Khánh vẫn giữ nguyên toán truyền
tin đặc biệt và lưu động này theo ông, như
là toán biệt phái đặc biệt. Hết phần giải
thích.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965, khi lực
lượng Sư Đoàn 25 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát điều động xâm nhập tiến chiếm một số cơ quan trọng
yếu trong thủ đô Sài Gòn, thì anh Nghi đang
bận việc ngoài phố dù là anh đang trong
phiên trực, vì vậy mà anh không kịp đi theo
Trung Tướng Khánh khi ông dùng phi cơ C47
dành riêng cho ông để thoát khỏi Sài
Gòn. Sau đó, toán Truyền Tin của anh bên
cạnh Trung Tướng Khánh báo tin cho anh hay, lúc ấy
Trung Tướng Khánh đã đến Vũng Tàu. Và
đây là lời của cựu Thiếu Tá Võ Văn Nghi:
”Nghe nhân viên báo tin,
tôi vội dùng xe Jeep với bảng số dân sự chạy ra Vũng
Tàu. Đến nơi, thì phi cơ cất cánh đi nữa rồi nhưng
chưa rõ đi đâu. Tôi quay về Sài Gòn.
May quá, được tin từ toán Truyền Tin lưu động cho biết
là Trung Tướng Khánh sẽ đến Biên Hòa họp với
các vị Tướng Lãnh ở đó. Tôi chạy lên
Biên Hòa, lúc ấy Trung Tướng Khánh chưa đến.
Thiếu Tướng Kỳ trông thấy tôi, ổng nói:
- “Giờ này mà anh còn đi
theo ông Khánh làm gì nữa”.
Ngưng một lúc để moi thêm trí
nhớ, anh Nghi nói tiếp:
“Trung Tướng Khánh đến. Vào
phòng họp, nhưng tôi không được vô. Một
lúc sau, anh cận vệ bước ra nói với tôi là
Thiếu Tướng Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ) với Thiếu Tướng Thi (Nguyễn Chánh
Thi) muốn Trung Tướng Khánh từ chức liền, nhưng Trung Tướng
Khánh không đồng ý vì ông cho rằng, vụ
chiếc tàu của cộng sản chở vũ khí đạn dược xâm nhập
Việt Nam Cộng Hòa bị đánh chìm tại Rũng Rô
(tỉnh Khánh Hòa, ngày 16/2/1965), đang là
vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu để có biện
pháp thích ứng với tình hình. Sau
đó, Trung Tướng Khánh ra sân bay. Lên phi cơ.
Tôi đi theo. Trung Tướng Khánh ra lệnh Đại Úy
Đoàn, trưởng phi hành đoàn, bay ra Vũng Tàu
(giải thích của Phạm Bá Hoa: từ đây, Trung Tướng
Khánh gọi về văn phòng bảo tôi tìm ông
Đại Sứ Hoa Kỳ cho ông liên lạc như tôi đã
thuật ở trên).
Anh Nghi thuật tiếp:
“Khoảng giữa đêm, Trung Tướng Khánh ra
lệnh tất cả lên phi cơ, cất cánh ra Nha Trang. Trước khi
đáp xuống Nha Trang, ổng bảo tôi gọi cho ổng nói
chuyện với ông Tư Lệnh Sư Đoàn 25 Bộ Binh (dường như
là Thiếu Tướng Lữ Lan). Tôi liên lạc được, nhưng khi
trao ống nói cho Trung Tướng Khánh thì đầu
máy bên kia không nói nữa. Lúc ấy phi
cơ đáp phi trường Nha Trang. Trung Tướng Khánh và
tùy tùng xuống phi cơ thì bị một toán
Không Quân võ trang bao vây. Trung Tướng
Khánh chưa có phản ứng gì thì Thượng Sĩ
Ngàn trong phi hành đoàn, dõng dạc
nói với toán Không Quân rằng: “Đây
là chuyện của những vị Tướng Lãnh, mấy chú
không được hành động gì với Trung Tướng
(Khánh) cả”. Thế là toán Không Quân
giải tán. Thật sự thì tôi không biết Thượng
Sĩ Ngàn là người như thế nào trong Không
Quân mà lời nói của ổng được toán quân
nhân võ trang này nghe theo, nếu không
thì tôi cũng chưa biết việc gì xảy ra nữa”.
Ngưng một lúc, anh Nghi thuật tiếp:
“Trung Tướng Khánh bảo tôi liên
lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ để ổng nói chuyện. Tôi
liên lạc được với Thiếu Tướng Kỳ và xin ổng chờ nói
chuyện với Trung Tướng Khánh, nhưng khi tôi trao ống
nói cho Trung Tướng Khánh thì Thiếu Tướng Kỳ
không nói nữa. Giống như trường hợp liên lạc với
Thiếu Tướng Lữ Lan (?). Như vậy có lẽ là trung ương
đã thông báo cho các đại đơn vị rồi,
ít ra cũng là Sư Đoàn 25 Bộ Binh tại Quảng
Ngãi (giải thích của Phạm Bá Hoa: lúc
thành lập, Sư Đoàn 25 Bộ Binh đồn trú tại Quảng
Ngãi, về sau di chuyển vào Củ Chi, Hậu Nghĩa). Khoảng 2
giờ sáng (ngày 20/2/1965), Trung Tướng Khánh ra
lệnh mọi người lên phi cơ và cất cánh lên
Đà Lạt. Căn cứ Không Quân Nha Trang không cho
phi cơ cất cánh, nhưng Trung Tướng Khánh bảo cứ cất
cánh, và phi cơ rời khỏi đường băng an toàn. Đại
Úy Đoàn, trưởng phi cơ báo cáo có
hai chiếc khu trục AD6 đã cất cánh từ Sài
Gòn ra, có thể là họ đuổi theo chiếc phi cơ
này. Trung Tướng Khánh bảo tắt đèn và bay
thấp, đổi hướng đi Hong Kong. Nhưng vài phút sau
đó, Trung Tướng Khánh bảo quay lại và bay
lên Đà Lạt, đừng đáp Liên Khàng
mà đáp sân bay Cam Ly (giải thích của Phạm
Bá Hoa: Cam Ly là phi trường nhỏ, sát ngoại
ô thành phố Đà Lạt). Phi cơ bay không
đèn, sân bay cũng không đèn, cũng may
là trời có trăng nên đáp an toàn.
Tôi gọi mấy anh trong biệt điện đem xe dodge ra đón một
cách lặng lẽ. Trung Tướng Khánh cho Đại Úy
Đoàn 20.000 đồng như để khen thưởng anh điều khiễn phi cơ
đáp an toàn trong đêm tối, rồi ông bảo mọi
người nghỉ ngơi.
Tôi hỏi anh Nghi:
- “Theo anh thì liệu có giới chức
nào ở Đà Lạt biết Trung Tướng Khánh đến đây
không?
- “Tôi chắc là không ai biết đâu. Khoảng 10
giờ 30 trưa, anh Truyền Tin gọi tôi dậy vì Trung Tướng
Khánh bảo tôi vào phòng gặp ông gấp,
và ông ra lệnh: Anh (Đại Úy Võ Văn Nghi)
thảo công điện gởi về Sài Gòn và phổ biến
ngay, nói là tôi đồng ý thoái vị.
Đồng thời yêu cầu các đơn vị đảo chánh hãy
trở về vị trí”.
Tôi xin anh dừng lại để nêu câu
hỏi cho rõ:
- “Anh có nhớ rõ là Trung
Tướng Khánh nói thoái vị hay nói từ chức?
Anh Nghi lặp lại:
“Trung Tướng Khánh nói
thoái vị. Lúc ấy tôi thấy khó quá,
vì đây là bản văn rất quan trọng mà ổng bảo
tôi viết rồi gởi luôn. Tôi trình Trung Tướng
Khánh:
“Xin Trung Tướng viết và tôi chuyển ngay”.
“Anh viết là được rồi”. Lời của Trung Tướng Khánh.
“Dạ, tôi viết rồi trình Trung Tướng ký”.
“Không cần. Viết xong anh chuyển đi ngay”.
“Viết xong tôi gọi về Truyền Tin Phủ Thủ Tướng và đọc
“bạch văn” luôn.
Tôi yêu cầu phổ biến ngay trên
các đài phát thanh. Sau đó thì Trung
Tướng Khánh trở về Sài Gòn. Ông có
yêu cầu Bộ Tổng Tư Lệnh phải để cho các quân
nhân phục vụ trực tiếp cạnh ông lâu nay, được
chọn đơn vị phục vụ. Và tôi trở về chức vụ Tiểu
Đoàn Phó Tiểu Đoàn Truyền Tin/Tổng Tư Lệnh”.
Đến đây là hết phần tường thuật của
cựu Thiếu Tá Võ Văn Nghi. Xin đóng ngoặc và
trở lại với Hội Đồng Quân Đội.
Lời yêu cầu sau cùng của Trung Tướng
Khánh là xin Hội Đồng Quân Đội cử ông giữ
chức Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Tây Ban Nha, Hội Đồng
Quân Đội không đồng ý. Nhưng theo lời trình
của Hội Đồng Quân Đội, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu ký Sắc
Lệnh thăng cấp Đại Tướng cho Trung Tướng Nguyễn Khánh. Phải
chăng đây là hành động của Hội Đồng Quân Đội
an ủi Đại Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong?
Dường như Đại Tướng Khánh “suy bụng ta ra
bụng người” khi ông xin chức Đại Sứ, vì biện pháp
mà ông loại trừ Đại Tướng Trần Thiện Khiêm với Trung
Tướng Dương Văn Minh là ông cử đi làm “Đại Sứ lưu
động” là xong. Một chức vụ tưởng như thưởng nhưng thật ra
là phạt. Chức “Đại Sứ lưu động” là một chức vụ nghe rất
lớn vì không phải chỉ làm Đại Sứ tại một quốc gia
mà là nhiều quốc gia, chỉ tội một điều là
không có tòa đại sứ, không xe không
nhà, cũng không tùy tùng hay cận vệ, bởi
chức vụ này chỉ dành cho những vị Tướng sa cơ thất thế!
Cũng vì vậy mà báo chí thường nửa
đùa nửa thật khi ví von câu: “được làm vua,
thua làm đại sứ”. Trong nửa năm qua (1964) sự thật là như
vậy, nhưng sự thật này đã hạ thấp vai trò
và trách nhiệm của những vị Đại Sứ Việt Nam Cộng
Hòa trên chính trường quốc tế, và làm
đau lòng những ai hằng quan tâm đến Quốc Gia Dân Tộc!
Ngày 25 tháng 2 năm 1965, Đại Tướng
Nguyễn Khánh rời Việt Nam tự đi làm “đại sứ lưu động” ở
đâu đó. Trước khi lên phi cơ, Đại Tướng Khánh
thể hiện “lòng yêu nước thương dân” của ông
bằng cách hốt nắm đất cho vào cái túi nhỏ
mà ông gọi là “nắm đất quê hương” để mang
theo trên đường “nhậm chức đại sứ”. Đến đây xem như xong
màn bi hài kịch của một nghệ sĩ trình diễn. Nhưng
khổ nỗi, nếu như nghệ sĩ tồi thì chỉ những khán giả thiệt
hại về tiền bạc, về công sức, về thời gian, còn trường hợp
Đại Tướng Khánh trong 4 chức vụ lãnh đạo cao nhất với
những quyền uy tột đỉnh của đất nước Việt Nam: Quốc Trưởng + Thủ Tướng
+ Tổng Trưởng Quốc Phòng + Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, ông đã gây tổn hại tinh thần, tổn
hại nền nếp kỹ cương của quân đội, tổn hại uy tín quốc gia
trên chính trường quốc tế, kể cả kẻ thù từ quốc gia
phía bắc vĩ tuyến 17!
Theo tôi, giá mà Đại Tướng
Nguyễn Khánh giữ những chức vụ lãnh đạo quân đội,
điều binh khiễn tướng ở chiến trường thì thích hợp với
ông hơn là nắm giữ chức vụ lãnh đạo quốc gia. Thật
ra, Đại Tướng Khánh có phong cách và
cái uy của vị Tướng xông pha trận mạc. Trong cách
nhìn nào đó sau khi để qua một bên về
khía cạnh chính trị và những gì thuộc về
riêng tư, Đại Tướng Nguyễn Khánh, Đại Tướng Cao Văn
Viên, và cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí, mỗi vị có
cách riêng của mình trong nghệ thuật lãnh
đạo chiến tranh, và cả ba vị đều là Tướng Lãnh rất
xứng hợp trong vai trò lãnh đạo và chỉ huy
quân đội trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Tiếc thay, chỉ hơn một năm cầm đủ thứ quyền trong
tay, Đại Tướng Khánh đã làm rối loạn nền nếp sinh
hoạt chính trị lẫn kỷ cương quân đội. Phải công nhận
Đại Tướng Khánh làm được nhiều việc, nhưng cái cốt
lõi của vai trò lãnh đạo là đem lại sự
đoàn kết mọi thành phần trong xã hội thành
một khối để toàn dân một lòng gìn giữ
quê hương, thì kết quả ngược lại. Liệu chúng ta
có nên qui một phần trách nhiệm tinh thần cho Đại
Tướng Trần Thiện Khiêm khi đưa Đại Tướng Nguyễn Khánh từ
Tư Lệnh Quân Đoàn I lên đến chức vụ lãnh đạo
quốc gia hay không, cho dẫu sự tiếp tay đó là
vô tình đã tạo môi trường và cơ hội
cho Đại Tướng Khánh thực hiện tham vọng chính trị? Nhưng
nghĩ cho cùng, Đại Tướng Khiêm đã bị Đại Tướng
Khánh bạc đãi đến mức hận thù rồi, không
nên đè nặng lên tinh thần ông thêm nữa.
Xin nói thêm là cuối năm 1965,
tôi nhận được bức thư dài 8 trang viết tay của Bà
Trần Thiện Khiêm, 8 trang nhưng không có nghĩa
là bức thư dài vì chữ viết của Bà rất to
rất dễ đọc. Có đoạn Bà cho biết, dù đối xử
không tốt với gia đình Bà, nhưng Đại Tướng
Khánh cùng với Trung Tướng Đỗ Cao Trí, (đã
tử nạn trực thăng trong cuộc hành quân vượt biên năm
1970) đã đến Washington D.C. sống trong gia đình
Bà hằng tháng trời dù Bà không mời,
khi Bà viết câu: “khách không mời mà
vẫn cứ đến cứ ở”.
Hội Đồng Quân Đội cử Trung Tướng Trần Văn
Minh giữ chức Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa. (Trung Tướng Minh nói ở đây không phải
Trung Tướng Trần văn Minh sau này là Tư Lệnh Không
Quân). Chức vụ đứng đầu quân đội hơn 600 ngàn
quân, một lần nữa không có ai bàn giao cho
người nhận chức. Không quốc kỳ, không quân kỳ,
không vị nào chủ tọa, cũng không sĩ quan nào
tham dự, chỉ mỗi Trung Tướng Minh và vài sĩ quan
thân cận vào nhận việc một cách lặng lẽ! Bộ Tổng Tư
Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà “xuống
giá” đến mức thảm thương như vậy đó! Thảm thương đến mức
không bằng buổi bàn giao chức vụ Trung Đội Trưởng bộ binh
khi tôi tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức nữa, vì
dù sao cũng có Trung Úy Đại Đội Trưởng của
tôi -Trung Úy Nguyễn Văn Thảo- chủ tọa giao nhận
đàng hoàng, có bắt tay chúc mừng thân
mật, và cùng nâng chén nước trà
bên bụi chuối tại khu vực hành quân trong
vùng hẻo lánh thuộc Quận Tam Bình tỉnh Vĩnh Long
vào thượng tuần tháng 2 năm 1955.
Đây là lần thứ tư thay đổi chức vụ
đứng đầu quân đội mà không có bàn
giao. Lần thứ nhất ngay sau ngày lật đổ Tổng Thống Ngô
Đình Diệm thành công, Trung Tướng Trần Văn
Đôn nhận chức ngày 2 tháng 11 năm 1963, lúc
ấy Đại Tướng Lê Văn Tỵ nằm quân y viện. Lần thứ nhì,
Trung Tướng Trần Thiện Khiêm nhận chức ngày 30
tháng 1 năm 1964, lúc ấy Trung Tướng Trần Văn Đôn
đã bị bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức
ngày 7 tháng 10 năm 1964, lúc bấy giờ Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm vừa rời Việt Nam lưu vong.
Trung Tướng Minh không thay đổi tổ chức cũng
như nhân viên văn phòng, ngoại trừ Đổng Lý
Văn Phòng và Bí Thư của ông. Rất có
thể vì chức vụ của ông có chữ “Quyền” đứng trước
có nghĩa là “tạm thời”, nên ông không
thay đổi gì cả, và ông cũng không hề thăm bất
cứ một đơn vị nào, thậm chí ngay cả các
Phòng của Bộ Tổng Tư Lệnh cũng không được ông
ghé mắt vào nữa. Nhưng tại văn phòng, Trung Tướng
Minh giải quyết công việc tương đối nhanh chóng và
dứt khoát. Phải công nhận là ông xử sự với
tất cả quân nhân viên chức rất lịch sự. Không
bao giờ ông gọi anh này anh kia, mà bao giờ
ông cũng dùng tiếng “vous” (tiếng Pháp) bất luận
trước mặt ông là anh tùy phái hay vị sĩ quan.
Tôi không rõ thời oanh liệt của
Trung Tướng Minh ra sao, nhưng trong chức vụ Quyền Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông không
khác vị công chức sắp về hưu bao nhiêu, cứ như
“sáng vác ô đi tối vác về” đều đặn như vậy
trong mấy tháng ngồi trong phòng rộng lớn chính
giữa tầng lầu 2 tòa nhà chánh của trại Trần Hưng
Đạo.
Bên phải bàn giấy của ông
là những cửa kiến nhìn xuống võ đình trường
rộng lớn uy nghi, với cột cờ cao vời vợi mà trên đỉnh
là lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ tung bay trong
gió. Cũng từ đây nhìn bao quát là
những dãy nhà 2 tầng với kiến trúc khang trang
mang dáng vấp phương Tây, dùng làm
các phòng sở cơ quan trực thuộc ẩn hiện dưới những
tán cây nhiều bóng mát, tô điểm
thêm những nét chấm phá cho bản doanh cơ quan cao
nhất của quân đội: “Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa”. Một cơ quan có đến 2.000 quân nhân
viên chức, trong số có rất nhiều Tướng Lãnh
và sĩ quan cao cấp. Chính nơi đây, những vấn đề
chiến lược chiến thuật được các phòng sở cơ quan
nghiên cứu, soạn thảo, ban hành về tổ chức, trang bị, huấn
luyện, nuôi dưỡng, và điều khiễn hành quân
chống trả quân cộng sản xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa
trong mục tiêu chiến lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản
trên toàn thế giới nói chung, và Việt Nam
Cộng Hòa trong bối cảnh một Đông Nam Á cộng sản
nói riêng. Nhưng không biết là Trung Tướng
Minh có khi nào đứng bên cửa sổ nhìn bao
quát khuôn viên trại Trần Hưng Đạo này, để
mà thấy rõ trách nhiệm của người có đủ tư
cách và quyền uy ngồi vào chiếc ghế Tổng Tư Lệnh
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?
Chức vụ Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa của Trung Tướng Trần Văn Minh, kéo dài
đến một ngày tính ra chỉ được gần 4 tháng ….
Chương sáu
Khủng Hoảng Chính Trị
ngày 9 tháng 3 năm 1966
Đầu tháng 3 năm 1966,
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- và Trung Tướng Cao Văn
Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- ra Đà Nẳng duyệt lại
tình hình Quân Đoàn I. Sau chuyến đi,
bà Viên nói với tôi đại ý rằng:
“Nói là duyệt lại tình
hình chớ thật ra là tìm cách giải quyết
những bất đồng giữa Thiếu Tướng Kỳ với Trung Tướng Thi về một số vấn
đề, nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được gì
hết. Trước khi lên phi cơ rời Đà Nẳng trở về Sài
Gòn, Trung Tướng Thi đến bắt tay rồi vòng tay ôm
Trung Tướng Viên, mà không hề nói gì
với Thiếu Tướng Kỳ, làm như chỉ có Trung Tướng Viên
trong chuyến đi này. Thiếu Tướng Kỳ là người dễ
nóng giận, nhưng lúc bấy giờ ông im lặng, đứng
nhìn, xem như không nghe không thấy Trung Tướng Thi”.
Một số vấn đề mà bà Viên
nói đến, báo chí tại Sài Gòn cũng
đã nói đến, và trong một chừng mực nào
đó, được xem là Trung Tướng Thi chống đối Chánh
Phủ.
Với thái độ im lặng của Thiếu Tướng Kỳ tại
phi trường Đà Nẳng, không có nghĩa là
ông chịu thua Trung Tướng Thi đâu! Và đây
là hành động thể hiện thái độ đó của Thiếu
Tướng Kỳ. . .
Cách chức Trung Tướng Thi.
Ngày 08 năm tháng 03 năm 1966, buổi
họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn
Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có,
Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn
Chánh Thi. Buổi họp có mục đích giải quyết trực
tiếp vụ Trung Tướng Thi đã nhiều lần tỏ ra chống lại lệnh của
trung ương.
Tôi nói thu hẹp, vì Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia đầy đủ gồm 11 vị, nhưng buổi họp hôm nay
chỉ có 4 vị thuộc trung ương nhưng lại không có vị
Tổng Thư Ký, mà lại có vị Tư Lệnh Quân
Đoàn I kiêm Đại Biểu Chánh Phủ Miền Trung.
Có thể nói đây là buổi họp thu hẹp đặc biệt.
Địa điểm họp là văn phòng cũ
dành cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng, hiện đang trống. Trung Tướng
Viên dặn tôi trước khi ông vào phòng
họp:
- “Đây là họp tối mật, chỉ khi
nào cần thì tôi gọi chú. Bất cứ ai
khác đều không được vào”.
- “Vâng, tôi hiểu”.
Đúng là tôi hiểu mục
đích của buổi họp, vì chiều hôm qua, Trung Tướng
Viên có nói với tôi tuy là không
nói rõ. Đến 1 giờ trưa, Trung Tướng Viên bước ra
với nét mặt đầy ưu tư:
- “Chú lo ăn trưa ngay và mang
vào ăn tại chỗ”.
- “Sớm lắm cũng phải 40 phút, vì phải xuống nhà
hàng Thanh Thế thưa Trung Tướng”.
- “Thì xong lúc nào mang vào lúc ấy”.
- “Vâng”.
Tôi nhờ Đại Úy Có xuống
nhà hàng Thanh Thế (gần chợ Sài Gòn) mua
ngay 15 phần ăn trưa đựng trong hộp, chỉ có vậy mới nhanh
thôi. Tuy có 5 vị họp nhưng tôi phải mua 15 phần,
vì mỗi vị Tướng đều có sĩ quan tùy viên
và cận vệ đi theo.
Khi mang thức ăn vào, tôi trông
thấy không một vị nào có nét mặt cũng như
dáng vẻ bình thường hay vui tươi như những buổi họp quan
trọng trước đó, điều này cho phép tôi suy
đoán là vấn đề cần giải quyết, chẳng những chưa đạt được
mà trái lại có thể càng trở nên rắc
rối hơn.
Từ lúc bắt đầu họp cho đến lúc chấm
dứt khi trời tối hẳn, không một vị nào bước ra
ngoài, ngoại trừ trường hợp Trung Tướng Viên bảo tôi
lo ăn trưa. Với nét mặt đăm chiêu qua những nếp nhăn
trên vầng trán của các vị, tôi đoán
là cả ngày họp chẳng đạt được kết quả nào.
Riêng Trung Tướng Thi có vẻ như tức giận thì phải.
Trước khi ra về, Trung Tướng Viên hỏi
tôi về công tác chuẩn bị cho ông thăm Sư
Đoàn 2 Bộ Binh tại Quảng Ngãi và Sư Đoàn 23
Bộ Binh tại Ban Mê Thuột vào ngày mai
9 tháng 3 năm 1966.
- “Thưa Trung Tướng, mọi việc tôi
đã chuẩn bị xong”.
Chuyện thế này. Buổi sáng, ngay khi
đến văn phòng, ông gọi tôi:
- “Ngày mai, chú tổ chức cho
tôi ra Quảng Ngãi gắn huy chương cho Sư Đoàn 2. Sau
đó lên Ban Mê Thuột gắn huy chương cho Sư
Đoàn 23. Cơm trưa tại đây. Lúc 1 giờ trưa, rời Ban
Mê Thuột về Sài Gòn. Có gì trở ngại
chú trình tôi ngay”.
- “Có cần sĩ quan Tổng Quản Trị tháp tùng
không, thưa Trung Tướng?
- “Không cần. Chú giao cho chú Có là
được”.
Chương trình của Trung Tướng Viên, tôi đã
liên lạc với Không Quân cung cấp phi cơ, cất
cánh lúc 7 giờ sáng tại bãi đậu VIP, theo
không trình Sài Gòn-Quảng Ngãi-Ban
Mê Thuột-Sài Gòn. Cũng đã thu xếp chương
trình với Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 23 Bộ Binh
xong lúc sáng. Bây giờ chỉ cần xác nhận giờ
là xong. Tôi điện thoại ra Quảng Ngãi xin tiếp
chuyện với Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm:
- “Tôi Phạm Bá Hoa, thưa Chuẩn
Tướng. Ngày mai, Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng sẽ đến phi
trường Quảng Ngãi khoảng 8 giờ 45. Không có sĩ quan
cao cấp nào tháp tùng. Sau khi dự thuyết
trình tại bộ tham Sư Đoàn và trao gắn huy chương
xong, Trung Tướng sẽ rời Quảng Ngãi lên Ban Mê Thuột
chớ không dùng cơm trưa theo ý kiến của Chuẩn
Tướng. Xin được xác nhận điều này với Chuẩn Tướng”.
- “Anh trình với Trung Tướng, Sư Đoàn có tiệc
trà sau khi gắn huy chương, nếu vậy tôi sẽ mời Trung Tướng
dùng tiệc trà trong khi thuyết trình. Nếu
có gì khác, anh cho ông Tham Mưu Trưởng của
tôi biết hỉ”.
- “Nếu tôi không điện thoại lại có nghĩa là
Trung Tướng đồng ý, thưa Chuẩn Tướng”.
Tôi điện thoại lên Ban Mê Thuột
gặp ngay Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh (?), Tư Lệnh Sư Đoàn 23
Bộ Binh:
- “Thưa Chuẩn Tướng, xin xác nhận về
chương trình ngày mai. Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng
sẽ từ Quảng Ngãi đến Ban Mê Thuột khoảng 11 giờ. Giờ
chính xác tôi sẽ xác nhận kịp thời. Sau lễ
gắn huy chương và dùng cơm trưa tại Sư Đoàn, Trung
Tướng sẽ rời Ban Mê Thuột lúc 1 giờ để về Sài
Gòn kịp buổi họp với MACV, thưa Chuẩn Tướng”. (MACV, dịch
sang Việt ngữ là Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại
Việt Nam Cộng Hòa).
- “Nếu có gì khác, anh gọi
tôi ngay nghe anh Hoa. Này, có bao nhiêu sĩ
quan tháp tùng với Trung Tướng?
- “Dạ không có vị nào cả, ngoài sĩ quan
tùy viên của Trung Tướng, thưa Chuẩn Tướng”.
Sau khi công tác chuẩn bị chuyến đi
ngày mai của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng được xác
nhận với các nơi liên hệ, tôi ra về. Lúc ấy
chẳng còn ai trong tòa nhà chánh
ngoài sĩ quan trực và nhân viên an ninh. Vừa
về đến nhà thì chuông điện thoại reo:
- “Trung Tá Hoa tôi nghe”.
- “Chú liên lạc tìm Trung Tướng Thi (Nguyễn
Chánh Thi) và mời ông ấy ngày mai
cùng đi chung phi cơ với tôi ra Quảng Ngãi,
còn phi cơ của Trung Tướng Thi chờ tại Quảng Ngãi để
đón ông Thi ra Đà Nẳng sau khi lễ xong. Phi cơ cất
cánh tại Sài Gòn lúc 6 giờ sáng chớ
không phải 7 giờ. Chú rõ chưa?
- “Thưa Trung Tướng, tôi nghe rõ”.
Tôi liên lạc và chuyển được lời
mời của Trung Tướng Viên đến Trung Tướng Thi đang có mặt
tại nhà ông ở đường Gia Long, và được Trung Tướng
Thi chấp nhận dễ dàng. Tiếp đến là liên lạc
với Bộ Tư Lệnh Không Quân xác nhận lại giờ cất
cánh và không trình chuyến bay. Lại phải cấp
tốc liên lạc xác nhận với Chuẩn Tướng Lãm (Quảng
Ngãi) và Chuẩn Tướng Cảnh (Ban Mê Thuột).
Lúc 5 giờ sáng ngày 9/3/1966,
điện thoại reo vang:
- “Trung Tá Hoa tôi nghe”.
- “Chú tìm xem Trung Tướng Có ở đâu
và cho tôi biết ngay”.
- “Vâng”.
Đó là lệnh của Trung Tướng Tổng Tham
Mưu Trưởng. Tôi điện thoại đến tư dinh Trung Tướng Có
trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu, nghe tiếng phụ nữ:
- “Chào bà. Tôi là
Trung Tá Hoa. Xin bà vui lòng cho tôi tiếp
chuyện với Trung Tướng”.
- “Nhà tôi lên xe đi rồi anh Hoa”.
- “Dạ, cám ơn bà”.
Tôi điện thoại đến toán gác
cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, được biết xe của Trung Tướng Có
đã ra cổng và quẹo lên hướng phi trường Tân
Sơn Nhất. Tôi gọi lên phòng VIP trong phi trường:
- “Tôi, Trung Tá Hoa. Xin lỗi
có Trung Tướng Tổng Trưởng Quốc Phòng ở đó
không à?
- “Tôi đây anh Hoa. Có việc gì không?
- “Dạ, Trung Tướng Viên bảo tôi tìm biết Trung Tướng
ở đâu thì trình lại Trung Tướng Viên chớ
không có gì, thưa Trung Tướng”.
Sau đó tôi trình Trung Tướng
Viên. Và ông ra lệnh:
- “Chú vào văn phòng ngay,
báo cho các nơi hủy bỏ chuyến đi của tôi ra Quảng
Ngãi với Ban Mê Thuột. Yêu cầu hai vị Tư Lệnh trao
gắn huy chương cho các quân nhân trực thuộc,
vì tôi bận vào giờ chót”.
- “Vâng. Chào Trung Tướng”.
Trời hãy còn tối. Sĩ quan trực cũng như các
nhân viên an ninh tòa nhà chánh, trong
mấy năm gần đây đã quen với những trường hợp đèn
đuốc sáng choang trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng,
nên không ai tò mò lên văn phòng
tôi. Tôi gọi Đại Úy Có và chính
anh gọi các nhân viên trực thuộc vào văn
phòng làm việc. Sau khi liên lạc xong với Bộ Chỉ
Huy Không Chiến, với Chuẩn Tướng Hoàng Xuân
Lãm và Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh xác nhận
lệnh của Trung Tướng Viên, nghe tiếng xe bên dưới tôi
đến cửa sổ nhìn xuống lầu thấy xe Trung Tướng Viên
vừa ngừng ở thềm tầng trệt. Trung Tướng Viên vào một
lúc thì xe của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, rồi xe của
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đến. Cả hai vị, một cách im lặng,
lần lượt vào phòng Trung Tướng Viên. Rồi Trung
Tướng Viên vào phòng tôi ra lệnh có vẻ
vội vàng:
- “Chú xuống lầu đón Trung Tướng
Có và Trung Tướng Thi, hướng dẫn vào phòng
họp hôm qua. Chỉ một mình Trung Tướng Thi vào
đó thôi, sĩ quan tùy viên và cận vệ
của Trung Tướng Thi ngồi ở phòng chú và chú
trách nhiệm”.
Tôi xuống lầu. Trời vẫn chưa sáng. Xe
Trung Tướng Nguyễn Hữu Có dừng trên thềm tầng trệt, trong
khi sĩ quan tùy viên chưa mở cửa xe thì toán
cận vệ của Trung Tướng Có từ xe Jeep phía sau nhảy xuống,
súng cầm tay trong tư thế sẳn sàng sử dụng. Trung Tướng
Nguyễn Chánh Thi xuống xe, toán cận vệ kèm hai
bên, và sau lưng Trung Tướng Thi một khoảng ngắn là
Trung Tướng Có.
Đến đây thì tôi hiểu việc
gì đang xảy ra.
Trung Tướng Có bảo tôi đi trước, như là dẫn đường
lên phòng họp hôm qua. Ông nói khẽ:
- “Vào xong, anh khóa cửa lại
và cho Quân Cảnh gác cẩn thận”.
- “Vâng”.
Tôi nói riêng với Đại Úy Có:
- “Anh thay tôi trách nhiệm canh
giữ anh tùy viên với cận vệ của Trung Tướng Thi nghe. Lệnh
của Trung Tướng đó. Tốt hơn hết là mình “ngăn cản
khéo” không cho các anh ấy đi đâu hết, ngoại
trừ vào phòng vệ sinh thì bảo Quân Cảnh giữ
Đại Úy Có hơi ngập ngừng một
chút vì chưa biết nguyên nhân nhưng anh
không hỏi, vì chúng tôi đã qui ước với
nhau rằng, nếu một bên không nói thì
bên kia không hỏi và hiểu rằng đó là
lệnh mật.
Vẫn chưa đến giờ làm việc. Trung Tướng
Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Viên, cùng
vào phòng họp, mà trong đó đã
có Trung Tướng Thi, cũng là Đại Biểu Chánh Phủ tại
Miền Trung.
Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau đó, tôi
vào trình Trung Tướng Viên về vấn đề ăn
sáng. Đây là tôi cố tình vào
và sự cố tình này cũng có lý của
nó, vì lúc ấy gần 9 giờ (sáng) mà
các vị chưa ăn sáng. Trước đây, thỉnh thoảng
có những buổi họp đặc biệt trước giờ điểm tâm, các
vị thường gọi tôi vào lo các phần ăn sáng.
Tôi nghe các vị nói chen kẻ và qua đó
tôi hiểu phần nào mục đích của các vị thuộc
trung ương, nhằm thuyết phục Trung Tướng Thi chấp nhận giải pháp
sang Hoa Kỳ chữa bệnh một thời gian, nhưng Trung Tướng Thi không
đồng ý. Âm thanh của Trung Tướng Thi rất rõ
ràng và không kém phần mạnh mẽ, cho
phép suy đoán là ông không dễ
dàng chịu áp lực của bốn vị Tướng đứng đầu chánh
phủ và quân đội.
Trong khi các vị ăn trưa ngay trong
phòng họp, tất cả các sĩ quan tùy viên
và cận vệ của các vị cũng đang dùng bữa tại
phòng tôi. Sĩ quan tùy viên của Trung Tướng
Thi nói với tôi là anh cần về nhà Trung
Tướng Thi có việc cần, tôi mời anh ngồi xuống và
tiếp tục ăn trưa:
- “Anh thông cảm cho tôi nghe.
Cái nghiệp chánh văn phòng và tùy
viên của tụi mình là không có quyền ra
lệnh cho ai hết, mà chỉ có nhận lệnh và chuyển
lệnh thôi. Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng dặn tôi
là tất cả các bạn không nên rời khỏi
đây cho đến khi các vị họp xong. Vậy, mời anh hãy
tự nhiên với chúng tôi như lúc nào.
Thông cảm nghe anh”.
Tôi nghĩ, anh tùy viên muốn ra
khỏi đây để báo về nhà Trung Tướng Thi và
báo ra Đà Nẳng cho Quân Đoàn biết
tình trạng của Trung Tướng Thi, vì rõ ràng
là Trung Tướng Thi “bị cưỡng bách” trước mắt anh chớ
không phải đến đây để họp như ngày hôm qua.
Cuối cùng cũng không đạt kết quả,
nên Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp quyết định “quản
thúc” Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại
câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản
thúc tại nhà ông với sự canh giữ của An Ninh
Quân Đội và Quân Cảnh.
Lúc bấy giờ là buổi chiều, trong
phòng làm việc của Trung Tướng Viên, cả 4 vị Tướng
đều mệt mỏi với nét mặt đăm chiêu, và trong nhiều
phút không vị nào lên tiếng, chừng như mỗi vị
có cách nghĩ riêng của mình thì phải?
Riêng Trung Tướng Thiệu, mặt ông hơi đỏ lên với những
giọt mồ hôi lấm tấm hai bên thái dương mặc dù
ông vừa từ phòng lạnh bên kia sang phòng lạnh
này, chứng tỏ là không khí buổi họp rất căng
thẳng. Trước khi ra về, Trung Tướng Viên tạt vào
phòng tôi:
- “Chú mời “Đại Hội Đồng Quân Lực”
họp lúc 10 giờ sáng mai (10/3/1966). Không mời Tư
Lệnh Sư Đoàn 1 (Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, tại Huế)
và Sư Đoàn 2 (Chuẩn Tướng Hoàng Xuân
Lãm, tại Quảng Ngãi). Lý do sẽ cho biết khi họp”.
- “Phòng họp nào, thưa Trung Tướng?
- “Bên phòng họp số 2”.
- “Vâng”.
Đại Hội Đồng Quân Lực có 36 vị, gồm:
Tất cả các vị trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia. Các
vị Tướng Lãnh. Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp,
Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Vận,
và Biệt Động Quân. Các vị Tư Lệnh Quân Chủng,
Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Tư Lệnh Lực
Lượng Đặc Biệt, đều là Tướng Lãnh, đương nhiên
trong thành phần trên rồi. Mỗi lần mời họp đều sử dụng
điện thoại, và phải mời các vị ở xa trước để quí
vị ấy kịp chuẩn bị phương tiện về Sài Gòn, sau đó
mới mời các vị trong Quân Trấn Sài Gòn
và lân cận.
Mời xong, chưa kịp thu xếp ra về. Lúc ấy
màn đêm xuống khá lâu, điện thoại lại reo:
- “Trung Tá Hoa tôi nghe”.
- “Chú mời xong chưa?
- “Dạ vừa xong, thưa Trung Tướng”.
- “Chú xác nhận lại với các vị là họp
lúc 8 giờ sáng, tức sớm hơn 2 tiếng đồng hồ. Chú
ráng làm ngay trong đêm nay”.
- “Vâng. Tôi sẽ lần lượt xác nhận lại, thưa Trung
Tướng”.
Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Trung
Tướng Viên, tôi cứ tưởng sẽ nhận được lời khen của
ông, nào ngờ chẳng khen mà lại nhận thêm
công tác. Vậy là bắt đầu làm lại. Và
cứ theo “bổn cũ” mà làm. Mãi đến gần nửa đêm
mới rời văn phòng!
Ngày 10 tháng 3 năm 1966. Tại
phòng họp số 2, còn có tên là
“Tân Sinh Nông Thôn” trong tòa nhà trệt
bên kia đường, xéo về bên phải của tòa
nhà chánh, Đại Hội Đồng Quân Lực họp dưới sự chủ
tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia.
Vào phòng họp, tôi cảm nhận
ngay bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt, vì tất cả
các vị đều im lặng. Tuy khi mời không nêu lý
do nhưng giữa các vị chắc đã có liên lạc
nhau trước nên cũng hiểu được tại sao có buổi họp đặc biệt
này. Tôi nhận ra điều này là do vài
vị nói chuyện với nhau trước khi vào phòng họp.
Mở đầu, Trung Tướng Thiệu tuyên bố lý
do. Tiếp đến là Thiếu Tướng Kỳ, rồi Trung Tướng Có,
liên tục nêu những lời phát biểu cũng như những
hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian qua, đã lạm
quyền trung ương và chống lại trung ương chẳng khác
tình trạng “một sứ quân” hay là “một chánh
phủ trong một chánh phủ”. Thiếu Tướng Kỳ và Trung Tướng
Có nói nhiều nhất, nói hăng nhất. Đúng ra
là hai vị luân phiên “hài tội” Trung Tướng
Thi nhưng Trung Tướng Thi đang bị quản thúc tại nhà
ông, nghĩa là không có mặt trong phòng
họp. Những điều mà các vị nêu lên về lời
tuyên bố cũng như hành động của Trung Tướng Thi, trước
đây báo chí đã đăng tải khi những sự kiện
đó xảy ra. Chẳng hạn như Trung Tướng Thi nhân danh Đại
Biểu Chánh Phủ, đã ấn định giá biểu từ Huế
vào Sài Gòn cho chi nhánh Hàng
Không Việt Nam tại Huế và Đà Nẳng. Theo
giá biểu này thì thấp nhiều so với giá biểu
do Tổng Nha Hàng Không Việt Nam qui định. Đến chuyện Trung
Tướng Thi tự ý bổ nhiệm Thiếu Tá Nghĩa (dường như
là họ Nguyễn) vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng
Tín, sau khi trung ương không chấp nhận đề nghị
này. Dĩ nhiên là Thủ Tướng Kỳ vẫn bác bỏ
quyết định đó của Trung Tướng Thi. Và v.. v..
Phải thừa nhận rằng, Thiếu Tướng Kỳ cũng như Trung
Tướng Thi, mỗi vị đều có những cái đúng và
những điều sai, vì cả hai đều có tiếng là
nóng tính, dễ giận, nghĩ sao nói vậy, nói
tuốt luột những điều mình nghĩ đến mức gọi là “nói
thẳng ruột ngựa”. Nhưng trường hợp này, theo tôi, Trung
Tướng Thi hoàn toàn sai. Quyết định bổ nhiệm Tỉnh Trưởng
là quyền của Thủ Tướng tức Thiếu Tướng Kỳ, Đại Biểu Chánh
Phủ chỉ có quyền đề nghị mà thôi. Trung Tướng Thi
đôi lần đã tuyên bố với báo chí rằng,
“các Tướng Lãnh cầm quyền ở trung ương có
hành động tham những”.
Sự kiện đúng hay sai cần phải viện dẫn đầy
đủ bằng cớ, chớ Trung Tướng Thi không thể căn cứ vào điều
ông nghĩ mà ông tự ý hành động vượt
quyền như vậy được. Nếu Trung Tướng Thi cho là các vị
Tướng cầm quyền tham nhũng, ông cứ đưa ra tòa với những
bằng cớ rành rành thì quan tòa làm
sao bao che được. Với lại nếu lời tố cáo của Trung Tướng Thi
được minh chứng xác thật với bằng cớ, chắc chắn dư luận -nhất
là các cơ quan truyền thông- chẳng ngại
ngùng gì mà không lên tiếng ủng hộ,
như vậy là sự kiện này càng thêm thuận lợi
cho Trung Tướng Thi cũng như thuận lợi cho phiên tòa
xét xử.
Hoặc Trung Tướng Thi phản đối trung ương bằng
cách từ chức là cách hay nhất mà ông
có thể làm được. Thậm chí, Trung Tướng Thi
có thể đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chánh để
thành lập một chánh phủ trong sạch lãnh đạo quốc
gia, vì đảo chánh không phải là điều xa lạ
cũng không phải là điều khó khăn đối với Trung
Tướng Thi. Còn trong khi đang tại chức với cấp bậc Trung Tướng,
mà ông tự tách mình ra khỏi trung ương để
chống đối trung ương thì còn gì là kỹ luật
quân đội, còn gì là một chánh quyền
thống nhất để bảo vệ quốc gia dân tộc đang bị cộng sản xâm
lăng!
Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần
bỏ phiếu kín: “Thuận hay không thuận cách chức
Trung Tướng Thi?”. Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, còn
lại đều thuận. Trung Tướng Có, đẩy ghế ra sau, đứng dậy,
và lên tiếng:
- “Trong phòng họp này,
chúng ta là những người có trách nhiệm
trong Đại Hội Đồng với tư cách thay mặt toàn quân,
bỏ phiếu thuận hoặc không, còn phiếu trắng trong trường
hợp này là “lưng chừng”, không dứt khoát lập
trường. Vậy, ai là người bỏ phiếu trắng nên giải
thích cho anh em rõ?”
Vừa dứt câu, có tiếng ghế đẩy thật mạnh, tất cả cặp mắt
của những vị có mắt gần như đồng loạt quay nhìn,
và một người dỏng dạc đứng lên. Đó là Chuẩn
Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù:
- “Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia, kính thưa quí vị. Tôi
là người bỏ phiếu trắng. Trung Tướng Thi đã một thời
là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhẩy Dù,
nên tôi không thể hành động chống Trung Tướng
Thi cho dù Trung Tướng Thi có sai trái với
quân đội. Tôi vẫn biết rằng, hành động của tôi
không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng
tôi vẫn làm vì lẽ đó. Và nếu sau
này, có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên,
tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và
bây giờ, quí vị toàn quyền quyết định về tôi:
“Ở lại hay ra khỏi Nhẩy Dù, tôi thi hành ngay”. Xin
cám ơn”.
Cả phòng họp im phăng phắc. Cuối cùng cũng không
có quyết định gì về Chuẩn Tướng Đống, có lẽ
các vị thừa nhận tính khẳng khái của vị Tướng Tư
Lệnh Nhẩy Dù mà không bàn gì về
ông chăng?
Tôi rất khâm phục nghĩa khí
và lòng dũng cảm của Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống, ông
xứng đáng là vị Tư Lệnh binh chủng Nhẩy Dù.
Đành rằng, nếu Đại Hội Đồng Quân Lực có cách
chức ông và để ông “ngồi chơi xơi nước” đi nữa,
ông vẫn là Tướng Lãnh, nhưng thử hỏi có được
bao nhiêu vị Tướng khẳng khái như ông. Sau buổi họp,
tôi đến chào Chuẩn Tướng Đống và xin được bắt tay
ông, chỉ vì hành động vừa rồi của ông.
Thế là quyết định cách chức Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn
I/Quân Khu I và Đại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung
của Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp ngày hôm qua,
trở thành quyết định chung cuộc của Đại Hội Đồng Quân Lực
hôm nay, mà Đại Hội Đồng Quân Lực trên
nguyên tắc là thay mặt toàn quân.
Ngay lúc buổi họp vừa chấm dứt, đa số
quí vị thành viên Đại Hội Đồng Quân Lực vừa
từ từ ra cửa vừa bàn luận tình hình chiến sự gần
như là chuyện bên lề, không biết có phải
quí vị muốn chuyển sang bầu không khí trách
nhiệm thường xuyên để làm nhẹ đi hoặc quên đi
cái không khí căng thẳng trong tình đồng đội
chen lẫn trong lãnh vực chính trị vừa rồi hay
không, nhưng rõ ràng là không
khí rộn ràng vui vẻ hẳn lên chớ không nặng nề
như lúc ngồi trong phòng họp. Trung Tướng Viên gọi
tôi về văn phòng gặp ông:
- “Chú tìm Chuẩn Tướng Nhuận
và mời đến gặp tôi ngay”.
- “Hy vọng là tôi tìm được vì nhà
Chuẩn Tướng Nhuận ở trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, thưa
Trung Tướng”.
Đó là Chuẩn Tướng Phan Xuân
Nhuận, là một trong chín Đại Tá được thăng cấp
Chuẩn Tướng hồi tháng 7/1964 ngay khi Trung Tướng Nguyễn
Khánh vừa thiết lập cấp bậc Chuẩn Tướng. Ông đang
là Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Động Quân.
Rất may, Chuẩn Tướng Nhuận có mặt tại
nhà. Vào văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu
Trưởng một lúc, khi trở ra ông tạt vào phòng
tôi và nói là ông hy vọng tôi
giúp ông cho kịp. Nói xong, ông vội
vàng đi ngay chừng như thời gian gấp rút lắm. Tôi
nói vói theo là tôi “sẽ cố gắng”, nhưng thật
ra tôi chưa hiểu việc gì tôi phải làm
liên quan đến “hy vọng” mà Chuẩn Tướng Nhuận vừa
nói, cho đến khi Trung Tướng Viên bấm chuông gọi
tôi:
- “Chú làm ngay mấy việc. Thứ
nhất, chú thu xếp lấy chiếc C47 đưa Chuẩn Tướng Nhuận và
các sĩ quan tháp tùng ông ra Huế ngay chiều
nay (10/3/1966). Thứ hai, điện thoại ra Huế yêu cầu Thiếu Tướng
Chuân (Nguyễn Văn Chuân) chuẩn bị và thực hiện
công tác bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1
Bộ Binh cho Chuẩn Tướng Nhuận ngay khi ông Nhuận đến Huế.
Sáng ngày mai (11/3/1966), Thiếu Tướng Chuân
vào Đà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn
I/Quân Khu I. Thứ ba, điện thoại Đại Tá Tham Mưu Trưởng
Quân Đoàn I, đón Thiếu Tướng Chuân và
trình bày tình hình mới nhất để ông
Chuân nắm vững tình hình. Và thứ tư, gởi
công điện “hỏa tốc” xác nhận lệnh đó với Quân
Đoàn I/Quân Khu I và Sư Đoàn 1 Bộ Binh.
Chú có gì cần hỏi thêm không?
- “Dạ không, thưa Trung Tướng”.
Một Thông Cáo của Ủy Ban Lãnh
Đạo Quốc Gia được phổ biến trên các làn sóng
phát thanh vào buổi tối, theo đó, Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia đã chấp thuận cho Trung Tướng Nguyễn
Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân Khu I,
xuất ngoại chữa bệnh mũi một thời gian. Thông Cáo đơn giản
chỉ có thế, nhưng đoạn văn này lại là khởi đầu cho
một cuộc khủng hoảng chính trị trong nội tình Việt Nam
chúng ta. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia xem như giải quyết
được sự chống đối của Trung Tướng Thi, nhưng lại phát sinh vấn
đề khác, giống như nhiều loại thuốc trị bệnh có
kèm theo tác dụng phụ của nó vậy. Vấn đề của Trung
Tướng Thi là vấn đề lớn, vì nếu không lớn hà
tất phải triệu tập Đại Hội Đồng Quân Lực, nhưng vấn đề
phát sinh thì lớn hơn nhiều và lâu hơn nhiều.
Khủng hoảng bắt đầu.
Sự kiện Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Cao
Kỳ với Đại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung là Trung Tướng
Nguyễn Chánh Thi bất đồng nhau trầm trọng, không giới
nào trong xã hội là không biết. Ấy vậy
mà nội dung Thông Cáo như thế thì làm
sao che được mặt bên kia của vấn đề. Xin nhớ rằng, Trung Tướng
Thi rất được lòng của khối Phật Giáo miền Trung, trong
đó có cả sinh viên, quân nhân Phật tử,
và giới chính trị nữa. Cho nên có tệ lắm
thì người ta cũng nhận thức được sự kiện Trung Tướng Thi bị
trung ương cách chức và đưa đi lưu vong. Thêm nữa,
nếu thật sự Trung Tướng Thi đi ngoại quốc chữa bệnh thì cần
gì phải Thông Cáo cho toàn dân biết,
chỉ cần cái sắc lệnh của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, cho phép Trung Tướng Thi xuất
ngoại, đồng thời cử vị Tướng khác thay thế trong thời gian
ông ấy vắng mặt là đủ. Chính sự có mặt của
bản Thông Cáo ở cấp lãnh đạo quốc gia là
điều không bình thường chút nào.
Thế là Phật Giáo có phản ứng.
Và phản ứng đầu tiên bằng cuộc mít tinh biểu
tình tại Đà Nẳng, đòi chánh phủ phục chức
cho Trung Tướng Thi. Đòi hỏi này nhanh chóng lan
ra Huế và vào vài tỉnh lân cận phía
nam Đà Nẳng. Khí thế của các cuộc mít tinh
biểu tình ngày càng mạnh mẽ với số người tham gia
ngày càng đông, đông đến độ khó ước
lượng được là bao nhiêu.
Trước tình hình này, tôi
cảm thấy các vị lãnh đạo trung ương dường như không
tiên liệu đến, hoặc có tiên liệu nhưng tiên
liệu không đến mức báo động cao như vậy. Ngay ngày
phản ứng đầu tiên của khối người đông đảo tại Đà
Nẳng, Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, với
Trung Tướng Viên, họp trong phòng Trung Tướng Viên.
Rồi những ngày sau đó là họp liên
miên, không giờ giấc gì cả. Chúng tôi
lo ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, và ăn tối luôn. Với
thành phần như vậy, có thể gọi là “Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp của thu hẹp”, vì không
có mặt Trung Tướng Tổng Thư Ký, và hai vị Tướng Tư
Lệnh Không Quân với Tư Lệnh Hải Quân. Phải có
3 vị này mới đủ thành phần thu hẹp của Ủy Ban Lãnh
Đạo Quốc Gia.
Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, được Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia cử vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 1
Bộ Binh, đồn trú tại Huế và Quảng Trị, rất có thể
vì ông là người sinh trưởng tại miền Trung
và là một Phật tử, hy vọng ông có thể thuyết
phục được những thành phần chống đối. Nhưng ngay khi nhận chức
Tư Lệnh Sư Đoàn 1, ông đã tuyên bố đứng
vào “hàng ngũ lực lượng tại Huế chống lại trung ương”. Do
đó mà ông được xem là Tư Lệnh của lực lượng
chống đối tại đây. Sự kiện này cho thấy quí vị
trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã quá đơn giản khi
bổ nhiệm một Tướng Lãnh vào một chức vụ rất cần uy
tín, bản lãnh, với một phong cách vừa thuyết phục
vừa cương quyết, mà theo tôi, Chuẩn Tướng Nhuận
không có những yếu tố đó.
Tôi không rõ là Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi có đề nghị hay không,
mà các vị lãnh đạo quyết định cho ông trở ra
Đà Nẳng gọi là để giải thích sự việc với đồng
bào, yêu cầu đồng bào chấm dứt những xáo
trộn trong khi chánh phủ cần tập trung nỗ lực vào
tình hình quân sự. Ngày 17/3/1966, chiếc C47
của Không Quân đưa Trung Tướng Thi ra Đà Nẳng. Trước
khi lên phi cơ tại phi trường Tân Sơn Nhất, ông
tuyên bố với báo chí rằng:
- “Tôi chẳng có bệnh mũi gì
cả, mà cho dù có bệnh đi nữa thì tôi
cũng điều trị tại Việt Nam chớ không đi nước nào hết. Sự
thật là như vậy”.
Lời tuyên bố này chính
là sự xác nhận rõ ràng và dứt
khoát. Cũng có nghĩa là ông đã vạch
trần nội dung bản Thông Cáo ngày 10/3/1966 của Ủy
Ban Lãnh Đạo Quốc Gia nói về ông. Tôi nghĩ,
các vị trung ương chắc đã phải cảm nhận “cái
tát” khi xem câu trả lời ngắn ngủi đó trên
các báo tại thủ đô Sài Gòn.
Rồi sau đó. Cứ mỗi lần Trung Tướng Thi xuất
hiện ở Đà Nẳng, Huế, hay Quảng Nam, đều được sự ủng hộ nồng
nhiệt của đám đông mít tinh biểu tình.
Và những lời tuyên bố của ông đều chung một ý
là ông cùng với đồng bào nơi đây chống
lại các Tướng Lãnh cầm quyền tại trung ương.
Thế là cuộc “khủng hoảng miền Trung”
-báo chí thường gọi như vậy- tự dưng được “trung ương”
tăng cường thêm hai Tướng Lãnh, do đó mà
khí thế càng thêm mạnh! Sai lầm nghiêm trọng
của trung ương trong quyết định chọn người vào chức vụ quan
trọng, hy vọng sẽ là một trong những bài học lãnh
đạo trong tương lai đối với những thế hệ tiếp sau.
Tiếp đến, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng
Thư Ký Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia bay ra Huế, cũng với hy
vọng trong một chừng mực nào đó, ông có thể
thuyết phục được Trung Tướng Thi. Ông đến tòa đại biểu
chánh phủ (Huế) cùng với Trung Tướng Thi, trong khi
bên ngoài đông nghẹt thanh niên sinh
viên. Từ trong đám đông đó có người
bước ra hỏi Trung Tướng Chiểu:
- “Trung Tướng có công nhận
hành động của chúng tôi là đúng
không?
- “Đúng”. Trung Tướng Chiểu trả lời.
- “Trung Tướng công nhận là đúng.
Vậy Trung Tướng có ở lại Huế với chúng tôi
không?
- “Có”.
Lập tức, một nhóm thanh niên ùa
vào hoan hô Trung Tướng Chiểu và công
kênh ông ra xe đưa đến khách sạn bên khu chợ
Đông Ba. Nhóm thanh niên này nói
là luôn luôn túc trực bên cạnh Trung
Tướng Chiểu và ông cần gì cứ gọi họ. Chữ
“túc trực” ở đây được hiểu là “canh giữ” Trung
Tướng Chiểu.
Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan -cánh tay
phải của Thủ Tướng Kỳ- Tổng Giám Đốc Cảnh Sát kiêm
Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội, cử nhiều toán Cảnh
Sát, An Ninh, Tình Báo dưới quyền ông ra Huế
và Đà Nẳng, bám sát tình
hình. Mỗi ngày báo cáo hai lần về Phủ Thủ
Tướng và thông báo văn phòng Tổng Tham Mưu
Trưởng. Còn chính ông, sự đi lại giữa Đà
Nẳng với Sài Gòn bất cứ lúc nào mà
ông cho là cần thiết.
Ngoài ra, tổng đài điện thoại Cộng
Hòa trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, được lệnh thu
băng toàn bộ các cuộc nói chuyện bất cứ là
ai, bất cứ từ đâu đến, mà ngang qua hệ thống viễn
liên này và trình lên văn phòng
Tổng Tham Mưu Trưởng vào đầu giờ buổi sáng, và
cuối giờ buổi chiều. Đây là nguồn cung cấp thông tin
xác thật nhất về những lời đối thoại giữa các tỉnh miền
Trung với Sài Gòn, bất luận người nói chuyện
là ai cũng đều thu vào và trình lên
tất cả. Nhờ đó mà tôi biết được những lời đối thoại
giữa các vị Tướng từ trung ương với vị Tư Lệnh Quân
Đoàn I cũng như với các vị Tư Lệnh khác.
Tuy có được những công điện mật mã thường
xuyên của nhóm an ninh tình báo, cùng
với những tờ trình của tổng đài điện thoại Cộng
Hòa, nhưng trong những cuộc đàm thoại giữa Trung Tướng
Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có từ Sài Gòn
với Thiếu Tướng Chuân tại Đà Nẳng, thì không
thể nào hiểu được tình hình thật sự khi
nhìn từ Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tướng Thiệu gọi tôi:
“Chú liên lạc với Thiếu Tướng
Chuân, hỏi tình hình hôm nay ra sao rồi cho
tôi biết”.
“Vâng. Tôi gọi ngay, thưa Trung Tướng”.
Tôi điện thoại ra Đà Nẳng và
Thiếu Tướng Chuân đang có mặt tại văn phòng:
- “Tôi Hoa đây thưa Thiếu Tướng.
Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia muốn biết sự thật
của tình hình bây giờ ra sao. Hoặc là Thiếu
Tướng tiếp chuyện trực tiếp với Trung Tướng, hoặc tôi sẽ chuyển
trình lại Trung Tướng, thưa Thiếu Tướng”.
- “Anh trình với Trung Tướng Chủ Tịch là tình
hình không có gì đáng ngại đâu.
Như thế là được rồi, tôi khỏi phải trình nữa”.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, những
tháng cuối năm 1954 là Trung Tá, Chỉ Huy Trưởng
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, lúc ấy
tôi là sinh viên sĩ quan trừ bị của Trường Sĩ Quan
Trừ Bị Thủ Đức trong số hơn 200 sinh viên gởi lên đây
học, vì Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức không đủ cơ sở. Từ
đó, tôi thường liên lạc với ông trong
tình thầy trò.
Tôi trình lại Trung Tướng Thiệu
thì Trung Tướng Có bảo tôi gọi cho ông
nói chuyện trực tiếp với Thiếu Tướng Chuân. Kết quả cuộc
đàm thoại đó cũng là những thông tin
mà tôi nhận lúc nảy thôi.
Một tháng sau ngày cách chức
Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, hầu như tất cả sinh hoạt tại
Đà Nẳng, Huế, và vài tỉnh lân cận,
nói chung là rất xáo trộn, đôi lúc
được xem là hỗn loạn nữa. Vì vậy mà phòng
làm việc của Trung Tướng Viên trở thành nơi
làm việc hằng ngày của Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ,
và Trung Tướng Có. Hội họp liên tục và những
quyết định về tình hình miền Trung cũng như liên
quan đến các đại đơn vị khác, đều xuất phát từ
đây.
Trung Tướng Có quyết định, chính ông phải ra
Đà Nẳng để biết rõ tình hình, chớ mờ mờ ảo
ảo như thế này thì không thể giải quyết được
mà có thể ngày càng trầm trọng đến mức nguy
hiểm. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên, khuyên
Trung Tướng Có không nên mạo hiểm, vì rất
có thể là Thiếu Tướng Chuân đã bị
phía chống đối quản thúc canh giữ nên Thiếu Tướng
Chuân không thể trình bày sự thật được. Nếu
sự thể xảy ra như vậy thì Trung Tướng Có sẽ tự
mình dấn thân vào thế bị động của Thiếu Tướng
Chuân luôn. Nhưng Trung Tướng Có vẫn giữ
nguyên quyết định, và ông đi Đà Nẳng.
Đến căn cứ Không Quân Đà Nẳng,
Trung Tướng Có gọi về cho biết, con đường từ căn cứ Không
Quân đến bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I đầy chướng ngại vật,
nhưng phía chống đối mở lối cho xe của Quân Đoàn
đến đón ông. Rồi cũng không khác Thiếu Tướng
Chuân về cách trình bày tình
hình, và Trung Tướng Thiệu tin là Trung Tướng
Có đã bị quản thúc cùng với Thiếu Tướng
Chuân. Thế là trung ương tiếp tục lún sâu
vào thế bị động.
Biện pháp quân sự.
Ngày 14/4/1966, trung ương quyết định chuyển
quân ra Đà Nẳng để giải quyết tình hình.
Nói cho thật đúng là Thiếu Tướng Kỳ quyết định sử
dụng biện pháp mạnh. Trung Tướng Thiệu không phản đối
nhưng cũng không hẳn là đồng ý, Trung Tướng
Viên vẫn như từ ngày đầu đến giờ là không
tham gia quyết định nào cả vì ông cho rằng
đây là vấn đề chính trị, vấn đề của chánh
phủ mà ông chỉ thi hành lệnh thôi. Trước khi
ra về, Trung Tướng Viên gọi tôi vào phòng:
- “Sáng sớm mai tôi và bộ
chỉ huy hành quân ra Đà Nẳng, chú lo mấy
việc sau đây: Chuẩn bị giường xếp và lương thực 7
ngày cho 10 người ăn. Chú Có và vài
chú trong toán an ninh theo tôi. Chú
tìm ngay Trung Tá Mã Sanh Nhơn cùng đi với
tôi. Trung Tá Nhơn sẽ là Thị Trưởng Đà Nẳng
thay cho Bác Sĩ Mẫn đã theo phía chống đối.
Chú liên lạc với văn phòng Thiếu Tướng Kỳ để biết
giờ phi cơ Caravelle cất cánh. Chú lo ngay cho kịp”.
Giao công tác lo gường xếp với
lãnh lương khô cho Đại úy Có xong, tôi
liên lạc với chánh văn phòng của Thủ Tướng Kỳ được
biết, bộ chỉ huy hành quân sẽ đi bằng phi cơ Caravelle của
Hàng Không Việt Nam và cất cánh lúc 3
giờ sáng trước phòng VIP. Điều tôi lo nhất
là không biết có tìm được Trung Tá
Mã Sanh Nhơn hay không vì gần đây tôi
ít có dịp liên lạc với anh, nhưng cuối cùng
tôi cũng tìm được. Khi ra sân bay, tôi thấy
có một cô gái người Huế cùng đi với Trung
Tá Nhơn, và theo lời Trung Tá Nhơn thì
cô này có khả năng giúp anh thuyết phục
thanh niên học sinh Đà Nẳng.
Trong cuộc chuyển quân này,
Không Quân Hoa Kỳ dứt khoát không cho mượn phi
cơ vận tải hạng nặng C130 để chở chiến xa, họ nêu lý do
phương tiện chiến đấu chỉ sử dụng trong chiến tranh chớ không can
dự vào cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ, nhất là
đàn áp đồng bào. Họ nói rất đúng,
nhưng liệu lý do đó còn có mặt trái
của nó hay không? Hãy chờ.
Tại phi trường, tôi được biết Chuẩn Tướng
Trần Thanh Phong, Trưởng Phòng 3/Tổng Tham Mưu, đã điều
động Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù vào cuộc
hành quân này. Ngoài Thủ Tướng Kỳ, Trung
Tướng Viên, còn có Thiếu Tướng Lê
Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến và Chuẩn
Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhẩy Dù.
Từ căn cứ Không Quân Đà Nẳng,
Đại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của
Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, điện thoại về tôi:
- “Trung Tướng và bộ chỉ huy đã
đến nơi và trú đóng trong căn cứ Không
Quân. Theo tin tức thì ngoài đường phố đầy nghẹt
bàn thờ và người của phía chống đối khi họ biết
lực lượng tổng trừ bị ra đây giải quyết tình hình.
Có vẻ rắc rối lắm. Trung Tướng Có (tại bộ tư lệnh
Quân Đoàn I) tức giận về việc Nhẩy Dù với Thủy
Quân Lục Chiến có mặt ngoài này đó
anh. Có gì lạ tôi sẽ gọi về anh”.
Vậy là “không khí chiến tranh” giữa trung ương với
địa phương rất sẳn sàng xảy ra, nếu như phía trung ương
có một hành động nào đó mà
phía chống đối cho là khiêu khích. Trong
ngày đầu tiên, lực lượng trung ương án binh bất
động, phía chống đối củng cố công tác bố trí
lực lượng trên đường phố trong tư thế “nghênh chiến”.
Cái đau ở chổ “cả hai phía đều là phe ta cả!”
Trung Tướng Có điện thoại về phòng
Tổng Tham Mưu Trưởng nói chuyện với Trung Tướng Thiệu:
- “Tại sao trong khi tôi đang dàn
xếp với bên kia thì anh lại đưa quân ra thế
này? Bây giờ không còn cách nào
nói chuyện với họ được vì họ không tin tôi
nữa!
- “Ông Kỳ đó”.
- “Anh cho rút về ngay đi. Nếu không thì
tình hình sẽ nguy hiểm lắm”.
- “Được. Tôi sẽ cho lệnh rút về”.
Trung Tướng Thiệu ngồi tại bàn viết của
Trung Tướng Viên, tự ông viết công điện ra lệnh
chuyển lực lượng tổng trừ bị về Sài Gòn và
ký ngay trên bản thảo đó. Ông gọi tôi:
- “Chú đánh máy xong,
trình Trung Tướng Viên ký và gởi đi ngay cho
tôi. Xong, trình lại tôi”.
- “Vâng, tôi làm ngay thưa Trung Tướng”.
Ngay đêm hôm đó (15/4/1966), Thủ
Tướng Kỳ và Trung Tướng Viên về lại Sài Gòn,
giao cho Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong chỉ huy. Lệnh này
gây rắc rối, vì Chuẩn Tướng Phong kém cấp bậc
và kém thâm niên, nên Thiếu Tướng Khang
và Chuẩn Tướng Đống cũng trở về Sài Gòn và
trao quyền chỉ huy cho hai vị Tư Lệnh Phó của hai ông.
Tôi thuật lại cuộc nói chuyện giữa
Trung Tướng Thiệu với Trung Tướng Có, đồng thời trình
công điện “hỏa tốc” (có nghĩa là phải gởi ngay) cho
Trung Tướng Viên mà tôi đã đánh
máy xong. Ông không nhìn vào mà
nói:
- “Chú để trên bàn cho
tôi”.
Sáng hôm sau, Trung Tướng Thiệu đến
sớm trong khi Trung Tướng Viên chưa đến, khi đi ngang bàn
tôi ông ra hiệu tôi theo ông vào
phòng:
- “Chú làm xong chưa?
- “Thưa Trung Tướng, xong rồi, nhưng Trung Tướng Viên chưa
ký”.
- “Tại sao?
- “Tôi không rõ, thưa Trung Tướng”.-
- “Khi Trung Tướng Viên tới là chú trình
ngay cho tôi”.
- “Vâng”.
Trung Tướng Viên đến, và sau khi
ông điện thoại với Thiếu Tướng Kỳ, tôi không
rõ là Thiếu Tướng Kỳ nói gì mà Trung
Tướng Viên duyệt ký công điện đó.
Lực lượng rút về xong thì Trung Tướng
Có cũng được phía chống đối cho “tự do” sang căn cứ
Không Quân về Sài Gòn. Trung Tướng Chiểu từ
Huế cũng vậy.
Trung Tướng Tôn Thất Đính, một trong
năm vị Tướng bị ba vị trong nhóm lãnh đạo “Chỉnh
lý ngày 30/1/1964” quản thúc tại Đà Nẳng
rồi chuyển lên quản thúc ở Đà Lạt, 3 tháng
sau đó được tự do nhưng không được giữ các chức vụ
có quân có quyền. Trường hợp như vậy báo
chí thường gọi là “Tướng không quân”. Trung
Tướng Đính ngỏ ý với bà Cao Văn Viên
mà ông tin chắc là đến tai Trung Tướng Viên,
và rồi Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ cũng biết. Theo
đó, Trung Tướng Đính bắn tiếng rằng: “Nếu được tín
nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, ông
có khả năng giải quyết được tình hình một
cách êm dịu”. Bà Viên nói cho
tôi nghe như vậy.
Và chắc là nghe xuôi tai, với
lại trong khi chưa chọn được vị nào khác, Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp, quyết định cử Trung Tướng Tôn
Thất Đính vào chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn
I thay Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và tôi
được lệnh lo phi cơ đưa ông và các sĩ quan
tháp tùng ra Đà Nẳng. Ngày hôm sau,
một mẫu tin trên nhiều nhật báo tại thủ đô
Sài Gòn có nội dung vắn tắt như thế này:
- “Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng
Đính tuyên bố là cọp về rừng”.
Đúng là “cọp lại về rừng”, vì
sau khi Trung Tướng Đính nhận chức Tư Lệnh Quân
Đoàn I thì ông tuyên bố tại Đà Nẳng
cũng như sau đó tại Huế, là ông chờ ngày
này đã lâu lắm rồi. Đồng thời ông nói
thẳng ra rằng ông đứng về phía lực lượng chống đối trung
ương. Thế là không khí đấu tranh trong hàng
ngũ chống đối chánh phủ càng thêm hăng hái,
vì có thêm một Tướng lãnh vừa từ trung ương
ra là chống lại trung ương ngay.
Lúc này hầu hết vũ khí dự trữ
trong các kho Tiếp Vận tại Huế và Đà Nẳng, đều bị
phía chống đối lấy trang bị cho lực lượng của họ. Tư Lệnh lực
lượng chống đối tại Huế là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận.
Tại Đà Nẳng, phía chống đối tổ chức một Quân
Đoàn lấy tên là “Quân Đoàn Trần Hưng
Đạo” do Đại Tá Đàm Quang Yêu giữ chức Tư lệnh.
Có một số Cảnh Sát và quân nhân Phật
tử tham gia. Nói là Quân Đoàn nhưng thật ra
chỉ là một số quân nhân và cảnh sát
Phật tử tập hợp lại thôi, chớ có tổ chức Sư Đoàn
Trung Đoàn gì đâu. Còn Đại Tá
Đàm Quang Yêu, đang là Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Quảng
Đà (tức Quảng Nam Đà Nẳng), được phía chống đối
đưa ông vào chức Tư Lệnh Quân Đoàn Trần hưng
Đạo.
Theo đề nghị của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan,
Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội, đang có mặt tại Đà
Nẳng, Trung Tướng Viên bảo tôi liên lạc với Cục
Quân Cụ (quản trị các loại dụng cụ chiến tranh) đưa
lên căn cứ Không Quân 500 khẩu súng trường
loại MAS 36 (do Pháp sản xuất từ đệ nhị thế chiến) mà Cục
không cần biết lý do. Không Quân chuyển số
súng này ra Đà Nẳng và dùng trực
thăng đưa đến hai Quận phía bắc thành phố Huế, trang bị
cho các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lực lượng
tình nguyện sẽ chống cộng sản và chống cả lực lượng đang
chống đối trung ương.
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thu hẹp, đã
lần lượt thất bại trong việc chọn người giữ chức Tư Lệnh Quân
Đoàn I sau khi cách chức Trung Tướng Thi, ngay việc hai
vị Tướng lãnh từ trung ương ra Huế và Đà Nẳng
tìm hiểu và giải quyết tình hình tại chỗ,
cũng đều thất bại. Từ những thất bại đó, những va chạm qua lại
đã xảy ra là điều không tránh khỏi,
và trong nội bộ đã hình thành hai
nhóm:
Nhóm thứ nhất gồm: Trung Tướng Thiệu, Trung
Tướng Có, và Trung Tướng Đặng văn Quang, Tư Lệnh
Quân Đoàn IV.
Và nhóm thứ hai gồm: Thiếu Tướng Kỳ,
Trung Tướng Viên, Thiếu Tướng Khang, và Chuẩn Tướng Đống.
Sở dĩ tôi dùng chữ “Ủy Ban Lãnh
Đạo Quốc Gia thu hẹp” vì những quyết định đều do những vị trong
số 4 vị trên đây đưa ra chớ không phải đầy đủ trong
thành phần Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia 11 người.
Trình bày như vậy, tôi có ý
lách phần trách nhiệm của 7 vị còn lại trong Ủy
Ban Lãnh Đạo Quốc Gia không có mặt trong những
quyết định liên quan trực tiếp đến tình hình
xáo trộn gần hai tháng qua. Với lại chữ “thu hẹp”
mà tôi dùng ở đây cũng không
hoàn toàn đúng nghĩa nữa, mà phải gọi
là “thu hẹp của thu hẹp”’.
Trong khi đó, các vị lãnh đạo
phía chống đối chuyển mục tiêu đấu tranh sang đòi
xây dựng một chế độ dân cử. Mục tiêu của phía
chống đối, bước đầu là phục chức cho Trung Tướng Thi, khi Trung
Tướng Thi về lại Đà Nẳng thì chuyển sang bước thứ hai
là đấu tranh đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ,
và Trung Tướng Có từ chức, và bây giờ
là bước thứ ba hoàn toàn về chính trị.
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, rõ
ràng là từ lúc khởi đầu đến bây giờ đều
trong thế bị động, tuy đã có nhiều cố gắng để tái
lập ổn định tình hình nhưng tất cả đều không
thành công. Từ đó dẫn đến rạn nứt trong nội bộ
thành hai nhóm, và nếu tình trạng
này không sớm chấm dứt thì rồi đây đất nước
sẽ như thế nào? Danh dự và trách nhiệm đối với
quốc gia dân tộc, quí vị quên rồi sao? Lẽ nào
lại thế!
Dù thế nào đi nữa thì Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia, cũng phải tìm một vị Tướng khác
ra thay Trung Tướng Đính, và vị đó là Thiếu
Tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu Tướng Cao từ sau cuộc đảo chánh
ngày 1/11/1963, chỉ giữ những chức vụ không có
quân trong tay và những chức vụ cũng chẳng có
gì quan trọng theo đúng nghĩa của nó. Các
vị chọn Thiếu Tướng Cao cũng là điều khó hiểu, vì
Thiếu Tướng Cao là tín đồ Thiên Chúa
Giáo. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm cầm quyền,
ông rất được tín cẩn. Bây giờ được cử vào
chức vụ có trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng với
Phật Giáo, thì liệu mức độ thành công
có được bao nhiêu! Lại thêm một chọn lựa liều lỉnh
nữa chăng?
Khi Thiếu Tướng Cao từ phòng Trung Tướng
Viên bước ra, chẳng những ông không có được nụ
cười như lệ thường mà trái lại nét mặt của
ông chứng tỏ rằng ông rất lo âu về chức vụ mà
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia vừa giao cho ông. Nếu nhận
xét cho thật đúng thì Thiếu Tướng Cao sợ
hãi!
Đây là lần thứ tư tôi được lệnh
lo phi cơ đưa vị Tướng ra Đà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân
Đoàn I trong một tình hình rối ren nội bộ.
Chỉ vài ngày sau khi Thiếu Tướng Cao
có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, sau giờ
làm việc chiều trở về, điện thoại nhà tôi reo:
- “Trung Tá Hoa tôi nghe”.
- “Chú liên lạc tìm sĩ quan tùy viên
của Thống Tướng Westmoreland hỏi xem giờ nào phi cơ cất
cánh và bãi đậu ở đâu?
- “Thưa Trung Tướng, tôi chưa rõ việc này, xin
Trung Tướng cho lệnh rõ hơn”.
- “Tôi cần đi Đà Nẳng ngay bây giờ. Ông
Westmoreland cho tôi mượn chiếc phi cơ U 21 của ổng. Chú
hỏi rồi cho tôi biết ngay”.
Thống Tướng William C. Westmoreland, đang là
Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. U 21 là chiếc phi cơ
phản lực, dường như 8 chỗ ngồi mà Không Lực Hoa Kỳ
dành riêng cho ông. Mọi thu xếp xong xuôi,
và phi cơ cất cánh lúc 8 giờ tối tại bãi
đậu của Không Quân Hoa Kỳ, và trên phi cơ chỉ
một hành khách duy nhất là Trung Tướng Cao Văn
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Trung Tướng Viên 3 ngôi
sao, Thống Tướng Westmoreland 4 ngôi sao, phối hợp nhau trong mọi
vấn đề rất chặt chẻ. Mỗi tuần vào đầu giờ làm việc chiều
thứ hai đều họp cấp cao tại văn phòng Trung Tướng Viên,
giải quyết những vấn đề vượt quá trách nhiệm của hai bộ
tham mưu, hoặc vì hai bộ tham mưu không đồng quan điểm
nên chưa giải quyết được. Ngoài ra, Thống Tướng
Westmoreland còn cử một Đại Tá (lúc đó
là Đại Tá Freund, ông này thường nói
tiếng Pháp), làm sĩ quan liên lạc của ông
và có văn phòng tại Bộ Tổng Tham Mưu (ở tầng trệt
tòa nhà chánh).
Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Viên
dặn tôi:
- “Chú chờ tôi ở đây
và rất có thể là tôi về khuya lắm”.
Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra,
nên điện thoại hỏi bà Viên vì tôi tin
là bà biết. Và đúng như vậy, bà
Viên cho biết:
- “Thiếu Tướng Cao nói ổng bị ông
Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan) cho người mưu sát ổng ngay
tại văn phòng, nên ổng đã bỏ Quân Đoàn
chạy sang tị nạn bên Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ.
Trung Tướng ra đó giải quyết ngay trong đêm”.
Bỗng dưng tôi có dịp quan sát căn cứ Không
Quân về đêm. Dưới ánh sáng như ban
ngày do hệ thống đèn pha cực mạnh, những bộ phận
chuyên viên bảo trì phi cơ và chuẩn bị bom
đạn với hỏa tiển để phi cơ sẳn sàng cất cánh lên
đường ra trận. Những toán quân nhân làm
đêm, không phân biệt Việt Nam hay Hoa Kỳ, đều hoạt
động liên tục. Cứ độ nửa tiếng đồng hồ là chiếc xe
bán thức ăn nước uống của Hoa Kỳ đến để bán cho
các quân nhân Việt Mỹ. Làm việc ban đêm
là một nhiệm vụ cấp trên giao phó, nhưng
nhìn vào cung cách và thái độ của
những quân nhân chuyên viên đó,
tôi nhận thấy tấm lòng của họ, tấm lòng của “Người
Lính Không Quân” đối với “Tổ Quốc-Danh
Dự-Trách Nhiệm”. Xứng đáng biết bao hỡi những chiến sĩ
Không Quân âm thầm trong đêm tối.
Trung Tướng Viên về đến lúc 3 giờ
sáng. Trước khi lên xe, ông đưa tôi cái
thơ không niêm, và nói:
- “Tôi về nhà luôn.
Chú ghé đưa thư này cho bà Cao và
nói rằng, Thiếu Tướng Cao nhờ trao tận tay. Ngoài ra
ông Cao không có dặn gì thêm”.
Nhà Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao trong cư xá Bộ Tổng Tham
Mưu, nhưng tôi không ghé ngay mà tôi
vào luôn văn phòng. Tôi muốn biết tình
hình xảy ra như thế nào và tôi nghĩ
là thư của Thiếu Tướng Cao có thể có những
thông tin liên quan đến. Thế là tôi sao chụp
một bản trước khi ghé nhà Thiếu Tướng Cao trao cho
bà ấy. Sỡ dĩ tôi hành động như vậy là
vì từ cái đêm Tổng Thống Diệm ra lệnh thiết
quân luật 20/8/1963 để lùng bắt Thượng Tọa Thích
Trí Quang cho đến nay, tôi ghi chép những sự kiện
xảy ra, và đồng thời sao chụp các bản tài liệu
kèm theo bản văn ghi chép theo câu “nói
có sách mách có chứng”, để sau này
cung cấp cho những sử gia hoặc giả tôi sẽ đăng báo hoặc
viết thành sách. Một phần những bản văn ghi chép
cùng những bản sao chụp có được, tôi đã
thiêu hủy trước khi vào tù tháng 6/1975, chỉ
còn lại “tài sản” lưu giữ trong ký ức và
một bao đựng những trang giấy viết tay do quân cộng sản lục
soát khám xét và xé bỏ tung
tóe trước khi bọn họ rời khỏi nhà tôi.
Năm 1986, tôi thuật lại cho các bạn
trong phòng giam số 1 trại tù Nam Hà nghe trong 9
đêm liền. Thuật lại như vậy, tôi nghĩ, sự lưu giữ trong
ký ức sẽ được dài lâu vì phát ra cũng
có nghĩa là thu lại, và mặt khác, trong số
các bạn trong phòng giam có những bạn chứng kiến
tận mắt hoặc đã tham gia một số sự kiện tại địa phương trong
thời ấy như Đại Tá Đàm Quang Yêu chẳng hạn,
xác nhận những gì tôi thuật. Có lẽ nhờ vậy
mà những gì “tồn trữ trong ký ức” của tôi
đã giúp tôi hoàn thành quyển
“Đôi Dòng Ghi Nhớ”, góp mặt trong hằng loạt
sách hồi ký xuất bản tại hải ngoại.
Trở lại thư của Thiếu Tướng Cao. Tôi biết
hành động như vậy là không đúng, nhưng
tôi muốn có dữ kiện ghi chép chính
xác. Tôi không biện minh cho việc tôi
làm, nhưng rõ ràng là tôi không
hề có ý định gì ngoài điều tôi vừa
trình bày. Thư ông chưa đầy trang giấy, chỉ vắn tắt
rằng : “….. Vì có người ám hại nên
ông phải ra ngoại quốc tìm kế mưu sinh và sẽ gởi
tiền về giúp đỡ gia đình. Cuối cùng, ông cầu
xin Đức Mẹ che chở cho vợ con ông”.
Ngày hôm sau, tôi được bà
Viên cho biết thêm như thế này:
“Nhận chức xong, Thiếu Tướng Cao duyệt lại
tình hình từng nơi, đặc biệt là ông
chú trọng đến Đà Nẳng và Huế. Ông thấy cần
ra Huế để nắm vững tình hình tại đây về lực lượng
dưới quyền ông cũng như lực lượng của phía chống đối.
Thiếu Tướng Cao đến Huế bằng trực thăng của Hoa Kỳ, khi chuẩn bị
đáp thì từ đám đông phía dưới
có người bắn lên và xạ thủ trên trực thăng
đã bắn chết người đó. Ông quay về Đà Nẳng.
Rồi ngay trong phòng làm việc của ông tại Bộ Tư
Lệnh Quân Đoàn, bất ngờ ông phát hiện kịp
thời một sĩ quan của ông Loan (Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan)
dí súng vào đầu ông từ phía sau,
nhưng đúng lúc có một sĩ quan Hoa Kỳ bước
vào nên hắn không hành động được. Ông
Cao quá tức giận và nói cho ông Loan biết
là ông sẽ rời bỏ Quân Đoàn. Ông Loan
quì xuống ôm chân Thiếu Tướng Cao và
nói trong vội vàng: ‘Thiếu Tướng hiểu lầm rồi,
không có chuyện mưu sát gì đâu.
Tôi lạy Thiếu Tướng, xin Thiếu Tướng đừng bỏ Quân
Đoàn. Ngay sau đó, ông Cao sang Bộ Tư Lệnh Lực
Lượng Đệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ xin Tướng Waltz -Tư Lệnh- giúp cho
ông sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Thiếu Tướng Cao viết thư
đó tại văn phòng Tướng Waltz”.
Lại biện pháp quân sự.
Trở lại văn phòng của Trung Tướng
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Từ sau ngày Thiếu Tướng Cao bỏ
Quân Đoàn I, các vị Tướng lãnh đạo quốc gia
và quân đội, gần như làm việc bất kể ngày
đêm tại phòng làm việc của Trung Tướng Viên,
có hôm đến nửa đêm mới rời nơi đây. Trong một
buổi tối, vẫn là Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng
Có, và Trung Tướng Viên, và đây
là lần đầu tiên Trung Tướng Viên trình
bày quan điểm của ông một cách mạnh mẽ, ông
nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, ông không chấp nhận
một quân đội trong một quân đội như tình trạng hiện
nay. Và ông đề nghị với các vị có mặt
là phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết
dứt khoát tình hình.
Buổi họp đi đến quyết định là chấp thuận kế
hoạch của Trung Tướng Viên, và ngày 15/5/1966
là ngày chuyển quân ra Đà Nẳng. Lần chuyển
quân này được phía Hoa Kỳ trực tiếp cung cấp vận
tải cơ hạng nặng C130 và vận tải hạm chở chiến xa từ Sài
Gòn ra phi cảng và hải cảng Đà Nẳng. Vẫn Thủy
Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù như lần trước, cộng
thêm lực lượng Thiết Giáp. Và rồi diễn tiến cuộc
“hành quân” giải tỏa tình hình hỗn loạn tại
Đà Nẳng được thực hiện rất thuận lợi, không một cuộc nổ
súng nào xảy ra giữa lực lượng chánh phủ với lực
lượng chống đối, ngoại trừ tại một ngôi chùa nhỏ có
vài phát súng bắn ra nhưng không gây
thiệt hại nào. Tại Huế cũng trong một tình hình
tương tự như vậy. Đại Tá Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh
Phó Nhẩy Dù, được cử ra phía bắc Huế tiếp
xúc với một Trung Đoàn của Sư Đoàn 1 Bộ Binh ủng
hộ trung ương, tiến vào thành phố Huế với nhiệm vụ giải
tỏa lực lượng chống đối. Nhiệm vụ hoàn thành trong
yên tịnh.
Sự kiện gần như trái ngược với dự
đoán của giới truyền thông cũng như của nhiều thành
phần khác trong xã hội khi được biết trung ương lại đưa
quân ra Đà Nẳng. Bởi vì trước đó một
tháng, trung ương đã chuyển quân ra Đà Nẳng,
và đã thất bại nên rút quân về.
Rõ ràng là có một điều gì khó
hiểu, vì lực lượng chống đối đang bừng bừng khí thế, bỗng
dưng tịt mất hoàn toàn như ngọn đèn đang
sáng thì tắt phụt khi có người ngắt dòng
điện vậy. Phải chăng khi không khí mít tinh biểu
tình lên đến cường độ nào đó thì
có thêm ngọn đèn xanh, và đến lúc
này thì đèn xanh tắt và đèn đỏ được
“ai đó” bật lên hay không? Xin quí vị nhớ lại
cuộc chuyển quân ngày 15/4/1966, Hoa Kỳ khước từ yểm trợ
phương tiện vận tải hàng không với lý do
không bàn cãi vào đâu được, thế nhưng
cuộc chuyển quân lần này cũng cùng mục tiêu
như lần trước, lại được yểm trợ đầy đủ theo nhu cầu. Liệu quyết định
như vậy có liên quan đến “ai đó” nói
trên hay không?
Xin lược lại vài sự kiện gần như có
mối liên hệ với nhau để dẫn đến tình hình vừa
nêu.
Thứ nhất, là sau ngày lực lượng chống
đối nêu yêu sách đòi tiến đến sinh hoạt
dân chủ mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để
soạn thảo Hiến Pháp, thì Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia
tuyên bố chấp nhận tổ chức bầu cử quốc hội vào
tháng 9/1966. Tôi nghĩ, chắc là Hoa Kỳ có
ảnh hưởng nếu không nghĩ là họ áp lực đến quyết
định này.
Thứ hai, là Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trước đó ông
không có ý kiến gì về những quyết định của
những vị lãnh đạo quốc gia, nhưng bất ngờ ông đưa đề nghị
biện pháp quân sự và cuộc hành quân
đã diễn ra thật tốt đẹp. Đúng ra khi nói đến
hành quân phải nói đến chiến thắng, nhưng tôi
thấy không ổn nếu dùng chiến thắng để chỉ cuộc hành
quân này, vì “phe ta đánh phe mình”
với lại “bất chiến tự nhiên thành”. Về đề nghị của Trung
Tướng Viên, liệu ông có biết là đèn
xanh cho phía chống đối đã tắt và đèn đỏ
đã bật lên chăng? Cho dù các câu hỏi
có đặt ra hay không thì những sự kiện cùng
những quyết định nói trên đã diễn tiến rất nhịp
nhàng, và những ai quan tâm đến đất nước, có
thể đã tự hỏi như vậy, hay hơn thế nữa.
Và thứ ba, cũng có thể là vị
nào đó, khi thấy Trung Tướng Thi bị cách chức liền
nhập cuộc với những thành phần ủng hộ Trung Tướng Thi, và
dần dần nắm quyền lãnh đạo cuộc chống đối trung ương, từng bước
đòi hỏi tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ trong sinh
hoạt quốc gia, khi được trung ương chấp nhận bầu cử Quốc Hội Lập Hiến
thì xem như mục tiêu đấu tranh đạt được nên ra lệnh
chấm dứt chăng? Nhưng trong trường hợp này, có phải
là Trung Tướng Viên đã mạo hiểm trở lại quyết định
của Thủ Tướng Kỳ đã không thành công
cách đó một tháng không? Nếu đúng như
vậy, quả là Trung Tướng Viên rất dũng cảm cho cuộc mạo
hiểm của ông nhưng tình cờ lại đúng thời cơ.
Nhìn lại chuỗi biến cố.
Và tôi cũng tự hỏi: “Liệu từ cuộc đảo
chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày
1/11/1963 của Trung Tướng Dương Văn Minh, cuộc Chỉnh Lý
ngày 30/1/1964 của Trung Tướng Nguyễn Khánh với Trung
Tướng Trần Thiện Khiêm, rồi cuộc Biểu Dương Lực Lượng ngày
13/9/1964 của Trung Tướng Dương Văn Đức, đến Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát đảo chánh Trung Tướng Nguyễn Khánh
ngày 19/2/1965, rồi quân đội nhận trách nhiệm
lãnh đạo quốc gia ngày 19/6/1965, và cuộc khủng
hoảng này từ ngày 9/3/1966, có liên quan với
nhau trong một chuỗi biến cố chính trị, hay chỉ là những
sự kiện riêng lẽ?
Nếu riêng lẽ, thì tại sao trong cuộc
“Đảo Chánh” Tổng Thống Ngô Đình Diệm có một
người Mỹ (Trung Tá Conein) trong phòng Thiếu Tướng Trần
Thiện Khiêm, bản doanh của Hội Đồng Quân Nhân
lãnh đạo đảo chánh từ lúc bắt đầu đến khi Tổng
Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết chết? Tại sao trong
cuộc “Chỉnh Lý” của Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng
Trần Thiện Khiêm, và Đại Tá Cao Văn Viên,
cũng có một người Mỹ tại bản doanh ngay trong tư dinh của Trung
Tướng Nguyễn Khánh từ đầu đến cuối? Tại sao viên chức
tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ra lệnh cho Trung
Tướng Dương Văn Đức (ngang qua Trung Tá Tạ thành Long),
người đứng đầu cuộc “Biểu Dương Lực Lượng” phải rút quân
về vị trí? Tại sao Trung Tướng Nguyễn Khánh yêu cầu
ông Đại Sứ Taylor giúp đỡ khi bị Thiếu Tướng Lâm Văn
Phát “Đảo Chánh” thì ông trả lời là
không can thiệp vào nội bộ chính trị của Việt Nam
Cộng Hòa, đồng thời khuyên Trung Tướng Nguyễn Khánh
nên ra ngoại quốc? Rồi tại sao Hoa Kỳ chuẩn y không văn bản
cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ sau khi Tướng Tư Lệnh Không Lực Hoa
Kỳ có lời ủng hộ? Và tại sao Hoa Kỳ không
giúp không vận và hải vận chuyển quân
và chiến cụ ra Đà Nẳng lần thứ nhất trong khi lực lượng
chống đối trung ương với khí thế rất mạnh, đến cuộc chuyển
quân và chiến cụ lần thứ nhì chỉ cách
đó một tháng thì Hoa Kỳ yểm trợ hoàn
toàn, cùng lúc với sự tê liệt (hoặc hiểu
theo cách nào đó cũng tương đương như vậy) của lực
lượng chống đối tại Đà Nẳng cũng như tại Huế?
Hoặc tất cả những sự kiện đó là một
chuỗi biến cố chính trị liên quan với nhau? Vì Tổng
Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý để Hoa Kỳ
thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam theo
chiến lược Domino của họ, nên ông bị các Tướng
Lãnh của ông lật đổ với ngọn đèn xanh của ông
Đại Sứ Hoa Kỳ, nhân chính sách không
bình đẳng tôn giáo lên cao điểm. Rồi họ
không muốn vương vấn chút ảnh hưởng nào của
Pháp trong giới Tướng Lãnh Việt Nam nên nhóm
Tướng thân Pháp (Trung Tướng Minh, Trung Tướng Đôn,
…) bị hạ bệ, đồng thời gầy dựng nhóm Tướng cầm quyền thân
Mỹ (Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm). Khi Trung Tướng
Khánh “lên ngôi”, chỉ thỏa mãn nhu cầu chiến
lược Domino mà không thực hiện chế độ dân cử, để rồi
cuộc biểu dương lực lượng của Trung Tướng Đức là một cảnh
cáo của Hoa Kỳ đối với Trung Tướng Khánh phảng phất
tính độc tài.
Tiếp đến là Thiếu Tướng Phát với Sư
Đoàn 25 Bộ Binh trong tay nhưng không đủ bản lãnh
lật đổ, lại là cơ hội tốt giúp cho Trung Tướng Nguyễn Văn
Thiệu, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, và Thiếu Tướng
Nguyễn Cao Kỳ, đẩy luôn Trung Tướng Nguyễn Khánh lưu vong.
Vài tháng sau đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có,
nhân danh quân đội nhận trách nhiệm lãnh đạo
quốc gia theo yêu cầu của chánh phủ dân sự Phan Huy
Quát. Đây là lời yêu cầu trên văn bản,
nhưng văn bản còn có mặt trái hay không
thì tôi không rõ. Nhưng vẫn chưa thực hiện
chế độ dân cử (theo tôi, là do yếu tố an ninh hơn
là yếu tố độc tài quân phiệt) cho đến khi cuộc
“Khủng Hoảng Miền Trung” đòi hỏi mới chấp nhận. Liệu sự chấp
nhận bầu cử Quốc Hội Lập Hiến có phải là sự thúc
giục của Hoa Kỳ từ phía sau, hay thật sự là do
phía chống đối đòi hỏi? Nhưng rõ ràng
là đến lúc này thì Hoa Kỳ hài
lòng và kết thúc chuỗi biến cố chính trị
mà họ điều hướng trong 3 năm qua.
Nếu đúng như vậy thì tại sao Hoa Kỳ
phải kiên nhẫn trong một thời gian khá dài với một
thái độ âm thầm nhưng rất hiệu quả để hướng đến một chế độ
dân cử? Ta biết rằng, cơ chế thượng tầng kiến trúc của Hoa
Kỳ gồm Lập Pháp, Hành Pháp, và Tư
Pháp, được tổ chức và điều hành theo quan niệm
“Kiểm Soát và Cân Bằng”, nhưng Quốc Hội có
tiếng nói mạnh hơn về chính sách viện trợ ngoại
quốc. Trong chính sách này, tiêu chuẩn
có tính cách quyết định viện trợ hay không
viện trợ là chế độ ‘dân chủ hay không dân chủ’
tại quốc gia mà họ cứu xét viện trợ. Vì vậy
mà Hành Pháp Hoa Kỳ khi thực hiện chiến lược
quân sự tại Việt Nam Cộng Hòa, vẫn phải trong khuôn
khổ chính sách viện trợ của Lập Pháp. Điều
đó có nghĩa là, khi Hành Pháp sử
dụng các Tướng Lãnh lật đổ chế độ dân cử Việt Nam
Cộng Hòa, thì họ phải bằng mọi cách xây dựng
lại chế độ dân cử để tránh áp lực của Lập
Pháp, ảnh hưởng đến chiến lược quân sự tại Á
Châu của họ. Và họ đã thành công, tuy
cũng gần 3 năm sau kể từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô
đình Diệm.
Trở lại tình hình Miền Trung.
Dưới quyền của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan,
các thành phần Cảnh Sát và An Ninh
Quân Đội lần lượt bắt giữ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi,
Trung Tướng Tôn Thất Đính, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao,
và Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Riêng Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Chuân đã theo lệnh về Sài Gòn họp
và bị giữ từ hạ tuần tháng 4/1966. Ngoài ra, lực
lượng an ninh còn bắt giữ nhiều người nữa, trong số đó
có Đại Tá Đàm Quang Yêu, Tư Lệnh Quân
Đoàn Trần Hưng Đạo của phía chống đối, và
bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Đà Nẳng.
Song song với công tác bắt giữ một số
nhân vật, là công tác bổ nhiệm các
nhân vật khác thay thế:
Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư
Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn
I/Quân Khu I.
Đại Tá Ngô Quang Trưởng, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn
1 Bộ Binh.
Đại Tá Phan Hòa Hiệp, nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 2
Bộ Binh.
Trung Tá Lê Chí Cường, đang là Chỉ Huy
Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, nhận chức Thị Trưởng
Đà Nẳng.
Tiếp đó là nhiều chức vụ trưởng cơ
quan đơn vị tại Đà Nẳng và Huế đã tích cực
tham gia lực lượng chống đối trung ương, đều bị thay thế.
Một quyết định đãi ngộ dành cho những
sĩ quan được xem là có công được ban hành
không văn bản, mà chỉ bằng điện thoại do văn phòng
tôi phụ trách chuyển đến vị Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư
Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, và Chỉ Huy Trưởng binh chủng
Thiết Giáp. Rằng, những sĩ quan do các vị Tư Lệnh
và Chỉ Huy Trưởng chọn và đề nghị lên Tổng Tham mưu
Trưởng, sẽ được du lịch Hong Kong một tuần lễ. “Sự vụ lệnh” do Bộ Quốc
Phòng cấp với lý do “công vụ đặc biệt”. Với
lý do như vậy, các sĩ quan sẽ được ngân sách
quốc phòng đài thọ tiền vé phi cơ khứ hồi
cùng với khoản tiền trên căn bản tiền công
tác ngoại quốc mỗi ngày nhân lên cho 7
ngày. Ngoài ra, vị trưởng đoàn được cấp thêm
một khoản nữa gọi là phụ cấp ngoại giao.
Có tất cả 4 danh sách và mỗi
danh sách gồm 7 sĩ quan. Được quyền đưa vợ tháp
tùng và trường hợp này thì Bộ Quốc
Phòng chỉ đài thọ tiền vé phi cơ mà
thôi. Danh sách khi được Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng
duyệt y (thật ra Trung Tướng Viên không thêm bớt một
sĩ quan nào) thì văn phòng chúng tôi
làm mọi việc và mang tay lên Bộ Quốc Phòng
trao cho chánh văn phòng. Tiếp đó là
ông Tổng Trưởng ra lệnh cho Tổng Giám Đốc Tài
Chánh và Thanh Tra Quân Phí làm thủ
tục ngay. Nghĩa là thủ tục rất nhanh chóng. Hai vị Tư
Lệnh Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đứng đầu danh
sách của binh chủng.
Đầu tháng 7 năm 1966, Trung Tướng Cao Văn
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, gọi tôi vào văn
phòng và ra lệnh:
- “Chú mời các vị trong Hội Đồng
Kỷ Luật Đặc Biệt về họp trong hai ngày 8 và 9 (7/1966)
tại phòng họp số 2 (tức phòng họp Tân Sinh
Nông Thôn). Chú liên lạc với An Ninh
Quân Đội tổ chức thu băng để làm biên bản.
Không một ai được vào phòng khi đang họp.
Chú lo thức ăn trưa tại chỗ”.
- “Thưa Trung Tướng, về an ninh phòng họp có cần tổ chức
đặc biệt hay như thường lệ?
- “Không cần đặc biệt lắm đâu, tùy chú xem
tình hình mà thích ứng. Chú mời
các vị Tướng bị giữ vào phòng bên cạnh,
chú phải luôn luôn có mặt tại chỗ và
lo ăn sáng ăn trưa cho các ổng. Chú lần lượt mời
từng vị vào phòng họp của Hội Đồng mỗi khi tôi
thông báo”.
Thành phần Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt,
không phải là thành phần của Hội Đồng Quân
Lực, vì chỉ gồm các Tướng Lãnh mà
thôi.
Ngày họp. Bàn ghế trong phòng
họp được xếp theo hình chữ U, đáy chữ U là
bàn của chủ tọa đoàn, gồm: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu,
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung
Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Linh quang Viên
trong chức vụ Thư Ký của Hội Đồng, phụ trách đọc
các bản cáo trạng. Còn trên đầu chữ U
có bục gỗ dành cho vị Tướng “bị cáo”, tạm gọi
là “vành móng ngựa”. Bên góc
trái cuối phòng họp có cái phòng nhỏ
được thiết trí máy thu băng và máy khuếch
đại âm thanh. Chỉ có chuyên viên truyền tin
và sĩ quan An Ninh được ra vào phòng này.
Trước cửa có Quân Cảnh gác. Phía sau lưng
phòng họp là một phòng khá rộng dành
cho 5 vị Tướng “bị cáo” ngồi chờ đến lượt, đồng thời cũng
là nơi mà văn phòng tôi lo ăn sáng ăn
trưa cho quí vị ấy. Tôi được ra vào phòng
họp lẫn phòng thu băng.
Buổi họp bắt đầu. Trung Tướng Thiệu, rồi Thiếu
Tướng Kỳ, trình bày lý do với các vị Tướng
Lãnh thành viên của Hội Đồng, cũng là
cách cung cấp cho các thành viên nắm được
nguyên nhân và sẳn sàng thực hiện nhiệm vụ
đặc biệt trong hai ngày họp này. Khi phòng họp sẳn
sàng, theo lệnh Trung Tướng Viên, tôi mời Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi vào trước và hướng dẫn đến
bục gỗ. Ông bước vào “vành móng ngựa” với
thái độ thản nhiên như một vị chủ tọa đã từng đứng
lên bục gỗ này để ban huấn thị vậy. Trung Tướng Thiệu:
- “Hôm nay, Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt họp
để nghe Trung Tướng trình bày về những việc làm
của Trung Tướng trong thời gian xáo trộn chính trị tại
Miền Trung, vì có những điều mà Hội Đồng chưa biết
chắc là Trung Tướng có phải đã hành động
như thế hay không, để Hội Đồng có quyết định không
nhầm lẫn. Mong rằng, Trung Tướng cho biết sự thật”.
Sau đó, Trung Tướng Linh Quang Viên, với tư cách
Thư Ký của Hội Đồng đã đọc bản cáo trạng với từng
lời tuyên bố cũng như những hành động của Trung Tướng Thi
trong thời gian nói trên. Đọc xong, Trung Tướng Thiệu mời
Trung Tướng Thi biện minh về những lời cáo trạng vừa nêu.
Trung Tướng Thi, vẫn bình thản tự nhiên, và
nói một cách mạnh mẽ rằng:
- “Bây giờ tôi có nói
như thế nào đi nữa thì quí vị cũng không tin
tôi, do đó mà tôi không có điều
gì để trình bày với quí vị. Quí vị
quyết định như thế nào thì tùy quí vị”.
Trung Tướng Thi dùng chữ rất hay. Ông
nói “quí vị quyết định thế nào là
tùy quí vị” chớ ông không nói
“quí vị quyết định thế nào thì tôi thi
hành thế ấy”.
Thiếu Tướng Vĩnh Lộc -Tư Lệnh Quân
Đoàn II- nói gần như tha thiết với Trung Tướng Thi
là nên trình bày sự thật để anh em trong Hội
Đồng hiểu rõ được sự việc. Trung Tướng Thi vẫn giữ nguyên
câu nói của ông vừa rồi, và ông xin ra
khỏi phòng họp.
Có thể thừa nhận là Trung Tướng
Nguyễn Chánh Thi có dũng khí của người làm
Tướng, điều mà không phải vị Tướng nào cũng
có được như ông. Nhưng cũng có thể là
ông thấy không có cách nào để biện
minh nên thà tỏ ra cứng rắn vẫn hơn chăng? Theo tôi,
Trung Tướng Thi quả là có dũng khí của vị Tướng.
Vị kế tiếp là Trung Tướng Tôn Thất
Đính. Rất dễ dàng trông thấy Trung Tướng
Đính có cố gắng bình tỉnh nhưng ông
đã không nén được nỗi lo âu trên
nét mặt khi bước vào “vành móng ngựa”.
Trung Tướng Thiệu cũng nói những lời như đã nói
với Trung Tướng Thi, và rồi Trung Tướng Viên đọc
cáo trạng của ông. Trung Tướng Đính dần dần lấy lại
sự bình tỉnh, rồi bắt đầu ồn ào với những lời biện minh,
nhưng là biện minh một cách gượng gạo nên
không đủ lý lẽ để xóa bỏ được câu cáo
trạng nào cả.
Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao là vị thứ ba
vào “vành móng ngựa”. Tiếp đến Thiếu Tướng Nguyễn
Văn Chuân, và sau cùng là Chuẩn Tướng Phan
Xuân Nhuận. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên
(Linh Quang Viên), theo điệp khúc như đã đối với
Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, nghĩa là một vị giới
thiệu mục đích buổi họp và vị kia thì kê
khai những “tội” của từng vị bị cáo. Bản cáo trạng của
Trung Tướng Thi, Trung Tướng Đính, và Chuẩn Tướng Nhuận
rất dài, vì các vị này chống đối trung ương
từ đầu, còn cáo trạng của Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng
Chuân thì ngắn thôi, vì không chống
nhưng cũng không làm tròn nhiệm vụ trong chức vụ Tư
Lệnh Quân Đoàn I. Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng
Chuân khá bình tỉnh khi biện minh và biện
minh ngắn gọn, trong khi Chuẩn Tướng Nhuận khóc sướt mướt với
những lời trình bày toàn kêu oan, chỉ
vì ông một lòng lo giải quyết tình
hình xáo trộn tại Huế.
Lúc bấy giờ tôi được lệnh cho
phát lại đoạn băng thu cuộc đàm thoại giữa Chuẩn Tướng
Nhuận (tại Huế) với vị Thượng Tọa tại chùa Ấn Quang (Sài
Gòn). Trong đoạn băng đó có lời của Chuẩn Tướng
Nhuận rằng: “….. Thưa Thầy, con quyết tâm đấu tranh đến khi
nào ba tên Thiệu, Kỳ, Có từ chức mới thôi
…..”. Nghe xong, Chuẩn Tướng Nhuận òa khóc.
Thật lòng mà nói, tôi
không hiểu tiếng khóc của ông có nghĩa
là thú nhận lời của ông, hay đó lại
là nước mắt kêu oan chỉ vì ông muốn lợi dụng
những vị lãnh đạo Phật Giáo để giải quyết tình
hình, chớ những lời đó không phải là thật
lòng? Cho dù là như thế nào đi nữa,
rõ ràng là phong cách của Chuẩn Tướng Nhuận
không xứng đáng với cấp bậc mà Trung Tướng
Nguyễn Khánh, nhân danh Quốc Trưởng trao gắn cho ông
một năm trước đó.
Ngày hôm sau, Hội Đồng Kỷ Luật thảo
luận gần như suốt ngày để đạt đến một kết luận thống nhất, kết
luận đó trở thành “bản án” và bản án
này làm cho “một loạt những vì sao rơi rụng”. Bản
án trừng phạt mỗi vị “60 ngày trọng cấm” và giải
ngũ bắt buộc. Riêng Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận bị
giáng xuống cấp Đại Tá, và giải ngũ. Trong khi
thảo luận, Trung Tướng Cao văn Viên và Thiếu Tướng Nguyễn
Cao Kỳ, có nhắc lại lời viết của Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao trong
một phúc trình trình lên Tổng Thống
Ngô Đình Diệm sau vụ thất bại trận Ấp Bắc (Mỹ Tho) đầu năm
1963. Lời viết đó là “……. Khi tôi (tức Thiếu Tướng
Cao) giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, tôi đã
từng trăm trận trăm thắng ……” Và đối với Chuẩn Tướng Nhuận,
Thiếu Tướng Kỳ cho là chỉ xứng đáng làm một
Thượng Sĩ thôi.
Hình phạt “trọng cấm” là hình
phạt cao nhất đối với sĩ quan mà quy chế qui định. Thông
thường một sĩ quan khi bị phạt một lần hay nhiều lần cộng lại lên
đến 60 ngày trọng cấm thì bị giải ngũ, vì
xem như sĩ quan đó có thành tích xấu,
không xứng đáng là sĩ quan nữa. Hình phạt
nhẹ hơn là hình phạt “khinh cấm”.
Một tuần sau ngày họp nói trên,
một biên bản được hoàn thành với 157 trang
đánh máy quay ronéo một mặt, cở 21×27
phân, bìa màu xanh, được mang tay đến các vị
thành viên của Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt. Xem xong, phải
hoàn lại Cục An Ninh Quân Đội. Riêng tôi được
“tặng” một bản ngoài số bản quay ronéo, nhưng cuối
cùng tôi phải đốt một phần cùng với nhiều tập
tài liệu mà tôi đã ghi chép từ
tháng 8 năm 1963. Khi tôi vào tù, nhà
tôi bị lục soát một tuần lễ nên ban đêm vợ
tôi đã lén đốt một phần nữa. Và phần
còn lại thì bị quân cộng sản lục soát
khám xét, chúng xé từng mảnh hoặc vứt từng
trang tung toé khắp nhà. Sau cuộc lục soát
này, vợ tôi lượm lại từng trang từng mảnh cho vào
bao, đến khi tôi ra tù mới góp nhặt dán lại,
cũng bổ túc được một số chi tiết khi tôi lén
lút viết lại và lần lượt nhờ người mang qua Mỹ. Phần viết
lại này được 1600 trang giấy học trò.
“Cuộc khủng hoảng miền Trung” kết thúc bằng
bản án nói trên, nhưng với nét nhìn
chung cuộc thì các vị Tướng Lãnh lãnh đạo
quốc gia đã phải chấp nhận tiến đến xây dựng cơ cấu
dân chủ, mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến
vào hạ tuần tháng 9/1966, Như vậy:
Theo quí vị quí bạn, “ai thắng
và ai thua” trong cuộc khủng hoảng này?
Và cuộc khủng hoảng gần 3 tháng qua,
phải chăng là một thử thách khả năng và bản
lãnh của các vị Tướng Lãnh trong trách
nhiệm lãnh đạo quốc gia thời chiến? Nếu là thử
thách, theo quí vị quí bạn, thì các
vị ấy như thế nào?
Chương Bảy
Vài Sự Kiện Quan Trọng
(trong những năm 1967-1974)
Tôi rời chức vụ chánh văn phòng
Tổng Tham Mưu Trưởng vào những ngày cuối năm 1966 để nhận
chức tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), nên không có
điều kiện theo dõi những sự kiện chính trị từ trong căn
phòng nhỏ hẹp của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa (Trung Tướng Viên thăng cấp Đại Tướng
nhân lễ Quốc Khánh năm 1967), nơi mà các vị
lãnh đạo với tất cả quyền lực trong tay thường hội họp và
quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia trong năm 1965 và
1966. Giữa năm 1968, tôi thuyên chuyển trở lại Bộ Tổng Tham
Mưu, phục vụ trong bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận với chức vụ
Chánh Sở Kế Hoạch Chương Trình. Năm 1972, nhận chức Cục
Trưởng Cục Mãi Dịch. Năm 1974, nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng
Cục Tiếp Vận. Trong thời gian này cho đến giờ thứ 25 của cuộc
chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tôi có cơ hội trực tiếp lẫn
gián tiếp, theo dõi được tình hình quốc gia
qua một số sự kiện quan trọng trong phần này và những
phần tiếp sau.
***
Quỹ Tương Trợ & Tiết Kiệm Quân
Nhân.
Xin nhắc lại rằng, đầu tháng
6/1965, Thủ
Tướng Phan Huy Quát gởi văn thư mật, yêu cầu Hội Đồng
Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia,
vì do bất đồng quan điểm với Quốc Trưởng khi thay đổi nhân
sự trong nội các mà Quốc Trưởng từ chức, và Thủ
Tướng phải từ chức theo. Văn thư nhấn mạnh, nếu Hội Đồng Quân Lực
không nhận trách nhiệm này thì tình
hình có thể sẽ trở nên rối loạn. Sau hai
ngày họp, Hội Đồng Quân Lực quyết định chấp nhận lời
yêu cầu của Thủ Tướng.
Để có khả năng đảm nhận trách nhiệm
lãnh đạo quốc gia, Hội Đồng Quân Lực đã tổ chức hai
cơ cấu: Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu
giữ chức Chủ Tịch, và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương
do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch. Chủ Tịch Ủy Ban
Lãnh Đạo Quốc Gia hành sử chức năng Quốc Trưởng,
và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức Thủ
Tướng chánh phủ.
Ngày 19 tháng 6 năm 1965, tất cả
thành viên của hai Ủy Ban này đã ra mắt quốc
dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Trong năm
1965 và 1966, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã tổ chức
hai lần “Đại Hội Toàn Quân”, để quyết định đường lối
hành động trong trách nhiệm quân đội lãnh
đạo quốc gia. Thật ra những thành viên của hai lần Đại Hội
này, tôi có tham dự cả hai đại hội, hằng
ngàn quân nhân đại diện toàn quân về
Sài Gòn tham dự để nghe quí vị thành
viên của hai Ủy Ban trình bày về những chính
sách của các ngành sinh hoạt quốc gia, và
trong một chừng mực nào đó, có thể xem đây
là một sách lược quốc gia.
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ với
tư cách Thủ
Tướng, đã tuyên bố nội các của ông là
“nội các chiến tranh” và là “chánh phủ của
người nghèo”. Sau đó ông có thực hiện một số
chính sách giúp đỡ người dân cải thiện
đôi chút cuộc sống, như:
Bán xe Lambretta 3 bánh trả
góp dùng chở khách trong thành phố.
Đây cũng là cách gia tăng phương tiện chuyên
chở công cộng trong thành phố,
Cất nhiều khu nhà liên kế, bán
trả góp cho quân nhân viên chức.
Bán xe gắn máy 2 bánh cho
quân nhân trả góp.
Tổ chức hệ thống Quân Tiếp Vụ, bán hàng tiêu
dùng thông thường với giá miễn thuế cho quân
nhân và gia đình.
Và vân … vân . . .
Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia quyết
định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân các
cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng.
Lúc bấy giờ, quân số chủ lực quân khoảng 450.000
người (chưa kể quân số Địa Phương Quân và Nghĩa
Quân). Chỉ 100 đồng thôi vì ngân sách
không thể chi trả nhiều hơn nữa, mà 100 đồng thời điểm ấy
cũng chẳng mua sắm được gì. Cũng không rõ là
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia có chấp thuận cho Bộ Quốc
Phòng hay không, về việc sử dụng 100 đồng đó để
thành lập một quỹ gọi là “Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân”, và chỉ áp dụng cho
quân nhân chủ lực quân mà thôi. Mục
đích của quỹ như tên gọi là “vừa tiết kiệm vừa
tương trợ quân nhân và gia đình”. Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Vỹ, Tổng Trưởng Quốc Phòng, giữ chức Chủ Tịch Hội
Đồng Quản Trị. Tôi không nhớ hết các vị thành
viên trong Hội Đồng Quản Trị, chỉ nhớ là có vị Tổng
Giám Đốc Tài Chánh Thanh Tra Quân
Phí/Bộ Quốc Phòng, và Thiếu Tướng Đồng Văn
Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ) Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận/Bộ Tổng Tham Mưu.
Tôi không rõ vị nào
đã đưa ra đề nghị này, nhưng có điều là Quỹ
này có hợp lệ hay không thì nhiều dư luận
trái ngược nhau, mặc dù Quỹ đã được Bộ Nội Vụ cấp
giấy phép hoạt động. Vì Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia
quyết định tăng lương là trách nhiệm của cấp lãnh
đạo đối với quân nhân, nhưng Bộ Quốc Phòng đã
thay mặt quân nhân quyết định thành lập Quỹ. Ngay
trong Bộ Tổng Tham Mưu, các quân nhân cũng
phàn nàn quyết định này không ít,
vì Họ là thành viên đương nhiên nhưng
không hề được hỏi ý kiến về việc nên hay không
nên thành lập Quỹ.
Với lại trên nguyên tắc, Quỹ này
không phải của quân đội mà lại do vị Tổng Trưởng
Quốc Phòng nắm chức Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Các
thành viên trong Hội Đồng đều được lãnh phụ cấp.
Các vị khác thì tôi không rõ,
nhưng riêng Thiếu Tướng Đồng Văn Khuyên lãnh xong
là ông hoàn vào quỹ. Chính mắt
tôi thì không thấy, nhưng Thiếu Tướng Khuyên
nói điều này trong những buổi họp tham mưu của Tổng Cục
Tiếp Vận. Xin tạm gác sự kiện này sang một bên, để
theo dõi dư luận đồn đoán xoay quanh nguyên
nhân dẫn đến quyết định tăng lương mà là số tiền
được tăng gần như chẳng đáng là bao so với vật giá
thị trường.
Lúc bấy giờ, dư luận từ các
nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Đạo
Quốc Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân
nhân chuẩn bị cho liên danh quân đội ra ứng cử Tổng
Thống-Phó Tổng Thống, chớ thật ra số tiền được tăng đó
không có giá trị bao nhiêu về vật chất.
Và rồi quí vị Tướng Lãnh ra
ứng cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai
liên danh: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh,
và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Sự
kiện này đã đưa quân đội, cho dù có
thản nhiên đến mấy đi nữa, tự nó đã hình
thành ba khuynh hướng: Một khuynh hướng ủng hộ Trung Tướng
Thiệu, một khuynh hướng khác ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ, và
một khuynh hướng khác nữa thì không quan tâm
mấy đến việc phải ủng hộ liên danh nào. Nếu tình
trạng hai liên danh vẫn quyết tranh đua trong cuộc bầu cử
này thì sự phân hóa trong quân đội
là điều không tránh khỏi, và đó
là điều tệ hại cho quân đội, cho quốc gia. Cũng may,
các vị Tướng Lãnh đã vận động hai vị đứng đầu hai
liên danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử,
thì Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh
với Trung Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại câu
lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng trong “sự thành công”
đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có hứa nếu đắc cử Tổng
Thống, ông sẽ tham khảo các vị như trong thành phần
Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia về đường lối chính sách
quốc gia. Đồng thời ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ
là sẽ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc -người đứng chung
liên danh với Thiếu Tướng Kỳ lúc 2 liên danh
riêng rẽ- thành lập chánh phủ.
Trở lại Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm
Quân Nhân. Khi quân số chủ lực quân gia tăng
thì số vốn hằng tháng cũng theo đó mà gia
tăng. Khi quân lực lên đến hơn 1 triệu quân
thì chủ lực quân xấp xỉ con số 600.000 người, và
như vậy có nghĩa là số vốn hằng tháng của quỹ
ngoài các khoản lời khác, được tăng thêm đến
60.000.000,00 đồng. Có thể nói mà không sợ
lầm lẫn, lúc bấy giờ chưa có cơ sở tài
chánh nào tại Việt Nam mà số vốn gia tăng nhiều
đến như vậy cả. Điều này ít nhất cũng là một trong
hai nguyên nhân dẫn đến việc Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân “bị đánh sập” sau 51 tháng
hoạt động. Nguyên nhân thứ hai, tôi sẽ thuật tiếp ở
phần sau.
Trong thời gian thành lập Quỹ Tương Trợ
và Tiết Kiệm Quân Nhân, tôi đang phục vụ tại
tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) nên không trực tiếp thấu hiểu,
nhưng năm sau đó (1968) tôi thuyên chuyển về Tổng
Cục Tiếp vận mới có cơ hội nghe Thiếu Tướng Đồng Văn
Khuyên cho biết thêm về tổ chức và hoạt động của Quỹ
này. Theo ông, số vốn ngày càng gia tăng
nhanh chóng và Hội Đồng Quản Trị quyết định thành
lập một số cơ sở dịch vụ và kinh doanh, song song với gia tăng
số vốn đầu tư vào các công ty dệt sợi, đặc biệt
là Vimytex (Việt Mỹ Dệt Sợi Công Ty). Đây là
công ty dệt sợi lớn nhất lúc bấy giờ. Hằng năm, công
ty này trúng thầu khoảng 50% đến 70% trong số 30 tỷ đồng
(Việt Nam Cộng Hòa) cung cấp vải treillis thường và
treillis ngụy trang dùng may quần áo trận cho quân
nhân. Ngoài ra còn các nhu cầu vải sợi
khác, như: vải may quân phục Không Quân, Hải
Quân, vải may mùng, may võng, may mũ, vải che mưa,
vải dùng lau chùi vũ khí, vải may quân phục
đại lễ, quân phục mùa đông cho sinh viên
Trường Võ Bị Quốc Gia, quân phục cho sinh viên
Trường Bộ Binh Thủ Đức, vải may quân phục cho quân
nhân công du hoặc du học ngoại quốc, ..v..v..
Theo thời gian, các cơ sở sau đây được
thành lập: Kỹ thương ngân hàng. Công ty bốc
dỡ hàng hóa tại cảng Sài Gòn. Công ty
vận tải. Công ty sản xuất vật liệu xây dựng. Xây cất
tòa nhà nhiều tầng tại số 8 đại lộ Nguyễn Huệ khu trung
tâm thủ đô, dự trù sử dụng cho văn phòng
ngân hàng, cho các công ty do Quỹ
thành lập, và cho thuê. Tòa nhà
này thường được gọi là “cao ốc số 8 Nguyễn Huệ”.
Quan điểm táo bạo
nhất là Hội Đồng
Quản Trị sẽ tiến đến xây dựng nhà máy sản xuất đạn
bắn thẳng mà khởi đầu là tân trang. Quan điểm
này càng trở nên mạnh mẽ khi Trung Tướng (đã
được thăng cấp) Đồng Văn Khuyên được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng
Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Không biết do đâu mà quan điểm này lọt ra
ngoài, và phía Hoa Kỳ bắn tiếng xa gần là
sẽ không hỗ trợ mục tiêu này nếu như Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa thực hiện.
Rất có thể đây là nguyên
nhân thứ hai mà tôi vừa nói ở trên. Hoa
Kỳ cho rằng, họ sẽ cung cấp đầy đủ đạn dược với phí tổn nhẹ hơn
so với giá thành sản xuất tại Việt Nam. Đúng hay
không thì chưa rõ, vì phải nắm được
giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ mới so sánh được,
với lại trong nghiên cứu chiến lược lắm khi những vị lãnh
đạo phải chấp nhận phí tổn cao về kinh tế để đạt được mục
đích khác cao hơn như mục đích chính trị
chẳng hạn. Giả thuyết rằng, một viên đạn sản xuất tại Việt Nam
cùng phẩm chất mà giá thành cao hơn
giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ, chánh phủ vẫn chấp
nhận được vì cái cốt lõi của mục đích
là khả năng tự lực, còn giá thành
không phải là yếu tố quyết định cho dù đó
là yếu tố đáng quan tâm. Nhưng điều đó cho
phép ta nhận định là Hoa Kỳ không muốn Việt Nam
Cộng Hòa dần dần ra khỏi tầm kiểm soát của họ, mà
đây là bước đầu Hội Đồng Quản Trị muốn thử nghiệm.
Và theo tôi, đây là nguyên nhân
thứ hai góp phần dẫn đến quyết định đánh sập Quỹ Tương
Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà lại là
quyết định từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu!
Số tiền thanh trả cho quân nhân
và gia đình ra khỏi Quỹ, ngày được gia tăng nhiều
hơn lúc đầu nhờ vào số lời thu được từ các nguồn
đầu tư.
Đùng một cái, Tổng
Thống chỉ thị
Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thành lập Ủy Ban Thanh Tra
do Đại Tá Trương Bảy (về sau là Chuẩn Tướng ngành
Cảnh Sát) trách nhiệm, và Cục Mãi Dịch
là cơ quan được nhắm vào như là trọng tâm.
Đại Tá Trương Bảy là sĩ quan ngành Tiếp Vận,
và ông là vị Cục Trưởng thứ hai từ khi ngành
Mãi Dịch trong quân đội thành lập năm 1964. Cơ quan
này căn cứ vào thể lệ mãi ước hành
chánh quốc gia, và căn cứ vào nhu cầu cùng
những điều kiện kỹ thuật do các ngành liên hệ cung
cấp, có trách nhiệm thiết lập hồ sơ đấu thầu và đệ
trình Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận (nếu khế ước có trị
giá đến 80 triệu đồng lúc thành lập ngành,
và năm 1973 tăng lên đến 200 triệu) và Tham Mưu
Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu quyết định (nếu khế ước trị giá
80.000.001 đồng trở lên, và năm 1973 thì từ
200.000.001 đồng trở lên).
Khi thành lập Quỹ Tương Trợ và Tiết
Kiệm Quân Nhân, không ít sĩ quan ngay tại
quân trấn Sài Gòn tỏ ý than phiền việc
thành lập Quỹ cũng như Hội Đồng Quản Trị Quỹ này
không nằm trong nguyên tắc hành chánh
nào cả, vì tổ chức này không hoàn
toàn quân sự cũng không hoàn toàn
là dân sự. Nhưng khi Quỹ bị bắt buộc giải tán
và chi trả tài sản cho quân nhân thì
dư luận quay lại ủng hộ Quỹ, cho rằng Tổng Thống đã bị
“tài phiệt Chợ Lớn” và Hoa Kỳ khống chế, đành
tâm đánh sụp một cơ sở tài chánh mà
“tài phiệt Chợ Lớn” rất sợ sẽ mất độc quyền về kinh tế
tài chánh. Đúng hay không, tôi
không có được những bằng chứng xác đáng về
việc này nên không dám đánh
giá, nhưng rõ ràng là sự sụp đổ của Quỹ
Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân đã dẫn đến
bữa tiệc rất trọng thể của nhiều nhà “tài phiệt Chợ Lớn”.
Sở dĩ Cục Trưởng Cục Mãi Dịch bị Ủy Ban
Thanh Tra nhắm vào vì Cục Trưởng là một
thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện cung cấp máy
móc dụng cụ cho cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ nói
trên, đặc biệt là các thang máy chở đồ
và chở người cho cao ốc này, trị giá chung
là 60.000.000,00 đồng Việt Nam. Ủy Ban Thanh Tra kết luận, việc
thực hiện hai loại thang máy nói trên là
không đúng nguyên tắc, và hệ quả là vị
Cục Trưởng bị phạt và bị cách chức.
Ủy Ban Thanh Tra cho rằng, đáng lẽ Ủy ban Thực Hiện phải mở cuộc
đấu thầu công khai với các nhà thầu quốc tế lẫn
trong nước, đằng này Ủy Ban Thực Hiện chỉ “gọi thầu trực tiếp”
dù là với nhà thầu quốc tế, nghĩa là mời
các nhà thầu mà Ủy Ban Thực Hiện xét thấy
có khả năng thi hành khế ước để khảo giá trực tiếp
rồi trình lên Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Sở dĩ
trình lên Hội Đồng Quản Trị vì ngân khoản
này không thuộc ngân sách quốc gia, mà
là ngân khoản của Quỹ. Thật ra theo nguyên tắc
mãi ước hành chánh do chánh phủ Pháp
ban hành năm 1899 (chính xác là vậy
đó), mà nền hành chánh Việt Nam Cộng
Hòa vẫn áp dụng không mảy may thay đổi điều khoản
căn bản nào cả. Cũng theo đó, “đấu thầu công khai”
hay “gọi thầu trực tiếp”, đều đúng nguyên tắc cả,
có điều là mỗi nhu cầu tùy theo trường hợp
và thực hiện theo cách nào cho là
thích hợp nhất mà áp dụng, nhưng nhất thiết phải
có lợi cho ngân sách. Xét cho đúng
thì không có gì trái nguyên tắc
cả, với lại lần thực hiện đó giảm chi được khoản tiền
đáng kể mà lại được món hàng tốt nữa. Nhưng
khi cấp thẩm quyền muốn cho nó sập thì kết luận phải cho
nó sập, vì đó là lệnh của Tổng Thống
mà!
Lúc ấy tôi đang phục vụ tại Bộ Chỉ Huy
4 Tiếp Vận (Cần Thơ), được cử thay thế vị Cục Trưởng nói
trên. Bấy giờ là tháng 6 năm 1972. Tôi đương
nhiên là thành viên trong Ủy Ban Thanh
Lý tài sản của Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm
Quân Nhân. Ủy Ban Thanh Lý do Tổng Nha Tài
Chánh và Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc
Phòng giữ chức Chủ Tịch, có nhiệm vụ thanh lý
và hoàn trả những khoản còn lại trong thời gian
thực hiện cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ, mà trọng tâm
là xác định mức độ công tác hoàn
thành của nhà thầu Huỳnh Thi (?). Về họ thì
tôi chắc chắn là đúng, nhưng về tên của
nhà thầu thì tôi chưa dám xác định.
Trong thời gian tham gia Ủy Ban này,
tôi được biết một số sự kiện, đồng thời Trung Tá
Bùi Hy Trọng -Cục Phó Cục Mãi Dịch lúc thực
hiện hàng cho cao ốc số 8 Nguyễn Huệ- cung cấp cho tôi
những con số sau đây:
Đến khi bị cưỡng bách giải tán
thì số vốn do đóng góp là 3.520.000.000,00
(3 tỷ 520 triệu) đồng Việt Nam.
Trước đó, số tiền chi trả cho quân
nhân giải ngũ, về hưu, hi sinh, từ trần hay mất tích,
là 460.000.000,00 (460 triệu) đồng.
Khi thanh lý tài sản, đã chi
trả cho toàn thể quân nhân hội viên (gồm cả
tiền lời) lên đến 3.500.000.000,00 (3 tỷ 500 triệu) đồng.
Đã chi ra 360.000.000,00 (360 triệu) đồng vào công
trình xây dựng cao ốc Nguyễn Huệ.
Số tiền còn lại trong ngân hàng
là 500.000.000,00 (500 triệu) cùng với tài sản tại
các công ty của Quỹ ước tính cũng đến vài
chục triệu nữa.
Cao ốc số 8 Nguyễn Huệ gồm 12 tầng, cộng với
sân thượng dự trù sử dụng một nửa phía đại lộ
Nguyễn Huệ để cho thuê khai thác nhà hàng
có ca nhạc, và một tầng hầm làm chỗ đậu xe
(parking) với lối ra vào dành cho xe chuyên chở
hàng hóa sử dụng chuyển vận lên các tầng
trên, và hai máy phát điện đủ cung cấp điện
năng cho cao ốc khi bị cúp điện. Ngay tầng trệt dành cho
Kỹ Thương Ngân Hàng và phòng khách
chung cho cao ốc như tại các khách sạn lớn vậy. Bộ
Tài Chánh có ý mua lại cao ốc số 8 Nguyễn
Huệ với giá sơ khởi do Ủy Ban Thanh Lý ra giá
là 1.000.000.000,00 (1 tỷ) đồng. Khi tôi được cử
vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi
không còn trong Ủy Ban Thanh Lý nữa nên
không rõ diễn tiến như thế nào mà đến
tháng 4 năm 1975, cao ốc vẫn chưa bán được.
Hãy để mục đích thành lập cũng
như mục đích đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm
Quân Nhân đúng hay sai qua một bên,
chúng ta thử kết toán một cách tổng quát
sau 51 tháng hoạt động: Số vốn 3 tỷ 520 triệu, đã
lên đến 4 tỷ 460 triệu, cộng với cao ốc số 8 Nguyễn Huệ trị
giá 1 tỷ, cộng với tài sản tại Kỹ Thương ngân
hàng và các công ty. Nếu không bị
đánh sập, rất có thể Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm
Quân Nhân, có khả năng góp phần đáng
kể vào mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, cũng
có thể góp phần quan trọng vào mục tiêu của
quân đội từng bước tiến đến tự lực trong nền kinh tế quốc gia,
đang đặt trọng tâm vào khả năng và tiềm năng
tìm kiếm khai thác dầu hỏa dưới thềm lục địa Việt Nam,
mà Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa đặt nhiều tin tưởng vào
đó, ước tính từ năm 2000.
Không phải là ảo tưởng khi Thiếu Tướng
Đồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ), Tổng Cục Trưởng
Tổng Cục Tiếp Vận, năm 1969, giao cho tôi lúc tôi
phụ trách Sở Kế Hoạch & Chương Trình/Tổng Cục Tiếp
Vận, âm thầm nghiên cứu phác thảo một hướng đi cho
ngành Tiếp Vận từng bước tiến đến tự lực các loại dụng cụ
chiến tranh, mà một trong những nền tảng là khả năng
và tiềm năng dầu hỏa. Trong năm 1970, Thiếu Tướng Khuyên
đã chấp thuận dự thảo của tôi và ngay sau đó
đã ban hành trong toàn ngành Tiếp Vận tập
tài liệu nhỏ có tên là Đường Lối Tiếp Vận 10
điểm với dự phóng từ năm 2000 có khả năng đạt đến nếu như
những dự phóng phát triển của Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa
không quá sai lệch. Sau đó, từng lãnh vực
trách nhiệm được nghiên cứu phác thảo tổng
quát. Và rồi tháng 4 năm 1975 chợt đến, tất cả trở
thành giấy vụn.
***
Chuẩn bị phát triển quốc gia.
Hiệp Định ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam
Cộng Hòa ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến
tháng 3 năm 1973 Hiệp Định có hiệu lực. Sau đó
là trao đổi tù binh, gồm cả tù binh Hoa Kỳ
và tù binh Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản giam giữ.
Hiệp Định bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam có tên
là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vi phạm ngay khi
Hiệp Định tưởng chừng chưa ráo mực. Nhưng không vì
vậy mà chánh phủ đặt nhẹ nhu cầu phát triển đất
nước. Với những sinh hoạt khá rộn rịp, chuẩn bị các dự
án phát triển quốc gia thời hậu chiến, như:
Tháng 6 năm 1973, một phái
đoàn chánh phủ gồm quí vị: Tổng Trưởng Giao
Thông Bưu Điện, Tổng Trưởng Tài Chánh, Tổng
Giám Đốc Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ
cùng 3 vị Giám Đốc trực thuộc, Chủ Tịch Phòng
Thương Mại Sài Gòn, và nhiều công kỹ nghệ
gia thuộc Phòng Thương Mại Sài Gòn. Phía
quân đội được Thủ Tướng chỉ định đích danh 4 sĩ quan của
ngành Tiếp Vận liên quan đến các dự án của
chánh phủ, tham dự: Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, Cục Trưởng Cục
Công Binh. Đại Tá Nguyễn Hữu Bầu, Cục Trưởng Cục
Quân Nhu. Đại Tá Trần Văn Lễ, Cục Trưởng Cục Quân
Tiếp Vụ. Và tôi, Đại Tá Phạm Bá Hoa, Cục
Trưởng Cục Mãi Dịch.
Một nửa phái đoàn sang Hawaii hội
thảo với các nhà đầu tư Hoa Kỳ, rồi sang Singapore
ráp vào một nửa kia từ Sài Gòn sang
Singapore trước vài ngày, cùng nghiên cứu về
phát triển chiều cao, phát triển kỹ nghệ chế biến,
và xây dựng hải cảng dành cho loại tàu chở
container.
Trước đó, một khóa hội thảo về đầu tư
phát triển được tổ chức tại Trường Cao Đẳng Quốc Phòng
kéo dài trong 3 tuần lễ, với sự tham dự đông đảo
của công thương kỹ nghệ gia Việt Nam, và phái
đoàn kỹ nghệ gia Hoa Kỳ. Tôi được Tổng Cục Tiếp Vận chỉ
định tham dự hội thảo. Tóm tắt tổng quát các dự
án đã trình bày, gồm:
Dự án mở rộng Sài Gòn về
phía Thủ Thiêm được xem như thủ đô chính trị.
Biến vùng Rừng Sát ngập nước, lọt thỏm giữa Sài
Gòn-Biên Hòa-Vũng Tàu, thành khu chế
xuất lớn nhất Việt Nam mang dáng vấp khu kỹ nghệ Jurong Town của
đảo quốc Singapore.
Một phi trường quốc tế tọa lạc gần sông Đồng
Nai, cũng gần xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Phi
trường Tân Sơn Nhất trở thành phi trường quốc tế thứ hai.
Hầu hết những cơ sở cấp trung ương của quân
đội chuyển lên hướng xa lộ Sài Gòn-Biên
Hòa, nhường chỗ cho những dự án canh tân thủ
đô.
Tất cả đều dự trù thực hiện trong khoảng 20
năm kể từ đầu thập niên 1980. Với những dự án này
-trong một chừng mực nào đó- cho thấy chánh phủ
vẫn tin tưởng vào Hiệp Định, dù rằng bị cộng sản vi phạm
ngay sau khi Hiệp Định có hiệu lực.
Sở dĩ tôi được tham dự khoá hội thảo
này vì tôi trách nhiệm liên lạc với Bộ
Kế Hoạch lúc đầu, về sau là Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa, để
nghiên cứu phác thảo một quan niệm tổng quát về khả
năng ngành Tiếp Vận có thể từng bước tiến đến tự lực về
dụng cụ chiến tranh, căn cứ vào khả năng và tiềm năng
quốc gia mà dầu hỏa được xem là nền tảng cho công
cuộc phát triển đất nước. Công tác đang diễn tiến,
thì lần lượt Phước Long rồi Ban Mê Thuột thất thủ,
rút bỏ Cao Nguyên, rồi những cuộc lui binh hỗn loạn từ
tuyến đầu Quảng Trị cho đến Cam Ranh, ..v..v.. thế là kết
thúc.
Ngay trong năm 1973, trong phạm vi Tổng Cục Tiếp
Vận, gồm 8 ngành chuyên môn: Quân Nhu,
Quân Cụ, Quân Y, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ,
Công Binh, Truyền Tin, và Mãi Dịch quân đội,
thực hiện chương trình cải tổ để thích nghi với viện trợ
quân sự Hoa Kỳ sẽ giảm nhiều. Trọng tâm của chương
trình cải tổ là giản lược hệ thống tổ chức về tồn trữ
và sửa chữa quân dụng theo quan niệm tập trung, để giảm
bớt số lượng tồn trữ trải mỏng theo quan niệm diện địa, vì số
lượng dụng cụ chiến tranh không nhiều như trong thời chiến. Đồng
thời áp dụng khoa quản trị vào công tác quản
trị toàn bộ dụng cụ chiến tranh bằng máy điện toán
IBM 360/50, là loại máy có khả năng rất lớn so với
quân đội của các quốc gia bạn trong khu vực Đông Nam
Á lúc bấy giờ, để giải quyết nhu cầu tiếp liệu, tồn trữ,
vận chuyển, sửa chữa và tân trang, vừa chính
xác vừa nhanh chóng. Tách hẳn kế toán với
tồn trữ, quan niệm này có nghĩa là bộ phận giữ kho
không hề biết trong kho có những món hàng
nào, số lượng bao nhiêu, hay vị trí món
hàng ở đâu. Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận
là cơ quan kế toán, và Trung Tâm Tiếp Liệu
Lục Quân là cơ quan điều khiễn.
Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng danh từ “khách hàng” để chỉ
các đơn vị Tiếp Vận tại 5 Vùng Tiếp Vận, được chỉ định
liên lạc trực tiếp với Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận
ngang qua máy điện toán để xin tiếp liệu hay sửa chữa,
nói chung là mọi nhu cầu về quản trị Tiếp Vận. Cũng xin
giải thích thêm về 5 Vùng Tiếp Vận: Vùng 1
Tiếp Vận thuộc Quân Đoàn I/Quân Khu I, Vùng 2
Tiếp Vận và Vùng 5 Tiếp Vận thuộc Quân Đoàn
II/Quân Khu II, vì lãnh thổ Vùng này
trải dài theo ven biển và từ ven biển lên tận Cao
Nguyên, Vùng 3 Tiếp Vận thuộc Quân Đoàn
III/Quân Khu III, và Vùng 4 Tiếp Vận thuộc
Quân Đoàn IV/Quân Khu IV.
Kế hoạch cải tổ đã thực hiện xong phần căn
bản về tổ chức, nhưng về máy điện toán của các
khách hàng chưa thực hiện xong, thì chế độ
dân chủ tự do chúng ta sụp đổ.
***
Viện trợ quân sự.
Tháng 3 năm 1973, Hiệp Định Paris Ngưng Bắn
Và Tái Lập Hòa Bình có hiệu lực,
nhưng ngay sau đó quân cộng sản mở cuộc bao vây tấn
công vào đồn Tống Lê Chân trong phạm vi
Quân Đoàn III do Biệt Động Quân trú
đóng. Lần lượt nhiều đơn vị khác cũng bị chúng tấn
công. Đó là sự vi phạm Hiệp Định một cách
trắng trợn mà Ban Quân Sự Liên Hợp 4 bên do
Hiệp Định Paris qui định cũng không giải quyết được gì cả.
Trong một tình hình ngưng bắn nhưng thật sự thì
chiến tranh vẫn còn nguyên đó, súng vẫn nổ,
người vẫn thương vong, nhưng mức độ viện trợ quân sự đã
giảm nhiều. Từ 1.062.000.000 (1 tỷ lẻ 62 triệu) mỹ kim năm tài
chánh 1972-1973 xuống còn 700 triệu cho năm tài
chánh 1974-1975. Cũng trong năm tài chánh
này, lần đầu tiên Cơ Quan Tùy Viên Quốc
Phòng Hoa Kỳ (gọi tắt theo tiếng Mỹ là D.A.O.) cho biết
ngân khoản viện trợ trong một năm, và là lần đầu
tiên cũng là lần duy nhất, cơ quan DAO yêu cầu Tổng
Cục Tiếp Vận cho biết quan niệm sử dụng cùng với một kế hoạch
chi tiết sử dụng số tiền viện trợ đó.
Trước khi đi sâu vào kế hoạch sử dụng
700 triệu mỹ kim viện trợ, tôi xin lướt qua đôi nét
về thủ tục viện trợ quân sự để quí vị quí bạn
có khái niệm về “đồng đô la viện trợ quân sự”
của Hoa Kỳ như thế nào. Cũng xin trình bày
rõ thêm, đây không phải là viết theo
tài liệu của Hoa Kỳ hay của Việt Nam, mà là
tôi căn cứ vào những buổi họp tham mưu của toàn
ngành Tiếp Vận mà đúc kết vào đây.
Từ khi Hoa Kỳ viện trợ quân sự trực tiếp cho Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta (1966-1967) đến cuối tài khóa
1973-1974, họ không cho chúng ta biết trước là họ
viện trợ cho chúng ta bao nhiêu trong một tài
khóa, mà họ căn cứ theo nhu cầu của chúng ta đưa
sang và họ xét thấy phù hợp với chính
sách của họ là họ cấp, dĩ nhiên là phải
thông qua các buổi họp tham mưu chuyên môn
giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với Bộ Tư
Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Quân lực Việt
Nam nhận viện trợ quân sự trực tiếp từ quân đội Hoa Kỳ chớ
không bị ràng buộc bởi đạo luật năm 1961 về viện trợ
quân sự ngoại quốc (theo chế độ MDAP), nghĩa là
không theo hệ thống Bộ Tổng Tham Mưu lên Bộ Quốc
Phòng, rồi sang Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa. Từ Bộ
Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa chuyển sang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ,
lần lượt đến Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, sau đó mới đến
Quân chủng liên hệ của Hoa Kỳ. Tôi nói nhận
viện trợ trực tiếp (theo chế độ MASF, dịch sang Việt ngữ là Quỹ
Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự), có nghĩa là mỗi
quân chủng Hải Lục Không Quân của Việt Nam Cộng
Hòa, liên hệ trực tiếp với các quân chủng Hải
Lục Không Quân của Hoa Kỳ, ngang qua các cố vấn tại
các quân chủng để đưa yêu cầu viện trợ. Trong trường
hợp này, Bộ Tổng Tham Mưu theo dõi chặt chẻ mọi diễn
tiến, nhưng Bộ Quốc Phòng thì không nắm vững như
vậy.
Bây giờ là công tác tham
mưu soạn thảo kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ quân sự
tài khóa 1974-1975. Căn cứ trên quan niệm của
Phòng 3/Tổng Tham Mưu, quan niệm của Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, là muốn duy trì một khả năng
phòng thủ trong phạm vi viện trợ giới hạn, cần:
Phải có vũ khí, gồm cả phi cơ với
chiến hạm, bom đạn và chất nổ.
Phải di động nhanh, tức là nói đến
phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy, và hàng
không, cùng với các loại nhiên liệu
thích hợp.
Phải duy trì tốt hệ thống chỉ huy liên
lạc, tức là máy móc truyền tin vô tuyến lẫn
hữu tuyến, diện địa lẫn chiến thuật.
Và phải điều trị đúng mức cho thương
bệnh binh, vì sau mỗi trận chiến thể nào cũng có
tổn thất nhân mạng, cho nên chi tiêu cho các
quân y viện cũng là nhu cầu thiết yếu.
Quan niệm cũng dứt khoát, không mua thêm bất cứ loại
quân dụng chiến tranh nào, mà đặt trọng tâm
vào kế hoạch săn nhặt cơ phận từ các quân dụng phế
thải cùng chủng loại để tân trang sử dụng.
Từ quan niệm căn bản đó, bộ tham mưu Tổng
Cục Tiếp Vận điều hợp với các Cục, soạn thảo kế hoạch như thế
này:
Với nhu cầu thứ nhất là vũ khí
thì không cần mua thêm bất cứ loại nào, cần
sử dụng tân trang trong số 2 triệu khẩu súng các
loại hiện có. Về bom đạn và chất nổ, bản thống kê
trong 3 năm trước đó do Sở Đạn Dược của Cục Quân Cụ thiết
lập, đã cung cấp một loạt thống kê về mức tiêu thụ
trung bình của từng loại vũ khí, từng loại đạn nổ, đạn
chiếu sáng, đạn khói, ..v..v.., từng loại bom, và
từng loại chất nổ. Nhóm công tác tham mưu của Tổng
Cục Tiếp Vận sử dụng những thống kê đó làm căn bản
ước tính nhu cầu năm 1974-1975 theo tình hình
chiến sự do Phòng Nhì và Phòng Ba/Tổng Tham
Mưu ước tính. Xin nhớ rằng trong năm 1971 đến 1973, chiến sự dữ
dội nhất là năm 1972, và mức tiêu thụ các
loại quân dụng chiến tranh rất cao, với ngân khoản viện trợ
quân sự năm đó lên đến 1.062.000.000 mỹ kim,
và con số này là cao nhất trong suốt 20 năm Hoa Kỳ
viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Khi chiết tính nhu cầu
đạn dược, các sĩ quan tham mưu ngành Tiếp Vận đã
phải tính riêng cho loại đạn bắn thẳng như súng
trường, súng M16, súng trung liên, đại liên,
đến các loại đạn bắn vòng cầu của súng cối,
súng đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly, hỏa tiển chống chiến
xa, ..v..v… Và rồi mỗi loại phải tính đến đạn chiếu
sáng, đạn xuyên phá, đạn khói.
Tóm lại là phải tính đến từng
chi tiết để mua đúng loại bom đạn thật sự cần thiết, đúng
chủng loại vũ khí, đúng số lượng ước tính,
và thích hợp với số tiền viện trợ. Đó cũng
là phương châm của ngành Tiếp Vận: “Đúng
lúc, đúng mức, và đúng chổ”. Không
có gì cao siêu trong cách tính
này cả, vì nó tương tự những bà nội trợ
trước khi đi chợ phải ước tính xem nấu những thức ăn gì,
để từ đó mới tính ra là mua những cá những
tôm những hành những tỏi, mỗi thứ bao nhiêu để nấu
đúng món và đủ cho số khẩu phần trong gia
đình thích ứng với hoàn cảnh mới về “kinh tế” của
gia đình. Tiếp Vận để duy trì cho một triệu quân
nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dạ
dày đến thương tích hay bệnh hoạn, hy sinh hay từ trần,
từ khẩu súng viên đạn, đến vận chuyển hay liên lạc,
..v..v.., trong một góc độ nào đó, tương tự như
bà nội trợ bảo vệ hạnh phúc gia đình, dĩ
nhiên là mức độ phức tạp khác nhau.
Áp dụng cách tính như vậy cho
nhu cầu duy trì khả năng di động với phương tiện của Lục
Quân, là xe vận tải từ 2.5 tấn trở lên, phương tiện
của Hải Quân là Giang Vận Đỉnh và Hải Vận Hạm,
phương tiện của Không Quân là phi cơ vận tải C47,
C130, ..v..v… Chỉ riêng nhu cầu các loại nhiên liệu
cho Hải Lục Không Quân đã ngốn hết 80 triệu mỹ kim
rồi, nhưng mức chi tiêu này chỉ mới bằng 2/3 chi
phí nhiên liệu của tài khoá 1973-1974
thôi.
Đối với nhu cầu cơ phận sửa chữa các loại
máy truyền tin trong hệ thống liên lạc diện địa cũng như
hệ thống liên lạc chiến thuật, cũng theo cách tính
trên. Nghĩa là loại nào cần thiết cho hai nhu cầu
trên mới đưa vào kế hoạch sử dụng ngân khoản
đó.
Cơ quan D.A.O. cũng thông báo
chánh thức cho Tổng Cục Tiếp Vận biết rằng, chế độ viện trợ
quân sự theo “Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự” (MASF) sẽ chấm
dứt vào cuối tài khóa 1974-1975, sau đó
chuyển sang chế độ “Chương Trình Viện Trợ Quân Sự” (MDAP).
Họ thông báo để Tổng Cục Tiếp Vận chuẩn bị cho kịp thời
gian, vì hệ thống viện trợ này phải theo hệ thống
vòng vo cần nhiều thời gian cho hành trình giấy tờ
thủ tục, kèm theo một danh sách dài thật
dài, ghi rõ từng loại quân dụng với từng số lượng
đang sử dụng, tiếp đó là những danh sách cơ phận
cần thực hiện cho từng loại quân dụng. Họ chấp nhận món
quân dụng nào trong danh mục của Tiếp Vận quản trị, họ mới
viện trợ “một đổi một” cũng như cơ phận thay thế nó. “Một đổi
một” tức là “mất một cái hoặc phế thải một cái Hoa
Kỳ viện trợ lại một cái”, không làm gia tăng
thêm khối lượng dụng cụ chiến tranh.
Cũng nên nói thêm về sự kiện
vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến,
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có xin thêm
ngân khoản 300.000.000,00 mỹ kim nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ
không chấp thuận, và có dư luận cho rằng vì
không có 300.000.000,00 đó mà chúng
ta thua trận! Tôi không rõ việc đó có
đúng hay không, nhưng có điều tôi biết
là đến tháng 4 năm 1975 thì tài khoá
1974-1975 vẫn còn giá trị. Điều đó có nghĩa
là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn nhận
viện trợ theo chế độ “Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự”, tức
là ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn viện trợ
trực tiếp cho chúng ta nếu họ muốn. Khi Hành Pháp
chuyển sang Lập Pháp, nếu chưa có đạo luật hay
nguyên tắc nào khác thay đổi sự điều hành
“Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự” trong hoàn cảnh bất thường
đối với Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, tôi nghĩ,
đó là cách “giã từ” của Hành
Pháp Hoa Kỳ, chớ không phải Hành Pháp
không có thẩm quyền viện trợ. Nhắc lại để có
thêm chút chuyện xưa thôi, chớ “khi muốn” thì
cách nào cũng được, còn “khi không muốn”
thì cách nào cũng xong. Chuyện đời thường
đã thế, chuyện chính trị thường khi cũng thế, chỉ
đôi khi chẳng thế! Ngôn ngữ chính trị là thế!
Chẳng hạn như chương trình “Việt Nam
Hóa Chiến Tranh” vậy thôi. Khi mắt xích tại Việt
Nam chưa thực hiện được thì chiến lược Domino của Hoa Kỳ trong
mục tiêu “be bờ” ngăn chận sự bành trướng của cộng sản
quốc tế xuống khu vực Đông Nam Á Châu, từ Đại
Hàn Dân Quốc, xuống Nhật Bản, vòng qua Trung Hoa
Dân Quốc (Đài Loan), Phi Luật Tân, ngang qua Việt
Nam Cộng Hòa, và dừng lại Thái Lan, xem như chưa
hoàn chỉnh. Thế rồi cuộc đảo chánh ngày 1
tháng 11 năm 1963 giết chết Tổng Thống Ngô Đình
Diệm, không biết có phải vì Tổng Thống từ chối
ý định của Hoa Kỳ thiết lập những căn cứ quân sự
trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay không,
đến cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, dẫn
đến Thông Điệp của Trung Tướng Nguyễn Khánh với tư
cách Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu
các quốc gia đồng minh giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa
chống quân cộng sản, mà thật ra Thông Điệp đó
chẳng khác chiếc chìa khóa dành riêng
cho Hoa Kỳ mở cửa Việt Nam thôi.
Từ đó, quân bộ chiến Hoa Kỳ lần lượt
thiết lập các căn cứ Chu Lai, Cam Ranh, Plei Ku, An Khê,
Đồng Tâm (Mỹ Tho), ..v..v.. cùng chúng ta chiến đấu
chống quân cộng sản từ miền Bắc len lỏi xâm nhập vào
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Đến khi chính trị nội
bộ Hoa Kỳ có những biến chuyển không thuận lợi cho
chánh phủ liên bang, vì quân đội đã
can dự sâu vào cuộc chiến tranh chống cộng sản trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, lúc
bấy giờ Hoa Kỳ cho rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
đã đủ mạnh để đương đầu với quân cộng sản của nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc, thế là Hoa Kỳ thực
hiện chương trình rút quân có tên gọi
là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh”. Đích thực của Việt
Nam Hóa Chiến Tranh là gì? Đơn giản mà
nói, chẳng qua là Hoa Kỳ triệt thoái quân
đội về nước mà Hoa Kỳ đã thu được trong thỏa hiệp ngưng
bắn Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 là cái
màn che chắn danh dự cho Hoa Kỳ rút quân về nước.
Còn thật sự cái Hiệp Định đó có phải
là danh dự cho cuộc triệt thoái quân đội Hoa Kỳ về
nước hay không, lại là chuyện khác!
Khi rút quân, Hoa Kỳ để lại cho
quân đội chúng ta một khối lượng dụng cụ chiến tranh gồm
đại bác 175 ly nòng dài, đại bác
phòng không, xe tăng M48, các loại giang tốc đỉnh
sử dụng tuần duyên tuần giang, phi cơ vận tải C130, ..v..v..,
là những loại thuộc vào hàng cũ kỹ kể cả số lượng
nằm hư hỏng -đáng kể là phi cơ các loại- trong
các cơ xưỡng chờ sửa chữa, mà nếu chuyển vận trở về Hoa
Kỳ không chừng phải tốn một ngân khoản tương đương với trị
giá khối dụng cụ này nữa đó.
Báo chí của những đồng minh
chúng ta, đã thật tàn nhẫn khi nói Việt Nam
Hóa Chiến Tranh chẳng qua là “thay đổi màu da
trên xác chết!” Chừng như bạn chúng ta cho
là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta
chưa bao giờ chết trận, cho mãi đến khi quân đội Hoa Kỳ về
nước chúng ta mới bắt đầu chết trận vậy!
Bài học cho chúng ta, tôi nghĩ:
“Đồng minh là đồng minh, nhưng quyền lợi quốc gia vẫn là
trên hết. Vì vậy mà những vị lãnh đạo
các cấp từ lập pháp, hành pháp đến
quân đội, hành sử chức năng của mình phải xuất
phát từ tư tưởng quyền lợi quốc gia Việt Nam hài
hòa với văn hoá Việt Nam.” Đó là bài
học thật sự cay đắng cho mọi người Việt Nam trong thế hệ đương thời,
và là bài học quí báu cho thế hệ mai
sau trên chính trường!
Chương Tám
Những Tháng Cuối
Cùng của cuộc chiến 1954-1975
Tỉnh Phước Long thất thủ ngày 7
tháng 1 năm 1975.
Tỉnh Phước Long ở phía Bắc Đông Bắc
Sài Gòn, sát biên giới Việt Nam-Cam Bốt,
là một trong những tỉnh được thành lập dưới thời Tổng
Thống Ngô Đình Diệm, trong chiến lược phòng thủ
quốc gia. Nơi đây là vùng đất chuyển tiếp của địa
hình cao nguyên cuối dãy Trường Sơn xuống đồng bằng
miền Nam. Vì vậy mà Phước Long núi không
cao, rừng không rậm rạp như rừng già Cao Nguyên. Cư
dân hầu hết là người miền núi thuộc nhiều bộ tộc
khác nhau. Thời thực dân Pháp cai trị, địa phương
này có cái tên mà bất cứ người
dân bình thường nào cũng khiếp đảm khi nghe đến,
đó là trại tù Bà Rá.
Sự ra đời của tỉnh Phước Long và tỉnh
Bình Long trong phạm vi lãnh thổ Quân Đoàn
III/ Quân Khu III, do quan niệm của Tổng Thống Diệm chuẩn bị
chống chiến tranh xâm lược của cộng sản miền Bắc dưới tên
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bởi theo Hiệp Định
Đình Chiến mà thực dân Pháp, cộng sản
Liên Xô, cộng sản Trung Hoa, và cộng sản Việt Nam
ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève,
Thụy Sĩ, thì hai năm sau đó -tức năm 1956- sẽ tổng tuyển
cử thống nhất Nam Bắc, nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm
đã chánh thức công bố là không chấp
nhận tổng tuyển cử vì chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa
không ký vào Hiệp Định đó. Mà thật
ra, trong tình hình lúc bấy giờ, nếu tổng tuyển cử
thì nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có cơ hội
chiến thắng trong cuộc bầu cử đó, có nghĩa là khối
Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo nói chung và Việt Nam
Cộng Hòa chúng ta nói riêng, bị trúng
kế của khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Và
như vậy, Việt Nam chúng ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau
sẽ bị cộng sản cai trị bằng chế độ độc tài từ đó. Hẳn
là Tổng Thống tin rằng nhóm lãnh đạo cộng sản Việt
Nam sẽ bắt đầu chiến tranh xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa,
mà bước đầu là một lực lượng lên đến hằng chục
ngàn cán bộ do chúng cài lại miền Nam bằng
cách sống chen lẫn trong gia đình, hay trong đồng
bào nông thôn miền Nam khi chúng tập kết
chuyển ra Bắc theo Hiệp Định Đình Chiến qui định. Đây sẽ
là lực lượng nòng cốt gây chiến trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Mục tiêu thành lập các tỉnh tại
những vùng mà trong cuộc chiến tranh giữa Pháp
thực dân với Việt Minh cộng sản 1946-1954 mà quân
Pháp không kiểm soát được, để có các
cơ quan hành chánh lẫn quân sự hoạt động vừa bảo vệ
dân vừa ngăn chận quân cộng sản thiết lập hạ tầng cơ sở cho
cuộc chiến tranh ước tính là rất có thể sẽ xảy ra.
Một đoạn trên quốc lộ 14 từ thị trấn Chơn Thành thuộc tỉnh
Bình Long, chạy ngang thị trấn Đồng Xoài -tức quận
Đôn Luân- thuộc tỉnh Phước Long lên hướng Đông
Bắc sẽ đến tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac. Ban Mê
Thuột được xem là thủ phủ Cao Nguyên Miền Trung. Từ
đây thẳng lên hướng Bắc sẽ đến Plei Ku, và tiếp tục
thêm khoảng 40 cây số nữa sẽ đến Kon Tum, tỉnh cuối
cùng của quốc lộ 14 trên dãy Trường Sơn. Do vậy
mà tỉnh Phước Long có tầm quan trọng về mặt chiến
lược quân sự lẫn chính trị trong chiến tranh chống cộng
sản, một loại chiến tranh mà nhà cầm quyền không dễ
gì nhận ra địch quân vì chúng sống
trà trộn trong đồng bào, thậm chí là
chúng có thể chen vào trong các cơ quan nữa.
Từ khi vùng rừng núi này trở
thành tỉnh, dân số gia tăng dần lên với số người từ
Sài Gòn cũng như các tỉnh khác đến
đây khai phá đất ba-dan trồng các loại cây kỹ
nghệ, và buôn bán làm ăn với đồng bào
sắc tộc. Tuy chưa phải là nhộn nhịp như các tỉnh
vùng đồng bằng Cửu Long hay dọc miền duyên hải, nhưng cũng
tạo được bộ mặt đầy đủ của một tỉnh lỵ cũng như các thị trấn
quận và xã.
Đầu năm 1957, quân cộng sản gài lại
trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa -nhiều nhất
là các tỉnh cực Nam đồng bằng Cửu Long- bắt đầu quấy rối
trên toàn lãnh thổ. Lúc ấy, tỉnh Phước Long
cũng trong tình trạng như vậy. Những năm đầu, hoạt động của cộng
sản tập trung vào phạm vi kinh tài và đấu tranh
chính trị với những cuộc biểu tình lẻ tẻ ở nông
thôn, hoặc vùng ngoại ô các thị trấn hay tỉnh
lỵ, phản đối những cuộc hành quân bình định, hoặc
yêu sách những tên cộng sản bị bắt. Cuối năm 1960,
quân cộng sản bắt đầu hoạt động với lực lượng du kích cấp
Trung Đội trang bị thô sơ, và từng bước chúng tiến
lên hoạt động cấp Đại Đội.
Trong những năm 60, lực lượng cấp Trung
Đoàn, rồi Sư Đoàn, được cộng sản Liên Xô
và cộng sản Trung Hoa trang bị nhiều loại dụng cụ chiến tranh
được xem là thế hệ mới. Từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa phía Bắc vĩ tuyến 17, luồn theo dãy Trường
Sơn xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng
Hòa, và thực hiện những trận đánh cấp Trung
Đoàn vào đầu những năm 70. Cho đến tháng 3 năm
1973, lực lượng cộng sản quanh quẩn trong vùng rừng núi
của Phước Long và các tỉnh lân cận lên đến
cấp Sư Đoàn, nhưng chưa làm gì được Phước Long.
Rồi ngay sau ngày Hiệp Định Paris (tháng 3 năm1973)
có hiệu lực, quân cộng sản vẫn tiếp tục chiến tranh,
có nghĩa là chúng ngang nhiên vi phạm Hiệp
Định này.
Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị
có thể là cấp Tiểu Đoàn trở lên, tấn
công quận lỵ Đôn Luân, vị trí án ngữ
quốc lộ 14 lên Ban Mê Thuột hay xuống Bình Long,
và liên tỉnh lộ 1 lên Phước Long, bị quân
trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp
thì Đôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng
khác của cộng sản đánh chiếm quận Bố Đức (?) với quận Đức
Phong (có thể tôi nhớ không chính xác
về tên Quận). Một lực lượng của Sư Đoàn 5 Bộ Binh được Bộ
Tổng Tham Mưu điều động tăng cường tỉnh lỵ, trong khi yểm trợ hỏa lực
không quân được tập trung cho Phước Long, kể cả điều động
từ Sư Đoàn 4 Không Quân ở Cần Thơ tăng cường.
Cuộc tiếp tế cho các đơn vị hành
chánh, quân sự, lẫn đồng bào trong tỉnh lỵ trở
nên khó khăn, thậm chí là rất khó
khăn vì quân cộng sản sử dụng nhiều lực lượng nhỏ phục
kích nhiều ngày mà chúng gọi là
“đóng chốt” tại các đoạn đường hiểm trở dọc theo đường
liên tỉnh số 1 dẫn lên tỉnh lỵ. Tình trạng
này làm cho công tác chuyển vận các
loại tiếp liệu bằng đường bộ không sử dụng được, trong khi tiếp
tế bằng phi cơ rất hạn chế từ sau khi Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ
rút khỏi Việt Nam theo qui định trong Hiệp Định Paris. Trong
cùng thời gian, quân cộng sản pháo kích mạnh
vào phi trường Lai Khê -nơi hoạt động rộn rịp của Sư
Đoàn 5 Bộ Binh tiếp viện Phước Long- và phi trường
Sông Bé, tỉnh lỵ Phước Long.
Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực
thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn
lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư
đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ, sau khi chở tiếp tế thực
phẩm và nhiên liệu đến nơi. Lượt về, chiếc Chinook 47
đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản
bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút. Các phi
tuần khu trục phản lực A.37 được điều động từ Sư Đoàn 4
Không Quân ở Cần Thơ lên tăng cường yểm trợ hỏa lực
cho lực lượng phòng thủ Phước Long, một trong số các phi
công phản lực A.37 -Thiếu Tá Trần Quốc Tuấn- đã
nói với tôi rằng:
- “… Em chưa bao giờ gặp hỏa lực phòng
không dày đặc bố trí chung quanh tỉnh lỵ Phước
Long. Phải nói rằng, một lưới lửa đỏ cả một vùng rộng lớn
đã gây trở ngại đáng kể cho các phi tuần khu
trục yểm trợ Phước Long …”
Ngay ngày đầu năm 1975, quân cộng sản
pháo kích khá mạnh vào căn cứ không
quân Biên Hòa, để ngăn chận những phi tuần khu trục
của Sư Đoàn 3 Không Quân cất cánh yểm trợ
Phước Long. Cũng trong những ngày đầu năm 1975, các đơn
vị cộng sản gia tăng áp lực chung quanh tỉnh lỵ với lực lượng
ghi nhận là cấp Sư Đoàn, đặc biệt sự ghi nhận về lực
lượng phòng không của chúng rất mạnh. Đang trong
tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú
phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân
giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân
Đoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Đống xin tăng
cường lực lượng tổng trừ bị nhưng không được chấp thuận. Xin
nói thêm, lực lượng tổng trừ bị dưới quyền điều động của
Bộ Tổng Tham Mưu, gồm: Sư Đoàn Nhẩy Dù, Sư Đoàn
Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 81 Biệt Cách
Dù, và Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân.
Sự bất đồng quan điểm
này, tôi nghĩ,
không phải là vấn đề lớn đến nỗi gây bất bình
cho Trung Tướng Dư Quốc Đống. Ông từng là Tư Lệnh Sư
Đoàn Nhẩy Dù, từng được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho
Quân Đoàn I, Quân Đoàn II, trong những
tình hình chiến sự tại đó, chắc ông dễ
dàng thông cảm với Bộ Tổng Tham Mưu khi sử dụng lực lượng
tổng trừ bị. Về phía Quân Đoàn III, xin thì
ông cứ xin, nhưng còn chấp thuận hay không
còn phải tùy thuộc tình hình khắp
các Quân Đoàn mà chỉ Bộ Tổng Tham Mưu mới
nắm vững. Trong thời gian Phước Long bị tấn công gần như
toàn tỉnh, thì tình hình tại Quân
Đoàn I và Quân Đoàn II cũng không phải
là yên tỉnh, và cho dù có yên
tỉnh đi nữa thì Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu là cơ
quan có trách nhiệm cập nhật hoá “bản nghiên
cứu và ước tính tình báo” cung cấp thường
xuyên cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng về tình hình tại
các vùng lãnh thổ các Quân
Đoàn trách nhiệm. Nghĩa là vị Tổng Tham Mưu
Trưởng, lúc nào cũng theo dõi thấu hiểu
tình hình quân sự khắp nơi trên lãnh
thổ.
Chỉ nhìn từ bên ngoài
thôi, lực lượng trú phòng vùng giới tuyến
phải luôn luôn trong thế sẳn sàng chống trả những
cuộc tấn công của một lực lượng cộng sản nhất thiết là
mạnh hơn các vùng lãnh thổ khác, vì
bất cứ lúc nào chúng cũng có thể từ
bên trên vĩ tuyến 17 xua quân tràn xuống tấn
công chúng ta. Có lẽ vì vậy mà Bộ
Tổng Tham Mưu tăng cường dài hạn cho Quân Đoàn I,
cả lực lượng của Sư Đoàn Nhẩy Dù lẫn Sư Đoàn Thủy
Quân Lục Chiến, trong khi Phước Long bị mất một số Quận nhưng vẫn
không đưa ra quyết định rút một phần lực lượng tổng trừ bị
từ Quân Đoàn I về tăng viện cho Quân Đoàn
III, ắt phải có nguyên nhân chính
đáng, trừ khi có nguyên nhân sâu xa
nào đó đằng sau quyết định của Tổng Thống không
chấp thuận đề nghị của Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn III.
Theo lời của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên,
Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu nói lại trong buổi họp tham mưu
của Tổng Cục Tiếp Vận, thì Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức
ngay trong buổi họp tại Phủ Tổng Thống, nhưng Tổng Thống không
chấp thuận. Lý do mà Trung Tướng Đống xin từ chức, theo
lời của cựu Đại Tướng Cao Văn Viên thì sau khi
trình bày tình hình quân sự tại Phước
Long là ông xin từ chức ngay vì ông tự thấy
không đủ khả năng.
Vậy, sự thật là Trung Tướng Đống xin từ chức
trước khi hay sau khi Tổng Thống không chấp thuận tăng cường lực
lượng cho Phước Long theo đề nghị của Trung Tướng Dư Quốc Đống? Nếu
Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức trước khi Tổng Thống không
chấp thuận tăng cường lực lượng giải tỏa áp lực cộng sản tại
Phước Long, thì tại sao ông không từ chức trước khi
Phước Long thật sự bị áp lực của quân cộng sản mà
chờ đến lúc Phước Long nguy ngập mới xin từ chức với lý
do không đủ khả năng giải quyết tình hình trong
vùng trách nhiệm? Chẳng lẽ ông sợ chiến trường
Phước Long? Còn nếu Trung Tướng Dư Quốc Đống xin từ chức
vì không được Tổng Thống tăng cường lực lượng, tôi
nghĩ, cũng không nên. Tại sao? Tại vì có
thêm quân thì tiếp tục làm Tư Lệnh,
không có thêm quân thì xin nghỉ,
mà là xin nghỉ trong khi Phước Long với hằng chục
ngàn quân lẫn dân, viên chức lẫn cán bộ
các ngành, đang trong tình trạng gần như hấp hối,
nỡ lòng nào xin từ chức để không còn
trách nhiệm với hằng chục ngàn con người bằng xương bằng
thịt mà ít ra trong chức vụ Tư Lệnh Quân
Đoàn III, ông đã có đôi ba lần được Họ
đón tiếp để nghe ông ban những huấn lệnh!
Xin nhắc lại là tôi rất ngưỡng mộ
Trung Tướng Dư Quốc Đống, lúc ông là Chuẩn Tướng,
thành viên trong Hội Đồng Kỷ Luật Đặc Biệt họp ngày
8 và 9 tháng 7 năm 1966 tại Bộ Tổng Tham Mưu, để giải
quyết 5 vị Tướng liên quan đến sự kiện khủng hoảng miền Trung từ
ngày 9 tháng 3 (1966) đến 15 tháng 5 năm 1966.
Chuẩn Tướng Dư Quốc Đống đã dõng dạc nhận mình
là người bỏ phiếu trắng, có nghĩa là riêng
ông không chống lại Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi
dù ông công nhận Trung Tướng Thi đã có
lời phát biểu cũng như những hành động sai trái
trong sự kiện khủng hoảng đó. Lý do mà ông
trình bày vì ông kính trọng Trung
Tướng Thi là bậc Thầy của ông. Đồng thời ông xin Hội
Đồng quyết định về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù của ông.
Nhưng sao bây giờ lại như vậy? Chẳng lẽ một
vị Tướng, lại là vị Tướng trong binh chủng Nhẩy Dù
mà sợ trận chiến Phước Long này sao? Hay là đằng
sau của lời xin từ chức của ông, có điều gì uẫn
khúc?
Tôi nghĩ, cho dù Tổng Thống có
chấp thuận hay không chấp thuận về đề nghị của ông xin tăng
viện cho Phước Long, ông cũng không nên từ chức.
Nói cho cùng, cho dẫu trận chiến Phước Long có đưa
ông vào ngõ cụt, ông vẫn phải dấn thân.
Đơn giản, vì ông là Trung Tướng Tư Lệnh Quân
Đoàn III, mà một
Liên Đoàn 81 Biệt Cách
Dù là một trong những đơn vị rất tinh nhuệ của quân
đội, đã phải băng rừng tháo chạy với tổn thất khá
nặng, vì được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường vào lúc
tỉnh lỵ lâm nguy nhất. Với lại cho dù thiện chiến đến
đâu đi nữa, thì quân số của Liên Đoàn
đặc biệt này cũng không sao chống nỗi một địch quân
đông vào khoảng 2 Sư Đoàn, cho nên trong
trường hợp này sự thất bại trong nhiệm vụ của Liên
Đoàn là điều không thể tránh được.
Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù do Đại Tá
Phan Văn Huấn chỉ huy trưởng, đặc biệt nổi danh trong trận chiến khốc
liệt mùa hè 1972 trong nhiệm vụ phòng thủ tỉnh lỵ
An Lộc thuộc tỉnh Bình Long. Hồi ấy, báo chí gọi
là “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” để chỉ 3 mặt trận
chính: Đông Hà/Quảng Trị, Tân Cảnh/Kon Tum,
Lộc Ninh với An Lộc/Bình Long, và mặt trận phụ là
Hà Tiên/Kiên Giang. Cả 3 mặt trận chính đều
do những Sư Đoàn quân chính qui của cộng sản từ
lãnh thổ nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
trên miền Bắc tràn xuống tấn công.
Trận chiến “mùa hè 1972” này
làm tôi nhớ lại vào những năm cuối của thập
niên 50, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang từ cấp Tiểu
Đoàn là cao nhất, được tổ chức lên đến cấp Trung
Đoàn, Sư Đoàn, rồi Quân Đoàn. Trang bị thống
nhất với toàn bộ dụng cụ chiến tranh do Hoa Kỳ cung cấp.
Lúc bấy giờ là năm 1958, sau khi tôi học xong
khóa Đại Đội Trưởng tại chi nhánh Trường Võ Bị
Liên Quân Đà Lạt trở về Tiểu Đoàn
2/Trung Đoàn 35/Sư Đoàn Khinh Chiến 12 đồn trú ở
Catecka, cách thị xã Plei Ku khoảng 8 cây số về
phía Nam. Lại dự khóa huấn luyện bổ túc Đại Đội
Trưởng tại Kon Tum do Ban Cố Vấn Sư Đoàn Khinh Chiến 12 tổ chức
trong 3 tháng. Xong khóa học, tôi chuyển lên
Bộ Chỉ huy Trung Đoàn 35, giữ chức Trưởng Ban 3 kiêm
Trưởng Ban 5 Trung Đoàn. Toàn bộ Sư Đoàn Khinh
Chiến 12 gồm Trung Đoàn 34, Trung Đoàn 35, và
Trung Đoàn 36, cùng các đơn vị yểm trợ đang trong
giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện, và chuẩn bị
vào chương trình hành quân thao dượt để Bộ
Tổng Tham Mưu trắc nghiệm kết quả huấn luyện.
Cuộc hành quân thao dượt diễn ra trong
phạm vi tỉnh Kon Tum theo quốc lộ 14 xuống Plei Ku, với tình
hình giả định là vào thời gian nào
đó, quân cộng sản từ bên trên vĩ tuyến 17 mở
cuộc tấn công vào Việt Nam Cộng Hòa với 2 mặt trận
chính: mặt trận thứ nhất là vượt sông Bến Hải tấn
công vào Đông Hà và Quảng Trị, mặt
trận thứ hai là từ lãnh thổ Cam Bốt -sườn Tây Việt
Nam- tấn công vào Dak To và Kon Tum. Trung
Đoàn 34 và Trung Đoàn 35 Bộ Binh, có nhiệm
vụ “trì hoản chiến” từ mặt trận Kon Tum xuống Plei Ku trong khi
chờ lực lượng tổng trừ bị tăng cường phản công. Còn Trung
Đoàn 36 Bộ Binh là lực lượng trừ bị của Sư Đoàn.
Lúc ấy, các sĩ quan tham mưu chúng tôi cho
rằng, quan niệm về một tình hình giả định như vậy
là không thực tế với chiến trường Việt Nam, vì sở
trường của quân cộng sản là đánh du kích,
có quá lắm là lên đến vận động chiến cấp
Trung Đoàn thôi.
Nhưng 14 năm sau, tức năm 1972, chiến trường
đã diễn ra gần đúng như tình hình giả định
trong cuộc hành quân thao dượt của Sư Đoàn Khinh
Chiến 12 vào năm 1958 vậy.
Trở lại tình hình hậu Phước Long!
Trong buổi chiều cùng ngày 7 tháng 1 năm 1975,
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu
kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, mời tất cả các đơn
vị trưởng trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn và
vùng phụ cận đến câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, để nghe
ông tóm tắt diễn biến tình hình toàn
tỉnh Phước Long, và ông nói rằng: sự thất thủ của
tỉnh này -Trung Tướng Khuyên không nói
là điều may, mà ông nói- là giảm đi
cái ung nhọt trên cơ thể, vì với khả năng
không vận hiện này mà chiến trường Phước Long cần
đến thì Bộ Tổng Tham Mưu không thể thỏa mãn nỗi.
Câu kết của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, đã
làm cho cả hội trường gần như đồng thanh “ồ” lên một
tiếng, và tiếp đến là những âm thanh xì
xào mà tôi chắc là các cử tọa đang
bất mãn về lời sau cùng của Trung Tướng Tham Mưu
Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Chính bản thân tôi cũng
nhận thấy Trung Tướng Khuyên đã không chuẩn bị trước
cho buổi họp này, nên đã nói một câu
tuy ngắn ngủi nhưng làm đau lòng những chiến sĩ
trú phòng cũng như tiếp viện Phước Long còn sống
sót, và làm tổn thương vong linh những chiến sĩ
đã ngã xuống cho sự sống còn của Phước Long!
Xin nói thêm rằng, ngoài 4 năm
phục vụ trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi
có gần 7 năm phục vụ dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Đồng
Văn Khuyên, thường khi bàn thảo với ông về những
quan niệm cùng những kế hoạch cải tiến ngành Tiếp Vận,
và qua đó, tôi nhận thấy Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên là vị Tướng rất có kinh nghiệm trong nhiều
lãnh vực hoạt động của quân đội, và một số
lãnh vực về kinh tế. Mỗi khi ông đề cập đến vấn đề
nào thì ông diễn đạt được những gì ông
nghĩ, nhưng có điều là ông nghĩ đến đâu
trình bày đến đó chớ không hoàn
toàn tuần tự từ A đến Z, nói chung là
không mạch lạc. Ông vừa có kinh nghiệm và vừa
có nét nhìn xa về tương lai của quân đội,
nhưng là nghiêng về quản trị con người, quản trị
hành chánh, quản trị tiếp vận, hơn là về chiến
lược chiến thuật. Chẳng hạn như chương trình cải tổ sâu
rộng về tổ chức và điều hành trong toàn
ngành Tiếp Vận trong năm 1973-1974, ông đã
dám nghĩ và dám làm trong hoàn cảnh
vừa tái tổ chức vừa yểm trợ, và bước đầu được đánh
giá là thành công. Nét nhìn xa
của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên được thể hiện trong Quỹ Tương Trợ
Và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà tôi
trình bày ở một đoạn trong chương bảy.
Vì Trung Tướng Khuyên nghĩ sao
thì nói vậy, nói một cách chân
thành về những điều mà ông nghĩ, nên
tôi và những sĩ quan tham mưu trong Tổng Cục Tiếp Vận
có mặt lúc bấy giờ, hiểu và thông cảm về
câu nói mà lẽ ra ông không nên
nói, cho dẫu điều ông nói có là sự
thật đối với khả năng của Bộ Tổng Tham Mưu cũng vậy. Tôi
có nghe nói đến “chứng lapsus” và được giải
thích rằng, khi người nào có chứng này
thì trong những lúc bất chợt “lời nói thường
là không đúng như điều đang nghĩ trong đầu”.
Không biết có phải Trung Tướng Đồng Văn Khuyên trong
trường hợp này vào buổi chiều ngày 7 tháng
1 năm 1975 trong câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu hay không?
Đúng là khả năng chiến đấu của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị suy giảm, nhưng không
phải suy giảm đơn thuần do tinh thần chiến đấu của Quân
Nhân, mà do những nguyên nhân khách
quan, trước mắt là khối lượng dụng cụ chiến tranh vào
hàng tối tân do 500.000 quân Đồng Minh sử dụng,
đã bị Hiệp Định Paris đẩy ra khỏi chiến trường Việt Nam.
Đó là khối hỏa lực mà quân cộng sản từng
khiếp đảm, bỗng dưng không còn nữa! Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa đang đánh giặc theo “kiểu nhà
giàu” hay ít ra cũng là “dựa hơi nhà
giàu”, nay đánh nhau theo “kiểu nhà nghèo”
thì ảnh hưởng đến tinh thần Quân Nhân là điều
khó tránh khỏi!
Phải chi những vị lãnh đạo của chúng
ta -nhất là thời Trung Tướng Nguyễn Khánh 1964- có
bản lãnh chính trị vững vàng, biết đâu
có thể đã thuyết phục được đồng minh Hoa Kỳ, thay
vì đưa quân sang Việt Nam thì họ nhiệt tình
giúp chúng ta các loại chiến cụ để chính
chúng ta chiến đấu cho đất nước chúng ta, thì
chính nghĩa trọn vẹn trong tay chúng ta. Trong trường hợp
đó, rất có thể không có cái “Hiệp
Định Paris 1973 kỳ cục”, cùng với “sự bảo đảm cũng kỳ cục” của
13 quốc gia và tổ chức Liên Hiệp Quốc, chỉ nhằm hỗ trợ cho
quân cộng sản đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa
chúng ta. Đó là một thứ bảo đảm không
công bằng, bởi vì khi quân cộng sản vi phạm Hiệp
Định, thậm chí khi chúng xua quân chính qui
từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tràn xuống vĩ
tuyến 17 đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta,
cũng chẳng có thành viên nào trong con số 13
thành viên đó phản đối cả!
Sau đó, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử Trung
Tướng Nguyễn Văn Toàn thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong
chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III.
Trung Tướng Nguyễn Văn
Toàn, tháng 12
năm 1974, bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn II cho
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, vì theo Phó Tổng Thống
Trần Văn Hương, Trung Tướng Toàn bị tố cáo tham nhũng.
Trước đó, trong thời gian giữ chức Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ
Binh đồn trú tại Quảng Ngãi, Trung Tướng Toàn
đã bị báo chí nói đến như là một
Tướng Lãnh có quá nhiều tai tiếng không tốt.
Nhưng sau khi rời khỏi Sư Đoàn 2 Bộ Binh, ông được Tổng
Thống cử giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn II ở Plei Ku. Sau khi
bàn giao Quân Đoàn II, Trung Tướng Nguyễn Văn
Toàn nhận chức Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Thiết Giáp.
Và tháng 2 năm 1975, từ Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp,
ông nhận chức Tư lệnh Quân Đoàn III.
Tỉnh Darlac thất thủ ngày 13
tháng 3 năm 1975.
Tết Nguyên Đán đầu năm 1975,
quân nhân và công chức nghỉ chiều Ba Mươi Tết
và trọn ngày Mồng Một Tết, thay vì nghỉ 3
ngày rưỡi như mọi năm, vì tình hình
nghiêm trọng sau khi toàn tỉnh Phước Long vào tay
quân cộng sản ngày 7 tháng 1 năm 1975.
Trưa Mồng Hai Tết, nếu như ngày thường
thì rất đông sĩ quan nhà xa dùng cơm trưa
tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng bữa ăn trưa hôm nay,
chỉ có Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ
Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi
-lúc bấy giờ là Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận-
và Thiếu Tá Nguyễn Văn Tấn, sĩ quan tùy viên
của Trung Tướng Khuyên. Vì dù cho tình
hình có thế nào đi nữa, trong mái ấm gia
đình vẫn còn hương vị ngày Xuân, nên
hầu hết các sĩ quan về nhà dùng cơm với gia
đình.
Với nét mặt thật buồn, Trung Tướng
Khuyên lên tiếng phá tan sự yên ắng trong
khoảng không gian trống rỗng của câu lạc bộ:
- “Tôi nghĩ, chắc mình mất nước
thật quá anh!
- “Tại sao Trung Tướng nghĩ vậy?
- “Anh nghĩ coi, có vấn đề hạ tuổi hoãn dịch trong
các tôn giáo để có thêm một số thanh
niên nhập ngũ, mà Thủ Tướng trình lên Tổng
Thống, rồi Tổng Thống đẩy xuống Thủ Tướng, không vị nào
dám nhận trách nhiệm vì sợ đụng chạm đến tôn
giáo”.
Ngưng một lúc, ông tiếp với giọng thật
nhỏ:
- “Đã không đặt vấn đề thì
không nói làm chi, mà khi đã
thành vần đề thì phải thực hiện đến nơi đến chốn
vì là vấn đề quốc gia mà, chớ dở dang như vậy chỉ
làm mất uy tín của người lãnh đạo thôi”.
Khi nêu câu hỏi với Trung Tướng Khuyên là
tôi muốn nghe ông giải thích thêm, chớ thật ra
thì trong một chừng mực nhất định, tôi hiểu được câu
ông nói. Chuyện như thế này: Nhân lễ
Giáng Sinh, tối 24 tháng 12 năm 1974, Trung Tướng Đồng
Văn Khuyên tổ chức bữa ăn thật đơn giản ở phòng trên
lầu của câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, với các thực
khách sau đây:
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên và phu
nhân.
Thiếu Tướng Smith, Trưởng Cơ Quan Tùy
Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thực chất thì
cơ quan này thay thế Bộ Tư Lệnh Viện trợ Quân Sự Hoa Kỳ
tại Việt Nam (MACV) trong một quyền hạn thu hẹp.
Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng
Cục Quân Y.
Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, Cục Trưởng Cục
Công Binh.
Đại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó
Tổng Cục Tiếp Vận, và phu nhân.
Đại Tá Pelosky, Phụ Tá của Thiếu
Tướng Smith về Tiếp Vận.
Tôi, Đại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận.
Và Trung Tá Nguyễn Đình
Bá, chánh văn phòng của Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên.
Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng:
- “Bộ Quốc Phòng (Pentagon) Hoa Kỳ
có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300.000.000
(300 triệu) mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40.000 sĩ quan
và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ”.
Những lời nói ngắn ngủi này của một vị Tướng tuy
không có hào quang của một nhân vật quyền lực
như Thống Tướng William C. Westmoreland trước đây, nhưng
là nhân vật tiêu biểu cho tiếng nói của Bộ
Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam chúng ta lúc ấy.
Và lời nói này, tôi nghĩ, không
có cách hiểu nào khác, ngoài
cách hiểu là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của
chúng ta sắp kết thúc, và kết thúc với
ý nghĩa thua trận! Vì nếu không thua trận
thì làm gì có kế hoạch di tản sĩ quan
và gia đình sang Hoa Kỳ!
Đột ngột quá chăng? Có thể là
với Hoa Kỳ, hay nói chung là với thế giới dân chủ
tự do lẫn thế giới cộng sản độc tài, thì không
có gì đột ngột cả vì họ là người
ngoài cuộc. Có tốt lắm thì họ cũng chỉ nói
lời thương hại hoặc lời “phân ưu” trong một bài diễn văn
nào đó, cho cái dân tộc bất hạnh này
mà thỉnh thoảng họ nói Việt Nam Cộng Hòa là
tiền đồn trắc nghiệm chiến tranh ý thức hệ, hoặc chúng ta
là tiền đồn chống cộng sản cho họ thôi!
Nhưng với tôi quả là đột ngột,
dù tôi có nghe những tin loan tãi
đáng buồn trên làn sóng đài
phát thanh BBC qua chương trình Việt ngữ! Rất có
thể là tôi quá chủ quan khi tin rằng, chiến tranh
đang trong giai đoạn khốc liệt nhưng phần đất tự do này
không thể vào tay chế độ cộng sản độc tài được. Tại
sao tôi chủ quan như vậy? Đơn giản chỉ vì tôi tin
rằng cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta
là cuộc chiến đấu có chính nghĩa, mà
chính nghĩa thì không thể thua được! Lúc bấy
giờ, rõ ràng là tôi không thực tế khi
tôi là một trong số rất ít cử tọa ngồi nghe “diễn
giả Smith” truyền đạt một câu ngắn ngủi trong bữa ăn đêm
Giáng Sinh năm 1974, nó chẳng có ý nghĩa
gì về tôn giáo, nhưng rất có ý nghĩa
về cuộc chiến tranh mà chúng ta buộc phải lâm trận!
Tôi hỏi:
- “Chẳng lẽ đất nước mình đến hồi mạt
vận sao! Có lúc nào Trung Tướng nghĩ như vậy
không?
- “Không đâu anh. Thật ra có lúc tôi
cũng nghĩ như anh, nhưng cuối cùng tôi bác bỏ
ý nghĩ đó, vì dù sao thì mình
cũng có một quân đội chống cộng sản triệt để mà
anh”.
Vì ông nghĩ như vậy, nên khi
thấy một việc nhỏ tuy rất tế nhị mà Thủ Tướng với Tổng Thống
là hai vị lãnh đạo cao nhất nước với đầy quyền lực trong
tay, nhưng không vị nào dám nhận trách
nhiệm, nên Trung Tướng Khuyên mới thốt lên câu
nói như một lời than bất lực của chính ông,
và hàm ý cho số phận một quốc gia: Việt Nam Cộng
Hòa!
Cũng trong bữa ăn trưa Mồng Hai Tết này,
Trung Tướng Khuyên nhắc tôi ráng điều động và
đôn đốc Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (đồn trú tại Qui Nhơn), vận
chuyển hàng tiếp liệu lên Plei Ku chuẩn bị chống trả cuộc
tấn công của quân cộng sản thường khi là vào
mùa hè.
Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy
2 Tiếp Vận, đang thực hiện kế hoạch vận chuyển các loại
hàng tiếp liệu loại 1, loại 3, và loại 5, từ Qui Nhơn
lên dự trữ ở Plei Ku và Kon Tum. Các loại
hàng tiếp liệu trong quân đội do ngành Tiếp Vận
quản trị, chia làm 5 loại:
Loại 1, là lương thực thực phẩm cho người
và thú vật (quân khuyển = chó trận)
Loại 2, là quân dụng trang bị cho tất
cả các đơn vị quân chủng, binh chủng, binh sở, và
các cơ quan phòng sở tham mưu, như: quân xa, vũ
khí bắn thẳng, vũ khí bắn vòng cầu, xe tăng thiết
giáp, xe đào đất ủi đất, chiến hạm, phi cơ, máy
móc văn phòng, bàn ghế, ..v..v.. có ghi
trong bảng cấp số của từng đơn vị cũng như cơ quan phòng sở.
Loại 3, là các loại nhiên liệu
và các loại dầu mở bôi trơn.
Loại 4, là những gì thuộc về vật liệu
xây dựng và vật liệu phòng thủ.
Và loại 5, là các loại bom đạn
và chất nổ.
Số lượng dự trữ dự trù cho 20.000 quân
trú phòng Plei Ku và Kon Tum chiến đấu trong 30
ngày không cần tiếp tế. Đó là dự trù
cho một tình hình tệ hại là không tái
tiếp tế được, chớ thật ra trong kế hoạch của Tổng Cục Tiếp Vận
có dự liệu khi chiến trận xảy ra thì từ ngày thứ
3, mà trong tham mưu quân sự gọi là ngày N +
2, bắt đầu tái tiếp tế bằng không vận để bổ sung mực độ dự
trữ cho lực lượng phòng thủ.
Khi mất Phước Long, Trung Tướng Khuyên ước
tính thời gian quân cộng sản mở cuộc tấn công
vào Plei Ku và Kon Tum, có thể sớm hơn ước
tính của Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu. Vì vậy
mà ông cho tăng cường thêm quân xa ra Qui Nhơn
để Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận có thêm khả năng vận chuyển. Hằng
ngày, từng đoàn quân xa hằng trăm chiếc hạng nhẹ
và hạng trung, lăn bánh trên quốc lộ 19 nối liền
Qui Nhơn với Plei Ku – Kon Tum, và ngược lại.
Những ngày sau đó, tôi thường
thảo luận với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên trong những bữa ăn trưa
tại câu lạc bộ, và câu chuyện chỉ xoay quanh nguồn
tin từ Thiếu Tướng Smith, hòa trong những tin chiến sự
ngày càng nghiêm trọng.
Ban Mê Thuột là thủ phủ Cao
Nguyên Miền Trung. Từ đây, theo quốc lộ 14 về hướng Bắc
khoảng 170 cây số sẽ đến Plei Ku, một thị trấn đất đỏ ba-dan,
và tiếp tục hành trình thêm khoảng 40
cây số nữa sẽ đến Kon Tum, một thị trấn toàn cát
trắng. Cũng từ Ban Mê Thuột, theo quốc lộ 14 xuôi hướng
Tây Nam, sẽ đến thị trấn Chơn Thành thuộc tỉnh Bình
Long rồi theo quốc lộ 13 về đến Sài Gòn. Nếu từ Ban
Mê Thuột, theo quốc lộ 21 về hướng Đông vượt đèo
M’Drak sẽ xuống quốc lộ 1, rẽ phải sẽ đến Nha Trang và
vào Sài Gòn, còn rẽ trái sẽ ra Tuy
Hòa, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Đà Nẳng, rồi Huế, Quảng
trị. Ngay trong thành phố Ban Mê Thuột và phi
trường Phụng Dực, có Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh,
các đơn vị yểm trợ, và Trung Đoàn 53 Bộ Binh đồn
trú. Phần còn lại của Sư Đoàn 23 đang bảo vệ Kon
Tum và Plei Ku. Ban Mê Thuột trong phạm trách nhiệm
yểm trợ của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, và Bộ Chỉ Huy này đồn
trú tại bán đảo Cam Ranh, một bán đảo nổi tiếng
trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 khi Hạm Đội của Nga chạy trốn sự
truy lùng của Hạm Đội Nhật Bản.
Trưa ngày 9 tháng 3 năm 1975, Đại
Úy Chỉ Huy Trưởng Kho Đạn ở ngoại ô Ban Mê Thuột
điện thoại tôi:
- “Thưa Đại Tá, theo lệnh khẩn cấp của
Phòng 4/Quân Đoàn II (đồn trú ở Plei Ku),
tôi phải cấp phát giải tỏa toàn bộ số đạn dự trữ
trong kho vì tình hình rất nghiêm trọng,
và có thể sẽ bị quân cộng sản tấn công trong
đêm nay. Chúng tôi sẽ cấp phát tối đa cho
các đơn vị đồn trú trong và ngoài thị
xã theo khả năng mà họ tiếp nhận được. Xin trình
Đại Tá rõ”.
- “Anh em cố gắng công tác khẩn cấp này và
mong anh em hoàn thành nhiệm vụ”.
Sở dĩ Quân Đoàn II ra lệnh trực tiếp
là vì các kho dự trữ của ngành Tiếp Vận tại
các địa phương chịu sự chỉ huy của hai hệ thống: Dưới quyền của
Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận về hành chánh và chuyên
môn của ngành, trong khi Quân Đoàn chỉ huy về
mặt yểm trợ tác chiến.
Trình Đại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục
Phó Tổng Cục Tiếp Vận xong, tôi liên lạc sang
Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu được biết, theo nguồn tin khả
tín thì lực lượng cộng sản xuất hiện chung quanh Ban
Mê Thuột vào khoảng 2 Sư Đoàn, với một đơn vị
Pháo Binh có thể lên đến cấp Sư Đoàn,
và chúng có khả năng tấn công trong thời
gian sớm nhất, nghĩa là có thể ngay trong đêm nay.
Đại Tá Loan và tôi, lo ngại về các
cuộc tấn công của quân cộng sản vào các tỉnh
Cao Nguyên trong khi chúng tôi chưa hoàn tất
mức độ dự trữ các loại hàng tiếp liệu cho Plei Ku
và Kon Tum như lệnh của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên ban
hành. Trong lúc này, Trung Tướng Đồng Văn
Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục
Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, được phép của Tổng Thống đã đưa
thân phụ của ông sang Tokyo trị ung thư cổ, và Đại
Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó, xử lý thường vụ
chức vụ Tổng Cục Trưởng.
Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975,
khi vào đến văn phòng thì điện thoai reo
liên hồi:
- “Đại Tá Hoa tôi nghe”.
- “Lễ đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban
Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ
giữa đêm qua. Đâu anh xem lại có phải vậy
không?
Đó là Đại Tá Trần Văn Lễ, Chỉ
Huy Trưởng Trường Tiếp Vận, đồn trú trong căn cứ Long
Bình, Biên Hòa.
Tôi gọi khắp các cơ quan phòng
sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên
lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả.
Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ của đơn vị
Lôi Hổ trên đó để hoạt động dọc biên giới Việt
Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được.
Và đúng như vậy, Trung Tá Trần Đắc Trân,
điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với
nhân viên của Sở Liên Lạc trên đó.
Trình Đại Tá Loan xong là tôi chạy sang anh
Trân ngay. Tôi hỏi:
- “Chào anh. Anh đang ở đâu
đó?
- “Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố
Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm
và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã
vào đến cuối sân bay rồi Đại Tá ơi!
- “Theo anh thì tụi nó đã vào trung
tâm thành phố chưa?
- “Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua,
và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực
Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy
Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm,
nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ
em phải rút ra ngoại ô. Chào Đại Tá”.
- “Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng
các bạn vượt thoát bình an. Chào anh
và các bạn”.
Trở về Tổng Cục Tiếp Vận trình lại Đại
Tá Loan. Đại Tá Loan gọi ra Cam Ranh nói chuyện
với Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, nhưng
không thu thập được tin tức gì khả quan cả. Bên hệ
thống Viba của Hành Chánh và Bưu Điện, cũng
không liên lạc được với Ban Mê Thuột.
Tôi gọi lên Quân Đoàn II
nói chuyện với Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu
Trưởng Quân Đoàn, được biết Quân Đoàn II
đã cho phi cơ không thám trên không
phận ngoại ô Ban Mê Thuột chớ không vào
sâu bên trong được vì hỏa lực phòng
không của quân cộng sản mạnh lắm, nên những tin tức
ghi nhận cũng không giúp được gì cho Quân
Đoàn khả dĩ có đủ dữ kiện nhận định tình
hình một cách rõ nét, để có phản ứng
thích nghi. Trong khi đó, Quân Đoàn II sử
dụng phi cơ chiến đấu của Sư Đoàn 2 Không Quân
và Sư Đoàn 6 Không Quân, oanh kích dữ
dội vào quân cộng sản ven ngoại ô Ban Mê
Thuột, nhưng cũng không vào không phận trung
tâm thành phố để oanh kích các mục
tiêu trong thành phố, do hỏa lực phòng không
của địch như những lưới lửa đan chéo cả không phận Ban
Mê Thuột.
Sư Đoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung
Đoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Đoàn
giữ phi trường Phụng Dực, nên sự chống trả yếu ớt của lực lượng
phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư
Đoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Địa Phương
Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu, trong khi lực lượng tăng viện
của Quân Đoàn trực thăng vận xuống giải tỏa, nhưng bị hỏa
lực phòng không của cộng sản ngăn chận từ bên
ngoài thành phố, không chống nỗi quân cộng
sản quá đông tràn ngập chiến trường! Những trận
đánh riêng lẽ -vì không có vị chỉ huy
thống nhất- chẳng thể nào đảo ngược được tình thế, để rồi
đến ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột
và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản!
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, hai tỉnh
đã vào tay quân cộng sản!
Rút bỏ Cao Nguyên ngày
17 tháng 3 năm 1975.
Lúc bấy giờ các vị lãnh đạo
quốc gia, lãnh đạo quân đội, và vài cấp chỉ
huy liên quan đến những phản ứng sau đó, là:
Tổng Thống: Nguyễn Văn Thiệu (Trung Tướng).
Thủ Tướng: Trần Thiện Khiêm (Đại Tướng).
Tổng Tham Mưu Trưởng: Đại Tướng Cao Văn Viên.
Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận: Trung Tướng Đồng Văn Khuyên.
Ông được phép đưa thân phụ sang Tokyo chữa bệnh ung
thư, nên ông vắng mặt trong những ngày đầu cuộc
rút quân.
Tư Lệnh Quân Đoàn II/Quân Khu
II: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú.
Tư Lệnh hành quân triệt thoái:
Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.
Xử lý thường vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục
Tiếp Vận: Đại Tá Phạm Kỳ Loan.
Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (Qui Nhơn):
Đại Tá Bửu Khương.
Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, Đại
Tá Lê Khắc Lý.
Tôi, Đại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Ngày 14/3/1975, một buổi họp quan trọng tại
Cam Ranh dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống, nhưng người bạn tôi ở
Phủ Thủ Tướng không rõ nội dung mà chỉ áng
chừng là vạch kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê
Thuột. Rất tiếc là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên chưa về,
nên tôi với Đại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục
Phó, không biết gì hơn.
Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm
chiều, điện thoại reo:
- “Đại Tá Hoa tôi nghe”.
- “Có ai ngồi gần anh không?
- “Dạ không, thưa Đại Tướng”.
Đó là Đại Tướng Cao Văn Viên,
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông
tiếp:
- “Tuyệt đối là anh không cho ai
biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi
hành”.
- “Vâng, tôi rõ thưa Đại Tướng”.
- “Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả
dụng?
- “Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường
hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng
tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ
trình lại Đại Tướng con số chính xác hơn, thưa Đại
Tướng”.
- “Thôi được. Điều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa
vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay
với Quân Đoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc
thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào
công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể
từ ngày mai. Anh rõ chưa?
- “Thưa Đại Tướng, tôi rõ”.
- “Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi
Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh”.
- “Vâng. Tôi thi hành, thưa Đại Tướng”.
Tôi thuật lại cho Đại Tá Loan nghe,
và cả Đại Tá Loan lẫn tôi, đều không ước
tính được là chuyện gì sắp xảy ra mà
chúng tôi không được phép biết. Nếu chuẩn bị
đánh nhau với quân cộng sản thì tại sao không
để quân dụng lại thay thế số tổn thất? Nếu không
đánh nhau,….. mà không đánh nhau là
thế nào? Thật không hiểu nỗi!
Tổ chức một quân đội, phải có hai yếu
tố chính, là “con người và quân dụng”.
Quân dụng do ngành Tiếp Vận quản trị. Những gì
trang bị cho mỗi quân nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót
chân, từ dinh dưỡng đến điều trị khi bị thương hay đau yếu, vấn
đề mai táng và nghĩa trang, rồi doanh trại, phương tiện
di chuyển, rồi súng đạn, xe tăng thiết giáp, đại
bác hỏa tiển,…… đều là nhiệm vụ của ngành Tiếp
Vận. Ấy vậy mà Tiếp Vận lại không được quyền biết đến kế
hoạch hành quân, ít nhất là đối với lệnh vừa
rồi của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa !
Trong quân đội, chỉ có Trung Tướng Đỗ
Cao Trí và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, là
hai vị Tư Lệnh đại đơn vị đặt Tiếp vận vào đúng vị
trí của ngành này mà thôi. Điển
hình là Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân
Đoàn III, đầu năm 1970 khi soạn kế hoạch hành quân
sang lãnh thổ Cambodia tấn công các kho dự trữ tiếp
vận của quân cộng sản sát biên giới Việt Nam, sau
khi quyết định ngày N, Trung Tướng Trí nêu
câu hỏi với Trung Tá Trương Bảy (sau này là
Chuẩn Tướng Cảnh Sát) Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận:
- “Theo kế hoạch hành quân
đã trình bày, Tiếp Vận có chuẩn bị kịp
không? Nếu không, Quân Đoàn sẽ lùi
ngày lại”.
Khi vị Tư Lệnh hỏi như vậy, cho dù chuẩn bị
gấp rút cách mấy cũng phải thực hiện cho xong chớ
đâu thể xin lùi ngày được. Đằng nào cũng
phải vất vả, nhưng vất vả mà được biết đến vẫn vui lòng
hơn.
Đầu tháng 12 năm 1974, trước khi lên
Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thiếu Tướng Phạm
Văn Phú điện thoại tôi:
- “Anh Hoa à, tôi sắp sửa
lên Quân Đoàn II, anh cho tôi mượn Trung
Úy Thiêm một tuần để nó lên đó chọn
hướng đặt bàn giấy giùm tôi nghe anh”.
- “Vâng. Tôi sẽ nói với anh Thiêm và
Thiếu Tướng cứ liên lạc trực tiếp với anh ấy về những chi tiết
cần thiết”.
Lúc bấy giờ tôi là Cục Trưởng
Cục Mãi Dịch (đồn trú ở Sài Gòn). Trong đơn
vị tôi có Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm
được nhiều người cho là giỏi tướng số, tử vi, và chữ
ký. Và sau 5 ngày công tác
riêng cho Thiếu Tướng Phú ở Plei Ku trở về, Trung
úy Thiêm nói với tôi:
- “Thưa Đại Tá, tôi thấy vận số
của Thiếu Tướng Phú hết rồi, nhiều lắm cũng chỉ tính bằng
tháng chớ không tính bằng năm đâu”.
- “Anh có nói gì với Thiếu Tướng Phú
không?
- “Dạ không. Vì sợ Thiếu Tướng mất tinh thần. Với lại
có nói ra cũng không có cách
gì giải được, thà không nói vẫn hơn”.
- “Nghĩ như anh cũng phải”.
(Năm 2004, khi sang Sydney, Australia, tôi
có gặp cựu Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm, đang
là Giám Đốc một Công Ty của Hoa Kỳ tại Sydney).
Tôi với anh thường liên lạc thăm hỏi nhau qua e-mail)
Tôi nhớ, có một hôm Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên nói với tôi rằng, “Thiếu Tướng
Phú tuổi con rắn, nên Tổng Thống cử lên Quân
Đoàn II vì rắn thích hợp với núi rừng”.
Thật sự có thích hợp hay không, tôi nghĩ,
quí vị đã rõ.
Trở lại lệnh của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Tôi gọi lên Plei Ku liên lạc với Đại Tá
Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II:
- “Tôi Hoa đây anh Lý.
Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết
là Quân Đoàn sử dụng vào công
tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để
tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh
không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng
của chúng tôi giới hạn lắm”.
- “Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng
vào công tác gì thì không thể
nói được đâu”. Lời của Đại Tá Lý.
- “Đành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc? Cần
vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới
đâu?
- “Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên
tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai
(16/3/1975). Không trình có thể là từ
Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn”.
- “Sao lại là có thể mà không rõ nơi
đến?
- “Tôi không thể cho anh biết đâu”.
- “Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho
lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại
phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất
cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4
chiếc. Được không?
- “Được. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường
Cù Hanh nghe”.
- “Xong. Mình thỏa thuận như vậy”.
Tôi trình Đại Tá Loan là
vẫn không biết được gì thêm ở Quân Đoàn
II. Tôi cũng nêu thắc mắc với Đại Tá Loan, là
tại sao Đại Tá Lý nói “không trình
có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sài
Gòn, mà không xác định điểm đến một
cách rõ ràng”. Điều này hẳn có
gì bí ẩn bên trong.
Đại Tá Phạm Kỳ Loan điện thoại hỏi Chuẩn
Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu,
Chuẩn Tướng Thọ cũng không tiết lộ điều gì. Bên
Không Quân xác nhận là có thể sử dụng
tối đa 9 chiếc C.130, nhưng sau khi sử dụng như vậy thì
các nhu cầu tiếp theo không thể thực hiện được ít
nhất là một tuần vì phải tu bổ lại. Bộ Chỉ Huy
Không Chiến, cơ quan điều động phi cơ, đồng ý về thỏa
thuận giữa tôi với Đại Tá Lê Khắc Lý, nghĩa
là 2 chiếc C130 cất cánh lên Pleiku thì 2
chiếc kế tiếp túc trực tại căn cứ Tân Sơn Nhất.
Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo:
- “Đại Tá Hoa tôi nghe”.
- “Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ
C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei
Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi
trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng
nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không
liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh
Đại Tá”.
- “Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi
vài phút để tôi liên lạc với Quân
Đoàn II xem tình hình ra sao”.
Gọi Quân Đoàn II, và tôi
nói chuyện với Đại Tá Lý:
- “Phi cơ tôi đang trên không
phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh
muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay
giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài
Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh?
- “Tại vì người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có
chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Để tôi cho Quân
Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi”.
- “Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống
là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh
nhớ ưu tiên cho anh Liên Đoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp
Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng
xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe”.
Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến
chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó,
phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì
đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Để rồi
một hình ảnh hỗn loạn chưa từng thấy -theo lời thuật của Trưởng
phi cơ- là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, thậm
chí đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết
sức khó khăn đến độ nguy hiểm, phi hành đoàn mới
cho phi cơ cất cánh được.
Hóa ra là Bộ Tư Lệnh Quân
Đoàn II chuyển xuống Nha Trang. Tôi trình ngay cho
Đại Tá Loan vì ước tính là sắp đánh
nhau với quân cộng sản rồi. Ước tính này
không phải là vô căn cứ, bởi vì cộng sản
đã chiếm Ban Mê Thuột, thủ phủ Cao Nguyên, bây
giờ chúng tấn công vào Bộ Tư Lệnh Quân
Đoàn II (ở Plei Ku) cũng là điều xảy ra trong quân
sự thôi. Nhưng chúng tôi nhầm …
Vì sáng ngày 17/3/1975, trong
lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì
điện thoại nhà tôi reo, hôm nay là chủ nhật
nên tôi đi làm muộn:
- “Đại Tá Hoa tôi nghe”.
- “Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Đại Tá. Trưởng phi cơ
cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay
không có bóng một sinh vật nào cả, và
bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn
cứ”.
- “Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu
sự thực hoàn toàn đúng như vậy thì
tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là
trách nhiệm rất quan trọng nghe anh”.
Tôi điện thoại qua nhà Đại Tá
Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Đại Tá Loan
liên lạc Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ (Trưởng Phòng
3/Bộ Tổng Tham Mưu) nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một
giọt thông tin nào về tình hình đó
cả. Tôi và Đại Tá Loan tức lắm, nhưng chúng
tôi không có cách nào khác
vì Trung Tướng Đồng Văn Khuyên đi Tokyo chưa về. Có
vẻ như chúng tôi bị coi như là những sĩ quan
không đáng tin cậy thì phải, ít nhất cũng
là không được tin cậy trong cuộc hành quân
này, dù rằng Đại Tá Loan đang là cấp chỉ
huy cao nhất của ngành Tiếp Vận với gần 100.000 quân
nhân công chức chuyên ngành, và quản
trị một khối lượng dụng cụ chiến tranh trên dưới 7 tỉ mỹ kim!
Tất cả các hệ thống liên lạc truyền
tin bằng vô tuyến lẫn hữu tuyến của quân đội, cũng như hệ
thống liên lạc bên hành chánh, đều
không liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở
Plei Ku cả. Đại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp
Vận ở Qui nhơn, cũng không có tin tức gì khá
hơn trong khi đoàn quân xa hơn 100 chiếc của Liên
Đoàn 2 Vận Tải (Qui Nhơn) vẫn còn kẹt trên Plei Ku
vì quốc lộ 19 nối liền Qui Nhơn – Plei Ku bị quân cộng sản
chiếm giữ nhiều chặng. Một tình hình không thể hiểu
nỗi ít nhất là đối với ngành Tiếp Vận chúng
tôi. Không biết tại sao lúc ấy chúng
tôi không nghĩ đến giả thuyết nào khác, chẳng
hạn như Quân Đoàn II vờ rút quân ra
ngoài để thành phố bỏ ngỏ cho quân cộng sản tiến
vào, rồi bất thình lình quật lại tấn công
chúng ngay trong thành phố. Còn về giả thuyết
rút bỏ Cao Nguyên thì nhất thiết không thể
có trong tư tưởng của bất cứ sĩ quan nào chớ chẳng
riêng gì chúng tôi. Cho dù một giả
thuyết như vậy thôi cũng không có trong hàng
sĩ quan cấp dưới, nhưng nó lại là một kế hoạch thật sự
của vị lãnh đạo đất nước 20.000.000 dân, trong đó
có một quân đội hơn 1.000.000 người!
Cả hai chúng tôi -Đại Tá Loan
và tôi- không thông báo tình
hình tệ hại đó cho bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận biết,
trong khi chúng tôi hết sức lo lắng cho tất cả quân
nhân nói chung và số phận của anh em trong
ngành Tiếp Vận ở Plei Ku và Kon Tum nói
riêng, vì chúng tôi không có bất
cứ một thông tin nào về tình hình đó,
kể cả nguồn cung cấp chính xác nhất là vị Tướng
Trưởng Phòng 3 ngang hàng với cơ quan chúng
tôi, và vị Tổng Tham Mưu Trưởng cấp trên của
chúng tôi cũng vậy.
Chiều 18/3/1975, điện thoại reo:
- “Đại Tá Hoa tôi nghe”.
- “Khương đây anh Hoa”. Đó là Đại Tá Bửu
Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui
Nhơn.
- “Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku
chưa?
- “Liên Đoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến
với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Đoàn xe
này đang cùng với hằng ngàn quân xa
và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di
chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa.
Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với
Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua
Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa
M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn
thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy
phản ứng của Quân Đoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!
- “Được rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào
xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của
Quân Đoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức
nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy
và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách
một công tác, để khi đoàn quân xuống
đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị
nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông
thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ.
Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn
3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy
bánh và xe chạy xích. Toán Quân Y
thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và
cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không?
- “Được anh. Để tôi lo”.
- “Anh nói Liên Đoàn 2 Vận Tải ráng giữ
liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về
đoàn quân này thì anh cho tôi biết
ngay nghe anh Khương”.
Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị
kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển
tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu),
loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000
quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy
mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về
giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên
Plei Ku.
Tôi sang văn phòng Đại Tá Loan,
và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại
lên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng:
- “Tôi Hoa đây anh Nguyện (Đại
Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho
tôi trình vấn đề gấp với Đại Tướng”.
- “Anh chờ tôi một chút”.
- “Tôi đây”.
- “Thưa Đại Tướng, tôi Hoa đây”.
- “Có việc gì vậy?
- “Thưa Đại Tướng, cách đây vài phút, Đại
Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho
tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku
và Kon Tum đang bị sa lầy … (tôi thuật lại chi tiết
mà tôi với Đại Tá Khương đã nói với
nhau).
- “Anh có chắc là đúng như vậy không?
- “Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Đại Tá Khương như thế
nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ
Đại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn
chính xác, thưa Đại Tướng”.
- “Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe”.
- “Vâng”.
Đại Tá Loan và tôi đều ngẩn ngơ
về câu sau cùng của Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.
Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao
tình hình đến như vậy mà vẫn muốn giấu kín
chúng tôi nữa! Vài phút sau đó, Chuẩn
Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu,
điện thoại tôi:
- “Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường gọi
tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe
trên đường số 7 hả?
- “Tôi không trực tiếp liên lạc nhưng Liên
Đoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên
lạc được với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và
bị kẹt trên đó, nay thì cùng trong
đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã
trình Đại Tướng”.
- “Có. Đại Tướng mới gọi anh đây. Cưng cứ biết vậy
thôi nghe”.
Cũng lại giấu nhau!
Tôi có biết chút ít về
đường liên tỉnh số 7 này, từ đoạn Plei Ku vào đến
Cheo Reo và xuống đến Cung Sơn. Vì cuối năm 1955
-lúc bấy giờ tôi là Thiếu Úy, Đại Đội Trưởng
thuộc Tiểu Đoàn 510 Khinh Quân- toàn bộ Tiểu
Đoàn chúng tôi từ Vĩnh Long, cùng với Tiểu
Đoàn Khinh Quân 507, và Tiểu Đoàn Khinh
Quân 527 từ Trà Vinh, di chuyển lên Cao Nguyên
và đồn trú tại Cheo Reo, để thành lập Trung
Đoàn 35 Bộ Binh trong hệ thống tổ chức Sư Đoàn Khinh
Chiến 12. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đồn trú tại Plei Ku.
Các Tiểu Đoàn được cấp phiên hiệu như sau: Tiểu
Đoàn 507 thành Tiểu Đoàn 1/35, Tiểu Đoàn
510 chúng tôi thành Tiểu Đoàn 2/35,
và Tiểu Đoàn 527 thành Tiểu Đoàn 3/35.
Vì các đơn vị yểm trợ tiếp liệu
và hành chánh tài chánh đồn
trú ở Plei Ku, nên chúng tôi thường
xuyên đi lại giữa Cheo Reo với Plei Ku bằng đường liên tỉnh
số 7 và một đoạn quốc lộ 14. Sở dĩ đoạn đường từ ngã ba
quốc lộ 14 với liên tỉnh lộ 7 -tên địa phương là Mỹ
Thạch- vào đến Cheo Reo còn sử dụng được, là
vì trong chiến tranh giữa thực dân Pháp với cộng
sản 1946-1954 (lúc đó Cộng sản núp dưới tên
Việt Minh), Cheo Reo là cứ điểm quân sự của Pháp,
nên đường này được tu bổ vì nó là
“con đường huyết mạch” của cứ điểm. Còn đoạn từ Cheo Reo xuống
Cung Sơn và Tuy Hoà, quân đội Pháp
không sử dụng nên không tu bổ gì cả. Khi Trung
Đoàn chúng tôi đến Cheo Reo, xác những chiếc
thiết giáp của Pháp còn ngổn ngang tại đó,
còn chiếc cầu bắc ngang Sông Ba thì tồi tệ hơn bất
cứ chiếc cầu tồi tệ nào. Thuở ấy “rất là hoà
bình”, nên chúng tôi thường đi săn trên
đường từ Cheo Reo xuống đến Cung Sơn, chỉ cần thận trọng một
chút thì xe jeep vẫn bò qua chiếc cầu tồi tệ ấy
được. Trên đoạn đường này, chiếc xe jeep của chúng
tôi chỉ gọi là “bò” chớ không thể gọi
là chạy được vì mặt đường giữa vùng rừng
già heo hút này hầu như không còn
gì để gọi là con đường nữa.
Giữa năm 1969, lúc ấy tôi là
Đại Tá, tháp tùng Trung Tướng Nguyễn Văn
Là, đến thăm các đơn vị tại Cheo Reo và các
quận lân cận, con đường bên kia Sông Ba được tu bổ
đôi chút. Và nếu đoạn đường tiếp nối xuống Cung Sơn
để ra Tuy Hoà (tỉnh Phú Yên) không được tu bổ
thường xuyên, mà Quân Đoàn II quyết định sử
dụng cho đoàn quân hơn 10.000 người cùng với
trên dưới 2.000 quân xa, dân xa, và chiến xa
hạng nặng triệt thoái, quả là tạo được bất ngờ đối với
địch, nhưng phải nói là quá liều lĩnh! Bất ngờ,
nhưng con đường có sử dụng được hay không, lại là
vấn đề trước mặt của Quân Đoàn II nói chung,
và của bộ chỉ huy hành quân cuộc hành
quân lui binh này nói riêng.
Chiều tối hôm sau thì Trung Tướng Đồng
Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng
tôi trình bày về tình hình từ
ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói
sáng mai sẽ trình diện Tổng Thống với Đại Tướng, chắc
là sẽ có tin tức rõ ràng hơn.
Và đây là những tin tức
đó:
“… Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực
của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là
không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong
khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum,
vì vậy mà Tổng Thống trong buổi họp tại Cam Ranh,
đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để
đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột. Tổng Thống
giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân
Đoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt
thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa
và bảo vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú
trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh
số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ
lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với
đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống thăng cấp Chuẩn Tướng
cho Đại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không
đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị,
và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc
bấy giờ, Đại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt
Động Quân/Quân Đoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn
Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh
Quân Đoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc
hành quân lui binh”.
Hết giờ buổi chiều khá lâu, bộ tham
mưu Tổng Cục Tiếp Vận chỉ còn nhân viên trực hoạt
động. Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng
(ông ngồi ở văn phòng Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu,
trên tòa nhà chánh), và ông đưa
tôi xem một xấp không ảnh (ảnh chụp từ trên phi cơ)
đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không
ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình
dài mà là một hình gần như tròn,
vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua
bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được
lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng
không lối thoát, và cứ như thế mà cả
đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên
dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh
tròn bằng ngòi bút của chuyên viên
giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị
thiêu hủy. Nếu như giải đoán viên không ảnh
chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì
chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh
số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe
các loại, quả là rất nặng. Trong số tổn thất đó
có Tiểu Đoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và
Trung Đoàn Chiến Xa hạng nặng M48″. Đây là hai loại
vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973 bằng cách
các đơn vị pháo binh và chiến xa của họ chỉ
rút người về nước và để toàn bộ chiến cụ đó
lại cho quân đội chúng ta. Với chiến xa M48, nó
là loại vũ khí đã cũ, thậm chí là
quá cũ đối với Hoa Kỳ, nhưng với chúng ta nó
là loại mới!
Những bài học chiến thuật trong trường
Võ Bị cũng như trường Đại Học Quân Sự (hậu thân của
Viện Nghiên Cứu Quân Sự Đông Dương của Pháp
và là tiền thân của trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao
Cấp) đều thừa nhận rằng, trong các cuộc hành quân
thì hành quân rút lui (hay triệt
thoái, hay lui binh) là nhiều hiểm nguy hơn các
cuộc hành quân khác, vì đơn vị “đưa lưng” về
phía địch. Khi tấn công thì trước mặt là
địch và sau lưng là hậu tuyến, còn trong
rút lui thì trước mặt lại là hậu tuyến mà
sau lưng trở thành tiền tuyến. Nguy hiểm là vậy.
Nguyên tắc căn bản của bài học “lui binh” là phải
có một lực lượng hành quân giao tiếp để bảo đảm an
toàn phía trước mặt (hậu tuyến), còn lực lượng lui
binh thì tự bảo vệ phía sau lưng (tiền tuyến),
ngoài ra phải được Không Quân quan sát
và yểm trợ hỏa lực nữa.
Với cuộc hành quân giao tiếp chậm chạp
từ Tuy Hoà lên, đoàn quân triệt thoái
ngày càng tan tác trên đường lui binh
vô cùng hỗn loạn vì bị quân cộng sản
liên tục phục kích, tập kích. Khi về đến Tuy
Hòa thì tổn thất đến nỗi không còn khả năng
thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được
nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém
số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết
vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn
bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết
vì cướp giật, ..v..v…
Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là
Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn
được lực lượng gồm một phần của Sư Đoàn 23 Bộ Binh, các
Liên Đoàn Biệt Động Quân, Pháo Binh, Thiết
Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các
ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban
Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung
bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản một cách nhẹ
nhàng. Tôi nói “bỗng dưng”, vì rút bỏ
Plei Ku từ đêm thứ bảy 16 rạng ngày chủ nhật 17
tháng 3 năm 1975, mà đến 3 giờ 15 phút chiều thứ
tư 20/3/75 tín hiệu Truyền Tin tại Bộ Tư Lệnh Quân
Đoàn II mới ngưng hoạt động. Đại Tá Cục Trưởng Cục Truyền
Tin nói với tôi như vậy. Điều này có thể
là lúc đó quân cộng sản mới đến và
phá hủy máy móc hoặc tắt máy, cũng
có thể là quân cộng sản chưa chiếm nhưng vì
máy phát điện hết nhiên liệu nên cả hệ thống
đều ngưng hoạt động. Cho dù ở vào trường hợp nào
đi nữa, rõ ràng là quân cộng sản mà
mình tưởng nó bao vây hay sắp sửa bao vây
Plei Ku, nhưng thật ra chúng còn ở tận đâu
đâu nên mãi 4 ngày sau -đó là
thời gian sớm nhất- chúng mới vào chiếm Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn, trong khi những Sư Đoàn của chúng
ở càng xa Plei Ku về hướng Nam và Đông Nam
thì khoảng cách càng gần với đoàn
quân triệt thoái hơn, do dó mà thiệt hại của
đoàn quân nặng nề chưa từng thấy trong 20 năm chiến tranh!
Một thất bại vô cùng đau đớn cho những người cầm
súng, nhất là những người cầm súng dưới quyền chỉ
huy của vị Tư Lệnh đã từng xông pha trận mạc!
Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú, khi còn
là sĩ quan cấp Úy cấp Tá trong hàng ngũ
quân đội Liên Hiệp Pháp lẫn trong quân lực
Việt Nam Cộng Hòa, đã có tiếng là cấp chỉ
huy can đảm, không lùi bước bất kể chiến trận gay go
nghiêng ngã như thế nào. Nay, với chức vụ Tư Lệnh
Quân Đoàn II, liệu có phải là hơi quá
tầm lãnh đạo chỉ huy của ông không? Hay là
quyền lực hoặc khả năng của ông bị điều gì đó giới
hạn?
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã tự tử
ngay ngày 30 tháng 4 năm 1975. Với chiếc xe đạp mới
toanh, tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm (Sài
Gòn) vào sáng sớm ngày 2 tháng 5 năm
1975, trước quan tài ông, đứng nghiêm khá
lâu, nhìn chung quanh trước khi đưa tay lên ngang
trán chào ông đúng tác phong một sĩ
quan cấp dưới. Tôi chào tiễn biệt Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú, tiễn biệt Ông vào cõi vĩnh hằng giữa
hoàn cảnh đau thương của đất nước, dân tộc!
Năm 1960, trong thời gian tôi học tại Trường
Đại Học Quân Sự, tôi đọc được một tập tài liệu,
có nhận định rằng: “Trong chiến tranh Việt Nam, ai chiếm giữ
được Cao Nguyên miền Trung, người đó sẽ nắm phần chiến
thắng”. Chắc chắn rằng, những vị Tướng của chúng ta đang nắm
quyền lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo quân đội
đều biết tài liệu đó, nhưng có thể các vị
bị chính trị đẩy Cao Nguyên ra khỏi tầm tay chăng?
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta
đã thu ngắn theo chiều Bắc Nam!
Ngược dòng thời gian, thượng tuần
tháng 5/1954, Điện Biên Phủ do 13.000 quân của
Pháp trấn giữ, đã thất thủ làm rúng động
toàn bộ quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương
và rúng động cả nước Pháp. Và hiển
nhiên là sự thất trận này đã đưa nước
Pháp đến tình trạng phải rời khỏi Đông Dương gồm
Việt Nam, Cam Bốt, và Lào.
Hơn 20 năm sau -tháng 3/1975- toàn bộ
Cao Nguyên miền Trung vào tay quân cộng sản,
làm rúng động toàn quân và
toàn dân Việt Nam Cộng Hòa. Và liệu sự thất
bại này có phải là nguyên nhân dẫn đến
toàn bộ Việt Nam Cộng Hòa vào tay quân cộng
sản từ ngày cuối tháng 4/1975 không? Dù
gì đi nữa thì sự thể đã là như vậy rồi!
Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc
hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7,
nếu chưa phải là nguyên nhân chính, cũng
là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành
quân lui binh của Quân Đoàn I, và các
Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân
Lục Chiến, Biệt Động Quân, Hải Quân, Không
Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị , Huế,
Đà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam
Ranh.
Trước ngày cuối tháng 3/1975, từ
Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ. Tôi nói “bỏ ngỏ”
vì không có Tiểu Khu nào hay Trung
Đoàn, Sư Đoàn nào, phòng thủ chống lại
quân cộng sản, hoặc nếu có chống trả như Sư Đoàn 3
Bộ Binh tại sườn Tây Đà Nẳng cũng chỉ trong thời gian ngắn
ngủi là rút lui, còn lại là rút đi
trước khi quân cộng sản đến!
Trong số những vị Tướng Tư Lệnh đại đơn vị thuộc
Quân Đoàn I và Quân Đoàn II rút
khỏi vùng trách nhiệm của những vị đó, tôi
luôn tự hỏi về thái độ của Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I/Quân khu I. Tôi
được tiếp xúc với ông qua những công tác “dự
phòng chống đảo chánh” từ năm 1965 khi ông
là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Nhẩy Dù.
Chính vì hiểu ông mà tôi tự hỏi như
vậy. Bởi trong cuộc tấn công của quân cộng sản hồi Tết Mậu
Thân đầu năm 1968, Huế và nhất là trong khuôn
viên thành nội, nơi có bản doanh cùng một số
đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh đồn trú, đã bị
quân cộng sản chiếm giữ trong 3 tuần lễ. Lúc bấy giờ,
Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng (cấp bậc lúc ấy) là Tư
Lệnh Sư Đoàn này. Cuộc phản công chiếm lại từng khu
vực trong thành nội Huế rất cam go với tổn thất khá nặng,
Chuẩn Tướng Trưởng đã chứng tỏ quyết tâm tiêu diệt
quân cộng sản hay ít nhất cũng phải đánh bật
chúng ra khỏi Huế trong thời gian ngắn nhất, khi ông đứng
nghiêm chỉnh ở chân cột cờ với lễ phục và huy chương
biểu tượng cho các chiến công của ông, Chuẩn Tướng
Trưởng đã kêu gọi quyết tâm của quân sĩ dưới
quyền ông hãy vì danh dự và trách
nhiệm đối với tổ quốc dân tộc. Qua lời kêu gọi đầy
trách nhiệm cùng với nhiệt tâm của ông,
chính là quyết tâm của vị Tư Lệnh cùng
quân sĩ chiến đấu, đã thúc đẩy cuộc phản công
của Sư Đoàn đến chiến thắng vẻ vang. Đành rằng trong cuộc
hành quân phản công này, có sự chiến
đấu yểm trợ của quân lực Hoa Kỳ, nhưng Sư Đoàn 1 Bộ
Binh Việt Nam vẫn là lực lượng chính.
“Mùa Hè Đỏ
Lửa” năm 1972, Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng (đã thăng cấp) đang là Tư Lệnh
Quân Đoàn IV/Quân khu IV vùng đồng bằng Cửu
Long, được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư Lệnh Quân
Đoàn I/Quân Khu I và tức tốc lên phi cơ ra
Đà Nẳng nhận chức. Một vị Tướng như thế, tôi nghĩ,
ông không thể để Đà Nẳng vào tay
quân cộng sản gần như êm thắm như vậy! Xin nhớ, Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng gốc là binh chủng Nhẩy Dù,
và binh chủng này là một trong những binh chủng
rất lì với chiến trận. Nhưng sự thể đã diễn ra như vậy,
ắt phải có điều gì đằng sau quyết định rút bỏ
thành phố cảng quan trọng của miền Trung. Và chỉ
có Trung Tướng Ngô Quang Trưởng mới có thể hiểu đến
tận cùng điều ấy mà thôi.
Xin mở ngoặc. Tối ngày 6/9/2003, khi vợ
chồng tôi dự tiệc cưới tại Washington DC, chúng tôi
ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng,
và cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tôi có
ý định hỏi Trung Tướng Trưởng về điều thắc mắc của tôi,
nhưng vì cựu Phó Đề Đốc Thoại lại đưa vấn đề cuộc đảo
chánh ngày 1/11/1963 hỏi tôi nên mãi
nói chuyện với ông, để rồi cuối cùng không
còn thì giờ xin lời tâm sự từ cựu Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng. Và đóng ngoặc.
Hai chục năm sau năm 1975. Ngày 14/1/1995,
tôi gặp anh Nguyễn Thành Trí trong chợ Hong Kong ở
Houston, bạn tôi. Anh là cựu Đại Tá, Tư Lệnh
Phó Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và Sư
Đoàn này đặt dưới quyền sử dụng dài hạn của
Quân Đoàn I từ sau trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa
năm 1972. Xin mời quí vị lui lại 20 năm trước, và xin
quí vị cứ tưởng như chúng ta đang sống lại những
ngày cuối tháng 3 năm 1975 tại Đà Nẳng, lúc
ấy bộ chỉ huy hành quân Sư Đoàn Thủy Quân Lục
Chiến ở khu vực Non Nước, để nghe anh kể lại một góc nhỏ trong
cuộc triệt thoái khỏi Đà Nẳng:
‘‘Khoảng 5 giờ chiều ngày 28
tháng 3 năm 1975, quân cộng sản tấn công vào
Sư Đoàn 3 Bộ Binh ở sườn Tây Đà Nẳng, và chỉ
chống trả trong thời gian ngắn là Sư Đoàn 3 Bộ Binh
rút lui, tạo khoảng trống bên sườn của Thủy Quân Lục
Chiến, và các đơn vị co về bản doanh Sư Đoàn (Thủy
Quân Lục Chiến). Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, đã rời khỏi Sư
Đoàn và lên chiến hạm của Hải Quân (Việt Nam)
từ lúc chiều. Nhưng trước khi đi ông có đến gặp
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng xin quyết định vì tình
hình rất nghiêm trọng, nhưng Trung Tướng Trưởng
không nói gì cả. Khi đến bộ chỉ huy hành
quân Sư Đoàn, có cả ông Tổng Lãnh Sự
Hoa Kỳ tại Đà Nẳng cùng đi với Thiếu Tướng Lân.
Ông Tổng Lãnh Sự có mang theo máy vô
tuyến cầm tay loại nhỏ, chốc chốc ông ta thông báo
vị trí của ông với ai ở đâu đó mà
tôi (tức cựu Đại Tá Trí) không rõ.
Thiếu Tướng Bùi Thế Lân nói với tôi rằng:
Ông Tổng Lãnh Sự khuyên ổng (tức Thiếu Tướng
Lân) nên bảo toàn lực lượng, nhưng Thiếu Tướng
Lân không nói điều này với Trung Tướng Trưởng.
”Khoảng nửa đêm 28 rạng 29 tháng 3
năm 1975, có tiếng động cơ trực thăng xuống bãi
đáp bên cạnh, sĩ quan trực chạy ra đón và
hướng dẫn phái đoàn vào bộ chỉ huy hành
quân Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, gồm các vị:
Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Khánh (tôi
không biết họ) Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân
(đồn trú tại Đà Nẳng), Đại Tá Phước (cũng
không biết họ) Không Đoàn Trưởng Không
Đoàn 51/Sư Đoàn 1 Không Quân, Đại Tá
Nguyễn Hữu Duệ, Tỉnh/Thị Trưởng Thừa Thiên/Huế, và Đại
Úy sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Trưởng. Tại bộ
chỉ huy hành quân Sư Đoàn Thủy Quân Lục
Chiến, sau khi Trung Tướng Trưởng liên lạc với các đơn vị
và được biết đã rút lui an toàn (tức bỏ
Đà Nẳng), Trung Tướng Trưởng nói với các sĩ quan
cùng đi theo ông:
“Bây giờ thì các anh
hãy tự thoát, còn tôi , tôi đi theo
Thủy Quân Lục Chiến”.
”Trung Tướng Trưởng vừa nói xong
thì gần như cùng một lúc, Chuẩn Tướng
Khánh, Đại Tá Phước, Đại Tá Duệ, cùng
chào Trung Tướng Trưởng và lên trực thăng cất
cánh ngay.
”Khoảng 6 giờ sáng ngày 29
tháng 3 năm 1975, sĩ quan trực vào trình tôi
là chiến hạm đang tiến vào để đón các đơn
vị Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đến trình Trung Tướng
Trưởng:
“Thưa Trung Tướng, tôi không biết do lệnh từ đâu
mà chiến hạm đang chờ đón tôi và các
đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Vậy Trung Tướng nên đi với
chúng tôi ngay bây giờ, thưa Trung Tướng”.
”Sau một lúc chần chừ như có
ý không muốn rời Đà Nẳng, ông đứng dậy
cùng đi với tôi. Nhưng vì chiến hạm không
vào sát bờ được, cũng không có tàu
nhỏ để từ bờ ra chiến hạm, nên tất cả đều lội nước, và khi
mực nước lên đến ngực cũng là lúc trèo
lên tàu. Sau khi mọi người lên chiến hạm, lúc
ấy tôi trông thấy Đại Tá Hường (Nguyễn Xuân
Hường), Tư Lệnh Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh đã có mặt
trên tàu. Chiến hạm lui ra khơi nhưng chưa chạy, có
vẻ như chờ lệnh hay chờ ai đó.
”Vài tiếng đồng hồ sau, chiếc trực thăng
chở các sĩ quan rời khỏi bộ chỉ huy hành quân Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến lúc nửa đêm qua,
đã quay trở lại, không rõ là do thời tiết
xấu hay vì lý do gì đó, cả ba vị là
Chuẩn Tướng Khánh, Đại Tá Phước, với Đại Tá Duệ,
cùng lội nước ra chiến hạm. Vẫn là chiến hạm đang
có Trung Tướng Trưởng trên đó. Tôi thấy sự
chia tay đêm qua sao mà thản nhiên quá, thản
nhiên đến mức không có vẻ gì có
chút tình cảm đọng lại trong giây phút chia
tay đó làm tôi cảm thấy khó chịu.
(lời của Phạm Bá Hoa: Thuật chuyện đến
đây đôi mắt anh Trí đỏ hoe, chực phát
khóc! Rõ ràng là anh đang xúc
động!). Sau phút im lặng vì xúc động, cựu Đại
Tá Nguyễn Thành Trí kể tiếp:
”Tôi nhờ ông Hạm Trưởng để 3 sĩ
quan này ở phía trước hầu tránh cho Trung Tướng
Ngô Quang Trưởng trông thấy e không đẹp lòng
nhau. Mãi đến quá trưa, chiến hạm mới rời vùng
biển Đà Nẳng và trực chỉ Cam Ranh. Giữa chiến hạm với Bộ
Tư Lệnh Hải Quân giữ liên lạc vô tuyến chặt chẻ,
nên khi chiến hạm vừa đến vịnh Cam Ranh thì nhận được
công điện của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó, Tổng
Thống ra lệnh cho tất cả lên bờ, chỉ riêng Trung Tướng
Trưởng vẫn ở trên chiến hạm và về Sài Gòn
ngay. Tôi thắc mắc nếu muốn Trung Tướng Trưởng về Sài
Gòn ngay thì tại sao Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu
không cho phi cơ ra Cam Ranh đón mà lại bảo đi bằng
tàu? Lúc đó Trung Tướng Trưởng nói
là ông đi theo Thủy Quân Lục Chiến chớ không
về Sài Gòn. Đến khi Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư
Lệnh Quân Đoàn II, từ Nha Trang vào Cam Ranh
khuyên Trung Tướng Trưởng nên về Sài Gòn theo
lệnh Tổng Thống. Sau đó, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư
Lệnh Quân Đoàn I đã theo chiến hạm về Sài
Gòn”.
Đến đây là hết lời kể của cựu Đại
Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
Với lời thuật trên đây của cựu Đại
Tá Nguyễn Thành Trí, tôi nghĩ rằng: rất
có thể là các vị Tư Lệnh đại đơn vị tại Quân
Đoàn I, từ binh chủng Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân
Lục Chiến, đến quân chủng Hải Quân, Không Quân,
và cũng có thể ngay cả Trung Tướng Ngô Quang
Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I nữa, đã nhận được lời
khuyên “bảo toàn lực lượng” như Thiếu Tướng Bùi Thế
Lân đã nhận của ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại
Đà Nẳng cũng nên? Và không chừng chiến hạm
vào gần bờ để đón Thủy Quân Lục Chiến cũng từ “lời
khuyên” của ông Tổng Lãnh Sự nữa chăng! Vì
rõ ràng là cựu Đại Tá Trí
không hề biết lệnh xuất phát từ đâu mà.
Và phải chăng với “lời khuyên” đó đã dẫn đến
các vị Tư Lệnh có quân có quyền trong tay
lần lượt rời khỏi đơn vị hoặc chỉ huy đơn vị triệt thoái? Điều
này tôi không rõ, nhưng có điều
quí vị đều rõ là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn
I và Đà Nẳng đã vào tay quân cộng sản
quá dễ như khi vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II ở
Plei Ku vậy!
Bây giờ xin mời quí vị nhìn
vào đoàn người đông đảo đã “bỏ của chạy lấy
người” được các loại tàu quân sự lẫn tàu
hàng hải, tàu của Việt Nam lẫn thương thuyền ngoại quốc
thuê mướn, vận chuyển đồng bào từ Huế, Đà Nẳng,
và các tỉnh dọc duyên hải xuôi Nam, và
đưa ra đảo Phú Quốc tạm trú. Phú Quốc thuộc tỉnh
Kiên Giang mà tỉnh lỵ là Rạch Giá, nằm ngay
cửa ngỏ vịnh Thái Lan. Số đồng bào chạy loạn này
do Bộ Xã Hội phụ trách nuôi ăn trong khi chờ biện
pháp giải quyết chung. Bộ Xã Hội yêu cầu Tổng Cục
Tiếp Vận giúp họ tiếp tế mỗi ngày 20.000 phần cơm vắt
và phi cơ đưa ra Phú Quốc cung cấp cho đồng bào.
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên bảo tôi lo giúp Bộ
Xã Hội. Tôi điện thoại lên Trung Tâm Huấn
Luyện Quang Trung, xin tiếp chuyện với Thiếu Tướng Trần Bá Di,
Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm này:
- “Hoa đây Anh. Có việc này
xin nhờ Anh và hi vọng Anh tiếp tay được”.
Xin lỗi quí vị, tôi xưng hô như
vậy với Thiếu Tướng Trần Bá Di, vì chúng tôi
thân nhau từ lâu.
- “Việc gì mà coi bộ quan trọng
vậy anh?
- “Tại Phú Quốc hiện có khoảng 20.000 đồng bào của
các tỉnh miền Trung chạy vào tạm trú, bên Bộ
Xã Hội nhờ quân đội nấu cơm, vắt lại từng vắt, và
dùng phi cơ quân sự đưa ra Phú Quốc cho đồng
bào. Chuyện này là chuyện hằng ngày nghe
Anh. Gạo thì Bộ Xã Hội cung cấp. Anh liệu Trung Tâm
có thể giúp bằng cách nấu cơm, vắt lại, cho
vô thùng và đưa ra phi trường được không? Dĩ
nhiên là chúng tôi lo phi cơ”.
- “Được chớ. Chuyện chung mà. Nhưng chừng nào tụi tui nấu?
- “Ngay hôm nay, để mai là chuyến tiếp tế đầu tiên
do quân đội nhận giúp. Vậy Anh cho mượn gạo hôm nay
nghe, ngày mai chúng tôi chở gạo đến Anh đủ một
tuần, sau đó mình tính tiếp”.
- “Được. Tôi cho nấu ngay. Khi xong, tôi cho anh hay”.
- “Cám ơn Anh rất nhiều”.
- “Cái gì mà cám ơn. Mỗi người mỗi đơn vị
góp một chút vào trách nhiệm chung chớ!
Trong khi vịnh Cam Ranh bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa,
nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III,
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn gấp
rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn
Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh
này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân
Đoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ
Sư Đoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn (Phan
Rang hay là Ninh Thuận), với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy
tuyến phòng thủ tại đây. Phải nhận rằng, sự kiện Trung
Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nhận chức vụ này trong một tình
hình hết sức nguy hiểm, vì Phan Rang phút chốc trở
thành tuyến đầu trước áp lực của quân cộng sản đang
trên đà thắng thế, là một hành động xứng
đáng được tuyên dương. Trung Tướng Nghi ngang hàng
với Trung Tướng Toàn, mà ông chấp nhận dưới quyền
Trung Tướng Toàn, quả là ông hành động
vì sự lâm nguy của tổ quốc.
Tôi nói “quân cộng sản đang
trên đà thắng thế”, nhưng không phải chúng
thắng thế do thắng trận, mà chúng thắng thế vì
các đại đơn vị của chúng ta lần lượt rút bỏ tuyến
phòng thủ trước khi quân cộng sản đến. Còn tại sao
các đại đơn vị rút bỏ như vậy, tôi nghĩ, chỉ
có quí vị Tư Lệnh các đại đơn vị đó mới
giải thích được. Nhưng có lẽ không nên loại
trừ giả thuyết về nguyên nhân “bảo toàn lực lượng”
tương tự như lời của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân -Tư Lệnh Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến- nói với Đại Tá
Nguyễn Thành Trí -Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Thủy
Quân Lục Chiến- là ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ
tại Đà Nẳng đã khuyên ông (tức Thiếu Tướng
Lân) như vậy.
Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi
thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư
Đoàn 2 Bộ Binh, Sư Đoàn Nhẩy Dù, và Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi
tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa
hoàn chỉnh. Điển hình là Sư Đoàn 2 Bộ Binh
từ Quảng Ngãi, và Sư Đoàn 22 Bộ Binh từ Qui Nhơn,
triệt thoái về Vũng Tàu- Bà Rịa, Tổng Cục Tiếp Vận
đưa quân trang quân dụng từ Sài Gòn ra
tái trang bị theo tiêu chuẩn: “Mỗi Sư Đoàn tổ chức
2 Trung Đoàn (thay vì 3), mỗi Trung Đoàn tổ chức 2
Tiểu Đoàn (thay vì 3), Pháo Binh Sư Đoàn tổ
chức 2 Tiểu Đoàn (thay vì 3), mỗi Tiểu Đoàn
Pháo Binh tổ chức 2 Pháo Đội (thay vì 3), mỗi
Thiết Đoàn Kỵ Binh tổ chức 2 Chi Đoàn (thay vì
3)”. Tất cả chỉ vì không đủ quân số, cũng
không đủ quân trang quân dụng, vì số lượng
quân trang quân dụng tồn trữ là dành cho nhu
cầu thay thế chớ không dự trù để trang bị cấp đại đơn vị.
Chỉ có các đơn vị của Thủy Quân Lục Chiến là
được Sư Đoàn này bổ sung quân số tương đối đầy đủ
bằng số tân binh vừa huấn luyện xong.
Sau khi tái tổ chức,
tuy vẫn còn danh
hiệu Tiểu Đoàn, Trung Đoàn, Sư Đoàn, nhưng tổ chức
đơn vị, trang bị, cộng với tinh thần, phải công nhận là
sức chiến đấu các đơn vị chắc chắn sẽ sút giảm
nghiêm trọng! Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn
Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển
quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm,
Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4
xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với
các tỉnh đồng bằng Cửu Long.
Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung
Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng
Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân,
cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh.
Tiếp đó là Đà Lạt, Lâm Đồng, Bình
thuận (tức Phan Thiết), và Bình Tuy (tức Hàm
Tân), đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô
Sài Gòn. Sư Đoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng
Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ
Củ Chi, sát nách Sài Gòn.
Ngay trước ngày rút bỏ Nha Trang,
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu
kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, chỉ thị tôi gấp
rút nghiên cứu tái tổ chức toàn ngành
Tiếp Vận và phối trí từ vĩ tuyến 13 (trên địa
thế là Phan Rang) trở xuống. Với lệnh này, tôi hiểu
là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn lại
từ Phan Rang xuống đến Cà Mau, ra Phú Quốc và
Côn Sơn! Tôi chỉ kịp trình bản phác thảo kế
hoạch thì Phan Rang thất thủ, và nhiệm vụ nghiên
cứu chấm dứt từ đó. Xin nhắc lại là lúc bấy
giờ có dư luận về một áp lực từ phía ngoại quốc,
buộc Việt Nam Cộng Hòa cắt phần trên vĩ tuyến 13 đến vĩ
tuyến 17 giao cho tổ chức gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải
Phóng Miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch.
Mặt Trận này là tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt
Nam và khai sinh vào cuối năm 1960 trong khu rừng
già biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Như vậy, dư luận đó
không phải là không có cơ sở.
Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư
Đoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo giữ chức Tư
Lệnh, ước tính khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản mở
cuộc tấn công vào Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân
Lộc, tỉnh Long Khánh. Rất có thể là chúng
cứ tưởng “chẻ tre” như từ sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) xuống đến
đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng
cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định
sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một
đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó
đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom
10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng
giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho
quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục
tiêu Sư Đoàn 18 Bộ Binh để vòng xuống tấn
công Biên Hòa. Sau đó, Sư Đoàn 18 Bộ
Binh được lệnh Quân Đoàn III rút về trấn giữ căn cứ
Long Bình.
Về phía Tiếp Vận. Từ sau ngày mất Cao
Nguyên đến lúc này, toàn bộ các kho
của toàn ngành Tiếp Vận từ Huế vào đến Cam Ranh,
hầu như nguyên vẹn khi những đoàn quân triệt
thoái, vì Tổng Cục Tiếp Vận không nhận được bất cứ
một mệnh lệnh nào phải phá hủy các kho tồn trữ
trước khi các đại đơn vị rút lui cả. Mà thật ra
nếu có lệnh cũng không chắc là các đơn vị
trách nhiệm có đủ thì giờ để phá, vi hầu
hết là rút lui trong hỗn loạn chớ có kế hoạch
gì đâu mà phá hủy!
Chương Chín
Những Ngày Cuối
Cùng (ngày 21/4 đến 28/4/1975)
Trong chính trị, không thiếu những
cái khôi hài, nhưng khôi hài trong
cái gọi là Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho
Việt Nam Cộng Hòa vào cái lúc mà
chính Hoa Kỳ muốn “con bệnh Việt Nam mau được tẩn liệm”, quả
là khôi hài đến rơi nước mắt!
Đó là những ngày hạ tuần
tháng 4 năm 1975, có những chuyến phi cơ vận tải C.130
và C.141 lác đác đáp phi trường Tân
Sơn Nhất, mang theo một số đại bác 105 ly đã dùng
rồi, một số mũ sắt không đồng bộ, nghĩa là chỉ có
mũ nhựa bên trong mà không có mũ sắt
bên ngoài, vài trăm túi cứu thương cá
nhân,….. mà báo chí gọi là Hoa Kỳ vẫn
viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa! Thật là tội nghiệp cho
chữ nghĩa! Thật ra, đó chỉ là những chuyến phi cơ đến
Sài Gòn với nhiệm vụ chính là chuyên
chở những tài liệu và máy móc quan trọng
của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.
Trong khi Việt Nam cần ngay trước mắt
300.000.000,00 mỹ kim bổ sung nhu cầu duy trì khả năng chiến
đấu, thì phái đoàn này rồi phái
đoàn khác của Hoa Kỳ lần lượt đến Việt Nam gọi là
cứu xét để viện trợ, nhưng dường như họ muốn đến tận xứ sở bất
hạnh này để xem chương chiến tranh ý thức hệ giữa cộng
sản với tự do bao giờ thì bắt đầu xếp vào quá khứ,
khi họ đặt những câu hỏi chẳng thiện cảm chút nào
trong lúc họ xem “trưng bày” tại võ đình
trường Bộ Tổng Tham Mưu, một số vũ khí tịch thu của quân
cộng sản. Mà thật ra các giới chức Việt Nam cũng thừa
hiểu là họ không có ý tích cực
nào trong mục đích nghiên cứu thời sự cho vấn đề
viện trợ bổ sung cả, nên Bộ Tổng Tham Mưu cũng chỉ trưng
bày một số vũ khí tịch thu của quân cộng sản từ
những chiến trường trước chớ không phải từ chiến trường
nóng hổi mới đây. Xin nói thêm rằng,
trong tài khóa 1974-1975, Hoa Kỳ viện trợ quân sự
cho Việt Nam Cộng Hòa 700.000.000,00 mỹ kim, và
đây là lần đầu tiên họ cho biết số ngân khoản
viện trợ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời họ
yêu cầu cung cấp cho họ kế hoạch nhận viện, gồm những loại
quân dụng nào? Loại đạn nào? Bao nhiêu?
..v..v.. Và Tổng Cục Tiếp Vận đã cung cấp kế hoạch
đó cho họ.
Sau khi Phước Long vào tay quân cộng
sản, một phiên họp mật được tổ chức tại phòng họp số 2 của
Bộ Tổng Tham Mưu, thường gọi là phòng họp “Tân Sinh
Nông Thôn”. Tham dự, về phía Việt Nam có:
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu
Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng
Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, với 5 sĩ quan tham mưu của
Phòng 3.
Đại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó
Tổng Cục Tiếp Vận.
Tôi, Đại Tá Phạm Bá Hoa, Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, và 3 sĩ quan nữa của bộ tham mưu
chúng tôi.
Phía Hoa Kỳ tham dự, có:
Thiếu Tướng Smith, Trưởng Văn Phòng
Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Đại Tá Pelosky, Phụ Tá Thiếu Tướng
Smith về Tiếp Vận, và 2 sĩ quan tham mưu của họ.
Mục đích buổi họp là Văn phòng
Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ -chớ không phải do
Bộ Tổng Tham Mưu- trình bày kế hoạch tái tổ chức
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (!) với quân số 472.000
người, và Hoa Kỳ dự trù viện trợ duy trì đội
quân này mỗi năm là 600.000.000,00 mỹ kim. Họ
yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
nghiên cứu lại các bảng cấp số của từng loại đơn vị để
quân số tham gia tác chiến được 65%. Tất nhiên
là buổi họp còn thảo luận nhiều chi tiết nữa.
Xin được nhấn mạnh là họ đã có
kế hoạch rút chân ra khỏi Việt Nam trước một tình
hình cực kỳ nguy hiểm -bằng chứng là lời của Thiếu Tướng
Smith đã nói trong bữa ăn tối nhân Giáng
Sinh năm 1974- mà họ lại ra cái điều vẫn quan tâm
đến tương lai Việt Nam khi họ đưa ra kế hoạch tái tổ chức
quân đội, nghiên cứu kế hoạch viện trợ bổ sung. Ngôn
ngữ chính trị là như vậy đó! Nói vậy, nhưng
không nhất thiết là như vậy đâu, mà
tùy thuộc nhiều yếu tố khác nhau để hiểu loại ngôn
ngữ này.
Đành rằng, những đòi hỏi cấp
bách trong nội bộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ kết thúc sự can
dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh chống cộng sản tại Việt Nam, cho
nên từ lời nói ngoại giao đến hành động cũng ngoại
giao của Hoa Kỳ, chỉ là chuyện đầu môi chót lưỡi
của những nhà chính trị cũng như quân sự
thôi. Thủ đoạn của những nhà chính trị là
điều cần thiết trong phòng thủ hay tấn công đối phương,
thậm chí sử dụng ngay cả các quốc gia đồng minh nữa,
nhưng thủ đoạn mà Hoa Kỳ sử dụng đối với Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta, một quốc gia mà Hoa Kỳ thừa nhận
là tuyến đầu chống cộng sản quốc tế tại Đông Nam Á
Châu, quả là thiếu liêm sĩ trong lãnh đạo!
Tôi nghĩ, đây là bài học
lãnh đạo mà thế hệ chúng ta không bao giờ
quên, bởi vì nó cay đắng quá, bi thảm
quá! Và những thế hệ sau chúng ta, nên
gìn giữ bài học chứa đựng quá nhiều xương
máu của dân tộc trong hành trang vào đời, để
nghiền ngẫm mà phục vụ nguyện vọng toàn dân
dù ở bất cứ cương vị nào trong xã hội.
Xin mời quí vị quí bạn rời khỏi
cái phòng họp gần suốt buổi sáng, nơi ẩn chứa một
không khí đầy dối trá trong chính trị lẫn
quân sự từ một cường quốc “đồng minh”, để nhìn vào
một thực tại bi thảm của chúng ta!
Với những cuộc rút
lui hỗn loạn của Quân Đoàn I,
Quân Đoàn II, và phần lớn của Quân
Đoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân
Đoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long,
chưa có những trận đánh quan trọng nào, và
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV,
đã ra lệnh báo động cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Sư
Đoàn 9 Bộ Binh, Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Sư Đoàn 4
Không Quân, cùng với Hải Quân, và
các đơn vị tác chiến khác -kể cả Địa Phương
Quân Nghĩa Quân- sẳn sàng chống trả các cuộc
tấn công của quân cộng sản. Và cũng đến lúc
này (20/4/1975), chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng
rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Đoàn IV cả.
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vốn dĩ là mẫu người hiền hòa
nhưng rất cương quyết. Ông rất quan tâm và chăm
sóc đời sống của quân nhân thuộc quyền. Tư
cách và uy tín của ông, hoàn
toàn chinh phục được những vị Tướng Lãnh và
quân nhân thuộc quyền.
Tổ Quốc đang trong cảnh mất mát suy
tàn, với vô vàn đau thương cho tất cả các
tầng lớp trong xã hội, nhất là đối với những gia
đình từ các tỉnh Cao Nguyên và Duyên
Hải miền Trung, đã bỏ của chạy lấy người vào sống nhờ
sống tạm trên phần đất mong manh còn lại này,
thì tình hình chính trị nội bộ lại lung lay
tận gốc rễ. Những tin đồn đoán nào là Đại Tướng
Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo
chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị
áp lực từ chức, ..v..v.. được truyền đi từ người này sang
người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin
đó xuất phát từ đâu cả. Thông thường
thì những loại tin như vậy cũng không phải hoàn
toàn vô căn cứ, nếu nó xảy ra thì trở
thành sự thật nhưng nếu nó không xảy ra thì
xếp vào loại câu chuyện làm quà hoặc
câu chuyện lúc trà dư tửu hậu để tỏ ra mình
nắm vững thời cuộc.
Trong loạt tin đồn đoán lần này,
có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng
Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng
Hòa, tuyên bố từ chức vào tối 21 tháng 4 năm
1975, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi
đồng minh Việt Nam (!) Và ông cũng tuyên bố đại
ý rằng, “… quân đội sẽ có thêm một chiến hữu
cầm súng chiến đấu …” Ý nói là Trung Tướng
(Thiệu) sẽ tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội. Hơn
hai tuần trước đó, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
đã bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn
Bá Cẩn, đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện.
Lúc bấy giờ có dư luận cho rằng, Đại
Tướng Trần Thiện Khiêm đang được quân đội ủng hộ để trong
một tình huống nào đó sẽ thay thế Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu, vì quân đội đang bị Tổng Thống Thiệu đưa
chính trị vào “cướp quyền” lãnh đạo của các
cấp chỉ huy, và đó là lý do Tổng Thống
Thiệu cách chức Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Về phần
tôi, tôi không thu thập được gì trong
các cơ quan sở tại Bộ Tổng Tham Mưu về điều đồn đoán
này, nhưng tôi tin là có điều gì
đó tựa như “cơm không lành canh không ngọt”
giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.
Xin nhắc lại. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu
vong từ ngày 7 tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức
Đại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại
Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) tháng 10 năm 1965.
Đến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ.
Đầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu
tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức
vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức
Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ
và Tiết Kiệm Quân Nhân, thì Đại Tướng Trần
Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức vụ này.
Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt
và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống, Thủ Tướng, sát
cánh với quân đội và toàn dân chiến
đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì
hai vị lãnh đạo cao nhất nước, đã kế tiếp nhau chuyển
giao chức vụ cho hai vị khác trước cơn dầu sôi lửa bỏng
của đất nước nhỏ bé và bất hạnh triền miên
này! Sau đó, hai vị đã âm thầm bỏ tổ quốc
Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn
lên. Quí vị bỏ quân đội Việt Nam, một quân đội
đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng.
Và quí vị bỏ gần 20 triệu đồng bào mà
chính Họ đã từng bỏ phiếu bầu một trong hai vị vào
chức vụ Tổng Thống trong hai nhiệm kỳ để lo bảo vệ nước, lo chăm
sóc dân. Nói chung là quí vị bỏ lại
đằng sau tất cả, để rồi quí vị lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong
đêm tối trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc
tài cai trị! Còn gì để nói đây!
Nếu sau này quí vị có
nói gì với dân tộc Viêt Nam khốn khổ
này, xin quí vị đừng nói rằng quí vị từ
chức chỉ vì Hoa Kỳ không còn viện trợ nên
không đủ phương tiện để tiếp tục chống cộng sản nữa! Tôi
nghĩ, quí vị đừng nói gì cả thì vấn đề sẽ
không tệ thêm!
Theo đúng Hiến Pháp, Phó Tổng
Thống Trần Văn Hương đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống hai
ngày sau đó. Và trên làn sóng
đài phát thanh Hà Nội, cộng sản nêu
yêu sách và có vẻ như Hoa Kỳ đồng lỏa với họ
để gây áp lực buộc tân Tổng Thống Trần Văn Hương
giao chức vụ này cho nhân vật không dự liệu trong
Hiến Pháp 1967. Đó là Đại Tướng Dương Văn Minh.
Và điều lạ là Đại Tướng Minh sẳn sàng nhận chức
Tổng Thống không hợp hiến từ tay Tổng Thống hợp hiến Trần Văn
Hương.
Tân Tổng Thống Trần Văn
Hương là một
nhà giáo mẫu mực, liêm khiết, một nhà
chính trị với tất cả nhiệt tình vì quốc gia
dân tộc, và là một nhà lãnh đạo rất
bình tỉnh thận trọng. Ông yêu cầu triệu tập Quốc Hội
để có quyết định và ông sẽ tôn trọng quyết
định đó. Điều này cho thấy Tổng Thống Trần Văn Hương
không tham quyền cố vị, nhưng ông không thể tự
mình chuyển giao chức vụ như vậy được, vì Hiến
Pháp không dự liệu điều khoản nào cho trường hợp
tương tự.
Đêm 27 tháng 4 năm 1975, trong khi
đường phố thủ đô đông nghẹt đồng bào bồng bế di tản
về đây từ các tỉnh đã vào tay cộng sản, Quốc
Hội lưỡng viện đã họp và quyết định Tổng Thống Trần Văn
Hương bàn giao chức vụ này cho Đại Tướng Dương Văn Minh.
Quyết định này hẳn là hợp “khẩu vị chính trị”
nên các vị lãnh đạo quyền uy thi hành ngay.
Hoa Kỳ cũng không có ý kiến gì khác.
Nước Pháp đã thua trận trước đối thủ
Việt Minh cộng sản được đánh dấu bởi Hiệp Định Đình Chiến
ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại thành phố
Genève, Thụy Sĩ. Sau đó đoàn cố vấn Hoa Kỳ
vào Việt Nam thì quân đội Pháp triệt
thoái toàn bộ khỏi Việt Nam trong những tháng đầu
năm 1956. Đến đầu năm 1964, quí vị Tướng Lãnh Việt Nam
có khuynh hướng thân Pháp đều bị gạt khỏi vai
trò lãnh đạo quân đội từ sau cuộc đảo chánh
ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công.
Và bây giờ, trong tình thế Hoa Kỳ đang như “thua
trận” trước đối thủ Việt Nam cộng sản, nước Pháp muốn đưa ảnh
hưởng của họ trở lại chính trường Việt Nam với bước đầu
là đảm nhiệm “vai trò con thoi” giữa tân Tổng
Thống sắp nhận chức Dương Văn Minh với cộng sản Hà Nội. Người
thay mặt nước Pháp tại Việt Nam Cộng Hoà trong vai
trò đi tìm một giải pháp chính trị khả dĩ
hai bên có thể chấp nhận được là Ông Đại sứ
Mérillon. Nhưng đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,
mới vở lẽ rằng, nước Pháp đã bị cộng sản Hà Nội
lừa, vì họ nhất quyết đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa
chớ không nhằm mục đích tìm giải pháp
gì cả. Những toan tính đầu môi của Hà Nội
là loại chính sách “ngoại giao hàng
tôm hàng cá” mà họ thường áp dụng
trong bang giao quốc tế, ấy vậy mà nước Pháp -một trong
những cường quốc Âu Châu- bị họ qua mặt dễ dàng.
Đó là “một cái tát đau” mà cộng sản
Việt Nam tặng Pháp quốc. Liệu có nên chia xẻ
“cái đau” ấy với cường quốc Âu Châu này
đã hơn 80 năm đô hộ Việt Nam mình hay không?
Chiều 28 tháng 4 năm 1975, buổi lễ giao và nhận chức Tổng
Thống giữa Giáo sư và là nhà
chính trị lão thành Trần Văn Hương với Đại Tướng
Dương Văn Minh, diễn ra trong không khí hỗn loạn
trên đường phố thủ đô và không khí trầm
lắng ngay trong Phủ Tổng Thống. Vị Tổng Thống 7 ngày Trần Văn
Hương giới thiệu tân Tổng Thống Dương Văn Minh như là một
người rất can đảm khi nhận chức vụ này, trong khi tân Tổng
Thống Dương Văn Minh rất thận trọng chưa dám hứa là sẽ
làm được gì, nhưng ông tin là ông
có khả năng thương thuyết với Chánh Phủ Lâm Thời
Cộng Hoà Miền Nam để thành lập chánh phủ
liên hiệp, đem lại hòa bình cho quốc gia dân
tộc. “Chánh phủ liên hiệp” được hiểu là
chánh phủ quốc gia và cộng sản. Tổng Thống Dương Văn Minh
không nói đến nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội,
mà ông chỉ nói là sẽ thương thuyết với Mặt
trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ
làm Chủ Tịch. Tôi nghĩ, đó là cách
dùng chữ của Tổng Thống Dương Văn Minh, nhưng bất cứ người
dân nào cũng hiểu rằng, ông Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ
hay Thủ Tướng Huỳnh Tấn Phát của cái Mặt Trận đó
cũng chỉ là những cái loa của cộng sản Hà Nội
thôi. Cho nên Cộng Hòa Miền Nam hay Cộng Sản Miền
Bắc, cũng là cộng sản.
Cũng trong lễ bàn giao này, cựu Tổng
Thống Trần Văn Hương đã nói một cách dõng
dạc và rõ ràng rằng, “… nếu như trời hại mất nước
thì ông quyết ở lại với mọi người chớ không bỏ
quê hương tổ quốc…”. Vị giáo sư mẫu mực và
là nhà chính trị lão thành
Trần Văn Hương, đã giữ đúng lời nói của
mình. Vì sau cùng, ông đã chết ngay
trên quê hương Việt Nam giữa muôn vàn đau khổ
của đồng bào dưới chế dộ cộng sản độc tài nghiệt
ngã! Vị giáo sư già đó: ông Trần Văn
Hương, xứng đáng được chúng ta ngã mũ cúi
chào một cách trân trọng. Từ nơi hải ngoại nửa
vòng trái đất xa xôi, xin gởi về một nén
hương nhờ cắm trước mộ Giáo Sư Trần Văn Hương, với lời nguyện
hương linh Ông siêu thoát nhẹ nhàng . . .
Về lời nói đầu
tiên của tân Tổng
Thống Dương Văn Minh, thì bất cứ người dân bình
thường nào cũng hiểu rằng, kế hoạch hòa bình của
ông nếu được cộng sản Hà Nội chấp nhận, chẳng qua
là họ chấp nhận đầu hàng theo từng bước. Bước đầu
là hòa giải hòa hợp và chỉ cần bước kế tiếp
là toàn cõi Việt Nam trở thành cộng sản
thôi. Nhưng nói đi cũng nên nghĩ lại, là biết
đâu, nếu như “thời cơ” của ông đến thì ông
cũng làm nên chuyện vĩ đại lắm chớ.
Nhận xét và suy nghĩ của tôi,
Đại Tướng Dương Văn Minh là một nhân vật dễ tạo cảm
tình với nhiều người nhiều giới, nhưng là nhân vật
không thích hợp với vai trò lãnh đạo
chính trị, lại càng không thích hợp với một
tình thế như vậy, vì ông không phải là
người tháo vát, nhanh nhẹn, và dũng lược.
***
Di tản!
Tối 23 tháng 4 năm 1975, Đại Tá Phạm
Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận, điện thoại đến
nhà tôi, ông nói:
- “Đại Tá Pelosky, yêu cầu
các sĩ quan Tổng Cục đưa tên gia đình sang
bên đó (tức Văn Phòng Tùy Viên Quốc
Phòng Hoa Kỳ=DAO) để ghi vào danh sách chuyến bay,
và gia đình có thể rời Việt Nam vào tối mai
hoặc đêm sau đó. Sĩ quan sẽ đi sau. Vậy anh liên lạc
đưa danh sách gia đình ngay trong đêm nay cho
tôi hoặc đưa thẳng cho Đại Tá Pelosky cũng được”.
Tuy đã biết về lời của Tướng Smith,
cùng theo dõi chặt chẻ tình hình chiến sự
và tình hình chính trị quốc nội quốc ngoại,
nhưng tôi vẫn cảm thấy tin này quá đột ngột,
tôi đáp:
- “Đây là vấn đề rất quan trọng
đối với cuộc sống gia đình tôi và ảnh hưởng đến
thân quyến tôi nữa, nên tôi cần thảo luận với
gia đình mới quyết định được anh à. Nghĩa là
tôi chưa thể trả lời trong đêm nay, và
dù sao thì tôi cũng cám ơn anh”.
Thế là từ đêm hôm sau, những gia
đình của các sĩ quan trong ngành lần lượt
lên phi cơ Hoa Kỳ rời Sài Gòn để đến đảo Guam tạm
trú, chờ làm thủ tục và cũng là chờ người
thân đến trước khi vào lục địa Hoa Kỳ định cư. Tôi
xin nói thêm rằng, không phải gia đình của
tất cả sĩ quan trong ngành Tiếp Vận đều ra đi, vì lệnh
này không được phổ biến cho nên sĩ quan nào
biết thì liên lạc với các sĩ quan trách
nhiệm của Tổng Cục Tiếp Vận, các vị này giới thiệu với
Đại Tá Pelosky và được ghi vào danh sách
lên phi cơ rời Việt Nam vào đêm sau đó.
Sáng 24 tháng 4 năm 1975, tôi
lên văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, ông
nói:
- “Gia đình tôi không đi mặc
dù danh sách đã đưa cho Đại Tá Pelosky rồi”.
- “Sao vậy Trung Tướng?
- “Anh nghĩ coi, gia đình tôi đâu có tiền,
sang bên đó làm sao mà sống. Với lại
tình hình quốc gia như thế này mà lại
tính chuyện ra đi thì còn mặt mũi gì nữa!
Ngưng một lúc, ông tiếp:
- “Mất nước đến nơi mà các
ông cứ tranh nhau chức vụ quyền hành (ý nói
đến chức vụ Tổng Thống!) Buồn quá!
- “Tôi thì chưa tính gì, nhưng nếu Trung
Tướng có tính đi thì nên cho gia đình
đi ngay kẻo muộn, vì gia đình các anh đơn vị
trưởng và các anh Chánh Sở tại Tổng Cục Tiếp Vận
mình đã đi rồi”.
- “Tôi cũng chưa dứt khoát”. Lời của Trung Tướng
Khuyên.
Nói thì nói vậy, nhưng
đêm sau đó -25 tháng 4 năm 1975- gia
đình của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên cũng lên đường
đi Guam. Theo lời Trung Tướng Khuyên thì Thiếu Tướng Smith
thúc giục ông đưa gia đình đi càng sớm
càng tốt.
Thật ra thì hành khách
trên các phi cơ C130 và C141 rời phi trường
Tân Sơn Nhất vào mỗi tối kể từ 24 tháng 4 năm 1975,
không phải chỉ có gia đình sĩ quan mà
còn có mặt của nhiều người nhiều giới trong xã hội
nữa, vì bất cứ ai có bạn bè quen biết với Đại
Tá Pelosky, thì họ giới thiệu hay gởi gắm không
có gì khó khăn cả.
Từ ngày bắt đầu di tản với những chuyến bay
đêm, thì mỗi sáng tôi đều lên văn
phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, thảo luận về chiến sự
và thời sự trong tính cách tâm tình
hơn là ra lệnh và nhận lệnh giữa Tổng Cục Trưởng với Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục. Tấm bản đồ trên vách trái
bàn giấy của ông, những ước hiệu hình dáng
như cái phong bì màu đỏ tượng trưng đơn vị cộng
sản bao quanh Sài Gòn, và tương tự như vậy nhưng
màu xanh lá cây tượng trưng Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa phòng thủ thủ đô, thì màu đỏ
nhiều hơn màu xanh. Thật ra đó chưa chắc là thực
lực của quân cộng sản đến như thế, bởi chúng thường ngụy
tạo bằng các sóng truyền tin loại trang bị cho đại đơn vị
đặt ở đâu đó, để các sóng tình
báo kỹ thuật của mình ghi nhận và ghi lên
bản đồ vị trí các đại đơn vị của chúng. Trong số
lực lượng cộng sản do Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu ghi nhận
trên bản đồ, có thể một số là có thật, số
khác rất có thể là chúng ngụy tạo
thêm. Tôi nhận định như vậy, vì phi đoàn
tình báo kỹ thuật của Phòng 7/Bộ Tổng Tham Mưu
đã từng ghi nhận và phát giác sự kiện
này.
Lệnh di tản không cho phổ biến đã
gây nhiều phẫn nộ ngay trong hàng sĩ quan cao cấp đang
phục vụ trong Quân Trấn Sài Gòn, và nhiều vị
trong số này đều cho là Bộ Tổng Tham Mưu tắc
trách, hoặc có ý gì khác. Tắc
trách thì chắc chắn là không, nhưng
có ý gì khác hay không thì
tôi không rõ, nhưng hiển nhiên là
có lời nặng tiếng nhẹ đối với Tổng Cục Tiếp Vận. Chẳng hạn như Y
Sĩ Đại Tá Hoàng Cơ Lân, Chỉ Huy Trưởng Trường
Quân Y là trường hợp điển hình khi ông đẩy
cửa thật mạnh và sừng sững trước mặt tôi:
- “Tại sao Đại Tá không
thông báo cho chúng tôi biết kế hoạch di tản?
Như vậy là ý gì?
- “Anh đừng nóng, tôi trả lời anh đây. Chúng
tôi không thông báo cho bất cứ ai, vì
đó là lệnh mà chúng tôi cũng chỉ
là cấp thừa hành thôi. Ngoài ra, không
có ý gì hết. Bây giờ xin anh cho biết
là anh cần gì?
- “Tôi cần đưa gia đình di tản”.
- “Có gì khó đâu mà anh phải to
tiếng. Mời anh sang gặp Đại Tá Tổng Cục Phó để cung cấp
danh sách, và tối mai là gia đình anh đi
thôi”.
Trong tuần lễ cuối cùng của tháng 4
năm 1975, trên đường về nhà dùng cơm chiều để rồi
vào ngủ đêm trong Tổng Cục Tiếp Vận, tôi sử dụng
đường Cách Mạng 1/11, chuyển sang đường Hiền Vương và
thẳng đường Trần Quốc Toản về cư xá Bắc Hải (cũng gọi là
cư xá sĩ quan Chí Hòa). Nhìn đường phố thủ
đô chưa đến nỗi gọi là hỗn loạn nhưng cũng không xa
ý nghĩa đó bao nhiêu. Tiếng động cơ và tiếng
còi inh ỏi của các loại xe, chen lẫn trong âm thanh
của những đoàn người ngược xuôi giữa khói mù
thải ra từ các xe lớn nhỏ, hòa vào bụi bậm
phố phường, đã tạo nên một hình ảnh bi thảm của
chiến tranh! Trong những đoàn người từ các tỉnh chạy về
đây, người thì tìm nơi cư trú, kẻ tìm
phương tiện chạy xa thêm nữa. Các đơn vị quân đội
cũng tán loạn, dân không hẳn là dân
mà lính cũng không hoàn toàn
là lính. Quân phục không nghiêm chỉnh,
súng đạn thì kẻ còn người mất, không biết
cấp chỉ huy ở đâu mà tìm. Mặt khác,
còn phải tìm thân nhân thất lạc sau cuộc di
tản đầy hiểm nguy gian khổ! Trông nét thảm thương của
các đồng đội, tôi mới thấy tôi còn nhiều may
mắn hơn các bạn ấy. Nhưng tôi không làm được
gì cả!
Vào phi trường Tân Sơn Nhất để
tìm giúp gia đình người bạn và trao bức thư
vì anh ấy không vào được, tôi lại chứng kiến
cảnh tượng chia tay chưa biết ngày gặp lại thật là
xót xa thương cảm! Đó là những người chờ lên
phi cơ mà hầu hết là phụ nữ và trẻ con. Tiếng trẻ
con khóc đòi ăn, la đòi bú, những đứa
khác thì chạy nhảy rất ngây thơ đến tội nghiệp!
Người lớn thì kẻ ngồi người đứng, ưu tư, lo lắng, thậm
chí đôi mắt đỏ hoe, và chốc chốc nhìn ra
hướng cổng phi trường như mong ngóng người thân trong
những giờ còn lại trên phần đất quê hương trước khi
“di tản” sang Hoa Kỳ, một đất nước xa xôi đến nửa vòng
trái đất!
Bên cạnh hình ảnh đau thương
đó, nhiều xe du lịch đậu sát lề đường hay trên
sân cỏ, và trong số đó có những chiếc xe
có sẳn chìa khoá cùng với thẻ chủ quyền
có kèm theo mảnh giấy của chủ nhân: “Tặng xe
này cho bạn nào ngồi vào tay lái. Xin
chào”. Tôi đã nhìn vào một chiếc xe
như vậy. Trong khi bên ngoài cổng, một dòng xe xếp
hàng từ cổng phi trường dài gần đến cổng Bộ Tổng Tham
Mưu. Từng gia đình tụm năm tụm bảy trên chiếc chiếu nhỏ
hoặc tấm vải trắng dưới cái nắng gay gắt của Sài
Gòn tháng tư, và bên cạnh là những
thức ăn nước uống ngổn nga, đó là cảnh chạy trốn thảm họa
cộng sản!
Xuống bến Bạch Đằng, nơi có những thương
thuyền ngoại quốc lẫn thương thuyền Việt Nam sắp sửa kéo neo,
cũng cái cảnh nhốn nháo, vội vã, tiếng gọi ơi ới
với tiếng la tiếng khóc của trẻ con, và cả tiếng
gào thét giữa người đi kẻ ở, ai ai cũng vội vã,
cũng hấp tấp, sao mà bi thảm đến như vậy!
Trong thế kỷ 20 này, người dân sinh
sống miền Bắc đã một lần chạy trốn thảm họa cộng sản hồi năm
1954-1955. Giờ đây -20 năm sau- lại một lần nữa, hằng chục
ngàn người trong số đó cùng với nhiều chục
ngàn người sinh sống miền Nam, đã và đang
tìm cách chạy khỏi vòng tay cai trị của cộng sản.
Nhưng lần này, họ phải chạy đến một nơi ngôn ngữ bất đồng,
văn hoá khác biệt, phong tục tập quán hoàn
toàn xa lạ. Nói chung là rất nhiều nỗi lo chồng
chất phía trước, nhưng vấn đề cấp bách là phải
chạy khỏi nơi đây rồi mọi việc sẽ bắt đầu . . .
Tổ quốc tôi, đất nước tôi, dân tộc tôi, đến
thời mạt vận rồi sao!
Sau ngày cựu Tổng Thống Nguyễn Văn
Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên phi cơ
sang Đài Bắc (Đài Loan), đến Đại Tướng Cao Văn
Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng một quân đội hơn 1.000.000
người, cũng lên phi cơ rời bỏ Việt Nam! Ông ra đi trong khi
Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đang
quần thảo với khoảng 2 Sư Đoàn quân cộng sản tại
Xuân Lộc và chung quanh. Với những tổn thất nặng nề nhưng
quân cộng sản không hạ nỗi Sư Đoàn 18, nên
chúng rời chiến trường Xuân Lộc để chuyển quân xuống
tấn công căn cứ Sư Đoàn 3 Không Quân tại
Biên Hòa. Các đơn vị thuộc Sư Đoàn 1
Không Quân từ Đà Nẳng, Sư Đoàn 2 Không
Quân từ Plei Ku, Sư Đoàn 6 Không Quân từ Qui
Nhơn và Nha Trang, tập trung về căn cứ Không Quân
Biên Hòa, lại chuyển xuống Sư Đoàn 4 Không
Quân ở Cần Thơ, sau khi tham gia đánh chận lực lượng
bộ binh và phòng không của địch.
Chiều 28 tháng 4 năm 1975. Từ cửa sổ văn
phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, tôi đứng
nhìn toàn cảnh khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo con đường chánh về
phía phải là ra cổng số 1 tại giao lộ Võ
Tánh nối dài với đường Cách Mạng 1/11, về
phía trái là cổng số 3 ra đường Võ Di Nguy.
Ngay trước tòa nhà chánh là võ
đình trường rộng lớn, uy nghi, chính giữa là cột
cờ cao vời vợi với lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đang
tung bay trong gió. Vẫn những tòa nhà 2 tầng khang
trang với dáng vấp kiến trúc Châu Âu,
dùng làm văn phòng cho các Tổng Cục
và Phòng Sở của Bộ Tổng Tham Mưu. Vẫn những hàng
cây trang điểm màu xanh, cũng là buồng phổi của căn
cứ quân sự đầu não mà tôi nhìn thấy
gần như liên tục hơn 12 năm qua. Vẫn những chiếc quân xa
trên những con đường ngang dọc đầy bóng mát.
Và vẫn thấp thoáng những quân nhân qua lại
giữa các tòa nhà, nhưng tôi tưởng như
mình đang trơ trọi giữa khoảng trống mênh mông của
một nghĩa trang chiến tranh nào đó! Vì rằng những
vị Tướng Lãnh cùng nhiều sĩ quan cao cấp của cơ quan đầu
não này đã ra đi, số còn lại cũng đang
nói chuyện ra đi, chẳng còn ai nói đến chuyện
chiến đấu nữa! Cho đến lúc này thì hầu hết những
vị đầy quyền lực của chúng tôi nơi đây, đã
cao bay (trực thăng) xa chạy (ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ) hết rồi!
Phải chăng, đây
là giờ hấp hối của Bộ Tổng Tham Mưu, cơ quan đầu não của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?
Ôi! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một
quân lực vì lý tưởng tự do mà chiến đấu,
nhưng lại bất hạnh bởi những vị lãnh đạo quyền lực đã
không thi hành trách nhiệm khi tổ quốc thật sự
lâm nguy!
Chương
Mươì
GIỜ
THỨ
25
Từ sau ngày Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu từ chức, hằng ngày, trước đầu
giờ và sau cuối giờ làm việc, tôi thường
lên văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên để
theo dõi và trao đổi tình hình. Qua
câu chuyện trao đổi mang tính cách tâm
tình với nhau hơn là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu
ra lệnh cho Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Xin
mời
quí
vị
quí bạn vui lòng trở lại ngày 27
tháng 4 năm 1975 trước khi vào giờ thứ 25. Tại tòa
nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, đã hết giờ
làm việc buổi chiều từ lâu, tôi vẫn còn
ngồi trong văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, nghe
ông tâm
sự:
- Anh biết không, Thiếu Tướng Smith
nói với tôi là cấp chỉ huy của ông ta từ
Pentagon (lầu năm góc, tức Bộ Quốc Phòng
Hoa Kỳ)
nói ổng đang ủng hộ một Trung Tướng cộng sản ngay tại
Sài Gòn.
Tôi
ngạc nhiên
hỏi:
- Ông ta muốn ám chỉ Trung
Tướng phải không?
Tướng
Khuyên trầm
ngâm:
- Tôi cũng nghĩ
vậy”.
Tôi
hỏi
thêm:
- Trung Tướng có nói
gì không?
Ông
lắc đầu ngao
ngán:
- Không”.
Tôi
hỏi thêm câu
chót:
- Đến lúc này, Trung
Tướng có quyết định ra đi
chưa?
Tôi
hỏi như vậy là vì lúc sáng, Y Sĩ Chuẩn
Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y, lên
hỏi thăm tình hình, Trung Tướng Khuyên yêu
cầu Chuẩn Tướng Thanh cho ông 2 chai thuốc độc, và
tôi cũng xin 2 chai (1 chai để trong túi và 1 chai
trong cặp xách tay).
Khi
ông xin thuốc độc, điều đó cho thấy có thể
là ông không bỏ chạy, hoặc xin thì xin nhưng
chạy vẫn chạy. Nhưng tôi nghĩ, ít ra thì Trung
Tướng Khuyên đang có hai giải pháp trong đầu.
Im lặng một lúc, chừng như ông đang xúc động
nên lời nói của ông thật nhỏ:
- Tôi
đã
hứa
với
ổng (tức Thiếu Tướng Smith), vì tôi cảm
thấy sẽ không an toàn nếu như tôi khước
từ di tản.
- Thiếu
Tướng
Smith
có
nói bao giờ thì đi không,
thưa Trung Tướng?
- Ổng được lệnh từ Pentagon là sẽ
đưa tôi
đi”.
- Thiếu Tướng Smith có nói
là sẽ đi vào lúc nào không Trung
Tướng?
Trung Tướng Khuyên buông thõng:
- Giờ
thứ
25”.
Tôi
thắc mắc hỏi
thêm:
- Ổng có nói với Trung
Tướng giờ đó là giờ nào
không?
- Giờ đó sẽ được quyết định từ
Pentagon”.
Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương
Văn Minh cho phổ biến bản tuyên bố trên đài
phát thanh Sài Gòn, theo đó thì Tổng
Thống yêu cầu Hoa Kỳ lập tức rút toàn bộ
các cơ quan và nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi Việt
Nam Cộng Hòa. Ngay sau bản tin ngắn ngủi nhưng rất quan
trọng đó, từng đoàn trực thăng của Hải Quân
Hoa Kỳ vào Sài Gòn, chuyên chở những người
“di tản” ra Hạm Đội 7 ngoài khơi Vũng Tàu.
Bãi
đáp chính của trực thăng là khu vực Văn
Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ ở Tân
Sơn Nhất, và bãi đáp trên sân
thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ, tọa lạc bên trái đại lộ
Thống Nhất (từ Dinh Độc Lập nhìn về hướng Thảo Cầm
Viên).
* * * *
Tôi xin dừng ở
đây để thuật tiếp phần cuối của câu chuyện ngắn (phần đầu
tôi đã thuật trong cuộc đảo chánh ngày 01
tháng 11 năm 1963) do cựu Đại Tá Nguyễn Linh
Chiêu kể cho các bạn trong bữa ăn tại nhà ông
ở Orange County, Nam California, vào ngày 15
tháng 11 năm 1991. Hôm ấy, tôi là một thực
khách trong số đó.
Chuyện mà cựu
Đại Tá Chiêu kể lại là nhân chuyến ông
sang Paris đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương
Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Đôn dùng cơm,
để giúp giải tỏa mối bất hòa giữa hai vị mà cả hai
đều là bạn thâm giao của cựu Đại Tá Chiêu.
Trong
toàn bộ câu chuyện ngắn đó có đoạn cựu
Đại Tá Chiêu hỏi cựu Tổng Thống Dương Văn Minh:
- Tại
sao
anh
mới
nhận chức Tổng Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về
nước?
- “Moa” không đuổi Mỹ. Bản văn đuổi
Mỹ là do Đại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa cho ”Moi” và
yêu cầu”Moi” phổ biến…
Phần cuối câu
chuyện chỉ có thế, nhưng nó cho thấy Hoa Kỳ đã “an
bài” chiến tranh chống cộng của Việt Nam Cộng Hòa
chúng ta đến tận cùng chi tiết. Vì vậy
mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn
“đuổi Mỹ” vừa phát đi trên làn sóng
đài phát thanh Sài Gòn, thì từng
đoàn trực thăng Hoa Kỳ thuộc Hạm Đội 7 của họ từ ngoài
khơi Thái Bình Dương ào ào vào
Sài Gòn, cứ như các trực thăng đó
túc trực ứng chiến trên đường bay của Hàng
Không Mẫu Hạm vậy. Thậm chí đơn vị Thủy Quân Lục
Chiến Hoa Kỳ đã có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất
và tòa đại sứ từ nửa đêm 28 rạng 29 tháng 4
năm 1975, để bảo vệ cuộc vận chuyển di tản.
Các sự kiện
đó đã xác định rõ ràng chớ
không phải ngẫu nhiên. Ngôn ngữ chính trị
là như vậy mà. Nghe vậy, nhưng
không phải vậy, mà đôi khi cũng có thể
là như
vậy.
Vẫn sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, như những
ngày trước đó, tôi lên văn phòng
Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, để theo dõi tình
hình, vẫn chưa nghe ông nói gì về giờ
thứ 25 mặc dù Tổng Thống đã chánh thức yêu
cầu Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa trong
vòng 48 tiếng đồng hồ.
Trở về văn
phòng, đứng ở lan can ngay trước văn phòng tôi,
nhìn sang bãi đáp bên kia hàng
rào kẽm gai ngăn cách giữa khuôn viên Bộ Tổng
Tham Mưu với một góc của khuôn viên phi trường
Tân Sơn Nhất. Từng chiếc trực thăng hạ cánh rồi cất
cánh với đầy người chen chúc bên trong, một
vài chiếc có cả người còn toòng teng ở
càng chân trực thăng chớ chưa vào được bên
trong.
Lúc ấy tôi liên tưởng đến tấm ảnh với ghi chú
ngắn trên những nhật báo phát hành tại
Sài Gòn ngày 18 và 19 tháng 4 năm
1975. Tấm ảnh đó chụp lúc những giới chức của quốc gia
Kampuchia, đang chen lấn lên trực thăng Hoa Kỳ để di tản khỏi
quê hương của họ, vì quân cộng sản đang tiến chiếm
thủ đô Nam Vang (Phnom Penh). Nghĩa là họ thua trận
trước Việt Nam Cộng Hòa, nhưng họ hơn ta ở điểm là
họ còn chống giữ thủ đô Nam Vang được vài
tuần.
Câu ghi chú rằng: “Những người Cao Miên đứng
bên ngoài rào, trông họ rất thản nhiên
khi nhìn cái cảnh trốn chạy của những người từng
lãnh đạo đất nước họ …”. Thật lòng mà nói,
lúc ấy tôi không biết tôi đang nghĩ gì
và sẽ phải làm gì khi trông thấy cảnh tượng
như vậy diễn ra ngay trước mắt! Có vẻ như tôi chưa sẳn
sàng chấp nhận hình ảnh đó là sự thật trong
cuộc đời, mặc dù nó đang xảy ra trước mắt
tôi!
Trong khi cảnh di tản
bằng trực thăng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn
Nhất ở phần đối diện với khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu vẫn
diễn tiến, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên đẩy cửa vào
phòng tôi, nhưng tôi bận điện thoại cung cấp
nhiên liệu cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đã từ Biên
Hòa rút về Gò Vấp.
Thấy tôi bận, ông quay trở ra và sang phòng
vệ sinh. Điện thoại xong, tôi ra đứng cạnh lan can chờ ông.
Dĩ nhiên là khi trở ra, Trung Tướng Khuyên
trông thấy tôi, ông đi ngang tôi, rồi đi thẳng
đến xe Jeep cách tôi chừng 5 bước. Ông
lên xe, nhìn thẳng phía trước, và im lặng.
Chưa bao giờ tôi thấy thái độ của ông như vậy,
do vậy mà tôi nghĩ: “Phải chăng giờ thứ 25 bắt
đầu?”.
Ông không
nói một tiếng nào trong khoảng 5 phút. Ông
ra hiệu bằng tay, anh Hạ Sĩ Quan tài xế cho xe lăn
bánh. Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên trán,
chào ông, rồi khoa tay từ biệt để ông hiểu là
tôi đoán được chuyện gì đang xảy ra. Nếu tôi
không lầm, thì Trung Tướng Khuyên sẽ rất xúc
động nếu như ông nói với tôi bất cứ lời
nào, vì vậy mà tôi không chút
phiền muộn đối với Trung Tướng Đồng Văn Khuyên cho dù
ông đã không một lời từ biệt, một lời từ biệt
với biết bao nguy hiểm cho người đi lẫn người chưa đi!
Lúc đó
là 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng
4 năm 1975, và tôi xem đây là giây
đầu tiên trong 3.600 giây của Giờ Thứ 25!
Khoảng hai tiếng đồng
hồ sau đó, Thiếu Tá Tấn, sĩ quan tùy viên
của Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, điện thoại tôi:
- Thưa
Đại
Tá,
Trung
Tướng đã vào gặp Thiếu Tướng Smith
rồi.
- Anh
đang
ở
đâu
vậy?
- Tôi đang ở nhà
tôi”.
- Ủa,
anh
không
đi
sao?
- Dạ
không Đại Tá”.
- Anh
có
thể
cho
tôi biết là sau khi rời chỗ tôi
thì Trung Tướng đi những đâu
không?
- Rời
văn
phòng
Đại
Tá, Trung Tướng hướng dẫn tài xế
lái xe trên nhiều con đường trong Tổng Tham
Mưu,
rồi
ra
cổng số 3 (cổng số 3 ra đường
Võ di Nguy) và quanh vào cổng sau phi trường.
Tại đây có sĩ quan tùy viên của Thiếu
Tướng Smith đón và hướng dẫn vào. Đi được một
khoảng thì lính gác Thủy Quân Lục Chiến
Hoa Kỳ gọi tôi lại, bảo tôi tháo khẩu súng
lục để lại cổng. Đi bộ vào đến Văn phòng Tùy
Viên Quốc Phòng thì Thiếu Tướng Smith đứng chờ
ở đó, cả hai ông vào văn phòng.
Tôi chào Trung Tướng rồi trở về nhà.
- Anh
trông
thấy
nhiều
người trong đó chớ?
- Đông
lắm
Đại
Tá
ơi! Đông nghẹt người lận.
- Cám
ơn
anh,
và
mong là anh em mình còn
liên lạc nhau được ngày nào
mừng ngày ấy thôi. Chào anh
nhé…
Vậy là,
quí vị lãnh đạo đất nước Việt Nam vừa bàn giao
chức vụ lãnh đạo quốc gia lẫn quí vị đương
kiêm chức vụ lãnh đạo quân đội, đã lần
lượt ”rời bỏ Việt Nam” gần như theo hệ thống quân giai cho
dù là hệ thống quân giai ngẫu nhiên cũng
vậy:
-
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay
lên Hiến Pháp tuyên thệ “bảo vệ quốc gia
dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp” khi nhận chức Tổng Thống
và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội lên phi cơ đi ngoại
quốc!
- Đại
Tướng
Trần
Thiện
Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng
kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng lên phi cơ đi
ngoại
quốc!
- Đại
Tướng
Cao
Văn
Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 10 năm 1965,
lên trực thăng ra Hạm Đội 7 vào lúc 2 giờ chiều
ngày 28.4,1975!
- Đầu
giờ
thứ
25
ngày 29 tháng 4 năm 1975 đến lượt Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ
Tổng Tham Mưu
kiêm
Tổng
Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp
Vận, cũng lên phi cơ đi ngoại quốc.
Và khi vị Tổng
Tham Mưu Trưởng và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ
chức vụ để “đi ngoại quốc”, thì quí vị Tướng Lãnh
cùng nhiều vị Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu,
cũng ra đi. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa lúc 12 giờ trưa ngày 29 tháng
4 năm 1975, không còn một vị nào có
thẩm quyền quyết định bất cứ vấn đề gì hết, ngay cả công
tác phòng thủ trại Trần Hưng Đạo -tức Bộ Tổng Tham
Mưu- cũng không ai trách nhiệm nữa. Quân
nhân và công chức quốc phòng của Bộ Tổng Tham
Mưu trên dưới 2.000 người, không còn cấp chỉ
huy, nên họ đành phải quyết định: Tự động tan
hàng.
Tôi điện thoại cho Đại Tá Nguyễn Hồng Đài (con rể
của Tổng Thống Dương Văn Minh), nguyên là
Chánh Sở Kế Hoạch Chương Trình/Tổng Cục Tiếp Vận biệt
phái về Phủ Tổng
Thống:
- Anh Đài. Anh vui lòng
trình với Tổng Thống là cho đến lúc này,
trong Bộ Tổng Tham Mưu không còn vị Tướng
Lãnh nào hết, và cũng không ai
trách nhiệm bảo vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi
trình xin Tổng Thống cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu
Trưởng và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm
nay không có vị nào vào đây thì
bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp Vận chúng tôi sẽ sang
Biệt Khu Thủ Đô làm việc, vì
khách hàng mà tôi yểm trợ chỉ
còn Biệt Khu Thủ Đô và một phần lực lượng của
Quân Đoàn III thôi.
- Được rồi, tôi trình
“Ông Già” ngay và sau đó sẽ điện thoại
anh.
Một lúc sau,
Đại Tá Đài gọi
tôi:
- “Ông Già” cho biết,
vào lúc 3 giờ chiều nay sẽ có phái
đoàn Tướng Lãnh vào nhận chức trong Bộ Tổng
Tham Mưu. Anh yên tâm.
Lúc 2 giờ chiều
29 tháng 4 năm 1975, tôi mời các vị Cục Trưởng, Cục
Phó, Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân, Trung
Tâm Điện Toán Tiếp Vận, Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp
Vận đến họp gấp. Kiểm điểm lại chỉ còn Cục Trưởng
Cục Quân Y (Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh), Cục Trưởng
Cục Quân Vận (Đại Tá Nguyễn Tử Khanh), Cục Phó
Cục Quân Nhu, Cục Phó Cục Công Binh, Cục
Phó Cục Quân Cụ, Cục Phó Cục Truyền Tin, Cục
Phó Cục Quân Tiếp Vụ, và Cục Phó Cục
Mãi Dịch.
Tôi vào
đề
ngay:
Trong trách nhiệm Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận, tôi
xin thông báo đến quí vị và các
bạn về tình hình chung và tình hình
nội bộ Tiếp Vận của mình.
Về tình
hình chung, hiện nay theo Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu
thì có khoảng 10 sư đoàn quân cộng sản
bao quanh Sài Gòn và chúng đang áp
sát vùng ven đô. Điều đó cho
phép dự đoán là chúng có thể tấn
công chúng ta bất cứ lúc nào mà
chúng cho là thuận lợi.
Về lực lượng
phòng thủ của ta thì không có đơn vị
nào nguyên vẹn, kể cả Nhẩy Dù và Thủy
Quân Lục Chiến.. Ngay cả Sư Đoàn 106 Biệt Động
Quân mới thành lập với Đại Tá Nguyễn Văn Lộc
giữ chức Tư Lệnh, Đại Tá Vũ Phi Hùng làm Tư Lệnh
Phó, và Đại Tá Cao Văn Ủy làm Tham Mưu
Trưởng, cũng chỉ là sự kết hợp gấp rút các
Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng với vài
đơn vị Pháo Binh và Thiết Giáp còn lại
mà thôi.
Về nội bộ Tiếp Vận,
thì Trung Tướng Tổng Cục Trưởng và gần hết các sĩ
quan cao cấp trong Tổng Cục Tiếp Vận, đã tự động rời khỏi nhiệm
sở rồi. Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân
và Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận
cũng thế. Còn tại các Cục, tôi nghĩ là
các bạn biết rõ hơn tôi.
Thông báo
một tình hình như vậy, tôi muốn quí vị
và các bạn tùy nghi vì tôi
không có thẩm quyền về bất cứ vấn đề gì vượt
quá trách nhiệm và quyền hạn của người Tham
Mưu Trưởng Tổng Cục.
Tôi có
bấy nhiêu lời, và nếu không có điều
gì cần hỏi, tôi xin chào quí vị, chào
các bạn, vì trong chúng ta không ai
biết được những gì sẽ chợt đến với mình trong những
ngày tháng sắp tới.
Sở dĩ phải nói
lời chào ngay vì tôi thấy Đại Tá Nguyễn Tử
Khanh có vẻ như muốn rời phòng họp. Quả thật, hơn
tiếng đồng hồ sau đó, Đại Tá Cao Văn Phước, Cục
Phó Cục Quân Vận cho tôi biết là Đại
Tá Khanh đã vội vã xuống Giang Đoàn
Vận Tải và đi rồi.
Vào lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm
1975, Trung Tướng Vînh Lộc -đã một thời là Tư
Lệnh Quân Đoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Đẳng
Quốc Phòng- vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng.
Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham
Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Đại
Tá nhận chức Trưởng Phòng. Đại Tá Nguyễn Khắc
Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham
Mưu Trưởng điện thoại mời tôi lên trình diện
Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng:
- Chào Trung
Tướng.
- Chào anh. Những vị Tướng cầm
quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng
mình hãy cùng nhau cố gắng nhiệm vụ
trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút
lâm nguy này mới thấy được giá trị của
mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc.
- Thưa Trung Tướng, giờ này
tôi có mặt ở đây và đang trình diện
Trung Tướng trong khi các cấp chỉ huy trên tôi
đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp chỉ
huy dưới tôi cũng vậy. Có nghĩa là tôi vẫn
tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung
Tướng.
- Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho
các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi
trông cậy vào anh.
- Vâng. Tôi đã
và đang làm tất cả những gì thuộc về trách
nhiệm của tôi và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và
nếu không có vị nào khác thì
xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ
Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận vì tôi được biết
Chuẩn Tướng Chức sẳn sàng nhận chức vụ này, thưa
Trung
Tướng”.
- Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng
ngay hôm nay.
- Vâng.
Chào
Trung
Tướng.
Khoảng 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn
Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến
là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách
khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Một
chức vụ mà Chuẩn Tướng Chức đã hơn một lần tự ông
đề nghị thẳng với Trung Tướng Khuyên đề nghị lên cấp
trên bổ nhậm ông vào đó. Chuẩn Tướng
Chức, trong thời gian sinh hoạt trong “Nhóm Đời Mới” – tôi
cũng là một thành viên trong Nhóm – của
cụ Trần Văn Ân, có lần nói với tôi
rằng: ”lên đến Tướng là phải hoạt động chính
trị và ông cũng nói thẳng là
ông muốn nắm giữ chức vụ cao hơn là Cục Trưởng nếu
vẫn phục vụ trong quân đội, vì ông tự thấy khả
năng của ông như vậy, và đó mới là tương lai
sự nghiệp của ông. Chuẩn Tướng Chức là người rất hoạt
động, khi ông tham gia
công tác với đơn vị Công Binh của ông
thì ông làm nhiệt tình như bất cứ người
lính Công Binh nào, và trong những trường
hợp như vậy ông rất thích được phóng viên
báo chí tiếp xúc. Chuẩn Tướng Chức là mẫu
người rất nhiệt tình trong trách nhiệm, và
ông cũng rất muốn được xuất hiện trong sinh hoạt
chính trường.
Tôi trình bày tình hình chung
và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận
như đã cung cấp cho các vị chỉ huy Tiếp Vận
trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ chiều, và
tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến
đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Đại Tá Trần
Văn Lễ (đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận) trở lại
chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị
Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử
các vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục
Trưởng.
- Bây
giờ
xin
phép
anh tôi về nhà dùng cơm rồi trở
lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị
nào xin yểm trợ thì anh bảo
họ điện thoại
cho tôi và tôi giải quyết.
- Được
rồi,
anh
về
đi. Anh có cần xe mở đường không vì
đường phố đông nghẹt người với xe cộ đó?
- Cám
ơn
anh.
Không
cần đâu anh”.
Không chỉ
là đường phố đông nghẹt người mà là hỗn loạn
chưa từng thấy! Áng chừng 6 cây số mà phải gần
2 tiếng đồng hồ tôi mới về đến nhà. Dọc đường, tiếng
gọi nhau chạy loạn vang vang cả một quãng dài,
đúng là “loạn thì lạc!”. Trời tối hẳn, những
chiếc trực thăng Hoa Kỳ thả “hỏa châu” chiếu sáng
liên tục, để từng đoàn trực thăng phụ trách “di
tản” thi hành nhiệm vụ. Nhiều phi tuần khu trục phản lực cũng
của Hoa Kỳ, gào thét trên không phận thủ
đô để sẵn sàng tấn công các đơn vị cộng sản
nếu như trực thăng vận tải của họ bị bắn hạ, trong khi đạn
phòng không của cộng sản tua tủa vọt lên khoảng
không gian bé nhỏ vừa tối lại vừa sáng!
Trong những năm chiến
tranh dữ dội, nhất là trong trận chiến “mùa hè
đỏ lửa năm 1972″, ngày cũng như đêm, người dân
Sài Gòn rất quen với tiếng động cơ phản lực chiến
đấu, từng đội từng đoàn, xé không gian lên
đường đánh địch bằng hỏa lực mãnh liệt mà
nó được các nhà chế tạo Hoa Kỳ
nghiên cứu trang bị, và quen đến mức nếu như vắng
âm thanh đó thì họ cho là chuyện
không bình thường.
Bẳng đi một thời gian
khá lâu, đêm nay, âm thanh đó trở
lại, nhưng là trở lại để đánh dấu một tình huống
bi thảm của
dân tộc Việt Nam sau hai thập niên chiến đấu vì
Dân Chủ Tự
Do!
Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa
ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ
cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi
người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống
vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối
người là người mới trở vào được trong khu cư xá
do các thanh niên trong cư xá canh gác
bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá
đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi
điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận
:
- Chào
anh
Chức,
Hoa
đây anh. Bây giờ tôi không
có cách nào ra ngoài cư xá được
vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng
tượng nỗi. Anh
cho phép tôi ở nhà, tất cả điện thoại về nhu
cầu Tiếp Vận anh chuyển sang cho tôi và tôi giải
quyết
ngay. Công việc của Tổng Cục mình bây giờ thu
gọn lắm rồi anh. Hàng tiếp liệu cho các đơn vị chỉ
gồm nhiên liệu và
đạn dược,
tôi cho lên xe sẳn sàng tại các kho để cung
cấp thật nhanh theo yêu cầu. Anh an tâm”.
- Được
rồi.
Có
gì
tôi gọi anh”.
Vài trái
đạn đại bác của quân cộng sản đã nổ bên
ngoài khuôn viên cư xá nhưng chưa
gây thiệt hại quan trọng nào. Phi trường Tân Sơn
Nhất chắc là bị pháo kích nhiều, vì
tôi nghe tiếng đại bác nổ liên hồi ở hướng
đó.
Trong cư xá có 1 đại đội Nhẩy Dù từ trên căn
cứ Hoàng Hoa Thám (đầu phi trường Tân Sơn Nhất
phía Hóc Môn) rút về đây, và cư
dân an lòng đôi chút vì có
lực lượng phòng
thủ.
Gần nửa đêm, Đại Tá Trương Đình Liệu, Chỉ Huy
Trưởng Tổng Kho Long Bình, điện thoại tôi:
- Trình
anh
là
tôi
đã cho triệt thoái toàn bộ
về đây rồi. Chờ lệnh Tổng Cục hoài không thấy,
đến khi các đơn vị trong căn
cứ Long
Bình rút lui, tôi liền cho anh em theo
họ”.
- Anh
hành
động
đúng
thôi. Chuẩn Tướng Chức nhận chức
Tổng Cục Trưởng lúc chiều, ông ấy không ra lệnh
thì tôi làm
gì được.
Về yểm trợ thì tôi lo được, nhưng ra lệnh rút
lui thì tôi đâu có thẩm quyền. Anh hiểu
tôi rồi hén?
Khoảng 2 giờ 30
sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại
(nhà tôi) reo:
- Đại Tá Hoa tôi
nghe.
- Trung
Tướng
Lộc
đây
anh. Lúc nảy, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh
có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết
là họ liên lạc với anh
chưa?
- Chuẩn
Tướng
(Lê
Trung
Tường) Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III
có gọi tôi, và tôi đã cung cấp
rồi, thưa Trung
Tướng.
- Cố
gắng nghe anh
Hoa.
- Vâng. Tôi đã
trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn
thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào
tôi không thể
tiếp tục được
nữa, thưa Trung
Tướng”.
Vào lúc 3 giờ sáng ngày 30
tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng,
chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ
chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng,
từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi:
- Thưa
Đại
Tá,
Chuẩn
Tướng Chức đã lên xe đi
rồi.
- Chuẩn Tướng đi một mình hay đi
với ai vậy
anh?
- Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng đi
mà không xách cái cặp theo, và cũng
không cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà
chiều
qua ông mang đến) theo
nữa.
- Thôi được. Sáng
sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng
Cục hẳn hay.
Tiếp đó điện
thoại lại reo:
- Đại
Tá
Hoa
tôi
nghe.
- Đài
đây
anh
(Đại
Tá Nguyễn Hồng Đài). Lúc 10 giờ
sáng nay (tức 30/4/1975) “Ông Già” sẽ
công bố giải pháp chính trị,
anh theo
dõi trên đài phát thanh Sài
Gòn
nghe.
- Nhưng mà nội dung giải
pháp là
gì?
- Trung lập, như tôi nói với
anh
đó.
- Vậy là tôi chuẩn bị.
Cám ơn
anh.
Đến đây
tôi xin mở ngoặc để nói đến 2 điều cho vấn đề được
rõ thêm:
Điều thứ nhất.
Khoảng
năm
1998,
tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Đài
tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi
nhau, anh xác nhận lời anh đã nói với
tôi là đúng như trong quyển Đôi Dòng
Ghi Nhớ, nhưng về thời gian thì sai.
Anh nói
không phải rạng sáng 30 tháng 4 mà là
rạng sáng 29 tháng 4, vì tối 29 tháng
4 anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi
vẫn ghi nhận lời anh nói vào rạng sáng 30
tháng 4, vì đây là đêm đầu tiên
tôi “bị” ngủ tại nhà sau 3 tuần cấm trại ngủ tại văn
phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên
Bộ Tổng Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với
anh lúc tôi từ cửa sổ nhà tôi nhìn
lên bầu trời với những âm thanh gào thét
của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng yểm trợ
cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn viết
lại đây theo trí nhớ của tôi.
Và điều thứ hai. Khi
tôi nói “tôi chuẩn bị”, tức là tôi
chuẩn bị rời khỏi Việt Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố
trung lập. Nghĩa là tôi và gia đình dự
trù rời khỏi Việt Nam nhưng không đi trước khi có
giải pháp chính trị, mà ra đi trong
lúc giao thời dù chỉ trong ngắn ngủi.
Chúng
tôi dự trù 6 gia đình, trong số này
có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn
C130, dùng chiếc C130 sang Singapore để đi Australia,
vì tôi được sự giúp đỡ của người bạn gốc Trung
Hoa trong công ty INTRACO tại Singapore, nối liên lạc
với cơ quan ngoại giao Australia tại đó và đã được
đồng ý.
Xin
đóng ngoặc.
Vừa mờ sáng
là tôi lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền -nơi trở
thành tiền tuyến- có nhiều tiếng súng trường
và tiểu liên, nên không có người đi
lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ
ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài.
Quân cộng sản chưa xuống đến ngã tư Bảy Hiền, và
tôi an toàn đến Tổng Tham Mưu. Đến, nhưng không
được phép
vào.
Chuyện như thế này:
Trung Tá
Tòng, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tham Mưu
đã tháp tùng Đại Tướng Cao Văn Viên đi ngoại
quốc từ mấy ngày trước, và Trung Tướng Vĩnh Lộc cử
Đại Tá Trần Văn Thăng -sĩ quan An ninh quân đội- giữ
chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu
đang khuyết. Đại Tá Thăng ra lệnh cho toán
Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không
cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ
quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp.
Tôi có
thẻ, nhưng không bao giờ mang trên túi áo
mà là để trong cặp xách tay, và cái
cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở
văn phòng. Tôi làm như vậy là vì tất
cả những quân nhân trách nhiệm ở cổng
gác này, không ai là xa lạ với tôi cả.
Sĩ quan Quân Cảnh
nói:
- Đại
Tá
thông
cảm,
vì lệnh của Đại Tá Thăng như
vậy nên tôi phải
thi hành.
- Tôi hiểu. Bây giờ Đại
Tá Thăng ở đâu vậy
anh?
- Dạ Đại Tá Thăng dường như
lên văn phòng Trung Tướng rồi Đại
Tá.
- Thôi được. Chốc nữa Đại Tá
Thăng về lại văn phòng, anh nói là tôi
không có mang theo thẻ an ninh nên không
vào
được, và
tôi sang Biệt Khu Thủ Đô làm việc ở đó.
Cám ơn anh
nghe.
- Đại Tá thông cảm cho
tôi nghe Đại
Tá.
- Nếu tôi là anh, tôi
cũng vậy thôi mà. Anh đừng bận tâm. Tôi đi
đây.
Đạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân
Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham
Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ
quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép
vào thân cây trước văn phòng Tổng Hành
Dinh.
Sang trại Lê văn
Duyệt, tôi ngồi tạm trong văn phòng Đại Tá
Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Đô.
Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng
bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi
và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu
có ai
gọi.
Qua điện thoại, Trung Tướng Vĩnh Lộc đồng ý tôi ngồi ở
Biệt Khu Thủ Đô điều hành công tác yểm
trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải
xuống dinh Độc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9
giờ (sáng).
Sau đó
tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy như
những vị Tướng đã bỏ chạy, mà chiều hôm qua, khi
ông ra lệnh cho tôi ráng lo về Tiếp Vận, ông
đã khá nặng lời với các vị ấy..
Nhưng nghĩ cho
cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu
Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18
tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9
tháng 10 ngày -tôi nghĩ- ông không
phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng góp phần trách
nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn
1.000.000
người!
Tại Bộ Tư Lệnh Biệt
Khu Thủ Đô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh, đã bỏ
chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát – người đảo
chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm
1965 thất bại – được Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư Lệnh
Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh
Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã
lên trực thăng quan sát tình hình,
vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không
Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh
kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ
phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến
Hóc Môn.
Vị Tư
Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn
Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh (không
phải là Trung Tướng Minh đã giữ chức Quyền Tổng Tư
Lệnh quân lực sau khi Đại Tướng Nguyễn Khánh lưu
vong), Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy
rồi.
Và Bộ Tư Lệnh Không Quân cùng các phi
đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Đoàn 5 Không
Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Đoàn 3
Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn
cứ Sư Đoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc,
cách Cần Thơ khoảng 7 cây số.
Tôi nói
“các phi đoàn còn lại”, là vì
đã có nhiều phi công lái hằng trăm phi
cơ các loại bay qua căn cứ Utapao của không quân Hoa
Kỳ, về phía đông nam thủ đô Bangkok của Vương
quốc Thái Lan, di
tản.
Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ
Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Đại Tá
Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm
trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông
bay quan sát và hướng dẫn các phi tuần
khu
trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ
sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có
Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi
ngay:
- Chuẩn Tướng Thân đâu rồi
các
bạn?
- Chuẩn Tướng bảo tôi đáp
xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi.
- Vậy là Chuẩn Tướng Thân
cũng chạy
rồi.
Sáu tháng sau đó, tôi gặp lại Chuẩn Tướng
Thân trong cùng trại tập trung Tam Hiệp, Biên
Hòa, trại này người địa phương còn gọi là
trại Suối Máu nữa).
Đại Tá Ngô Văn Minh từ trong Trung Tâm Hành
Quân gọi
tôi:
- Anh Hoa, anh nói chuyện với
Lê Minh Đảo không? Anh đang ở đầu máy
bên kia nè.
Đó là
Thiếu Tướng (mới thăng cấp chưa kịp tổ chức lễ gắn cấp hiệu 2 sao)
Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đã quần
thảo với 2 sư đoàn quân cộng sản ở Xuân Lộc
và gây cho chúng tổn thất rất nặng. Vì
áp lực của chúng quá mạnh, nên
Quân Đoàn III cho lệnh lui về căn cứ Long
Bình.
- Chào anh Đảo, Hoa đây. Anh
đang ở đâu
vậy?
- Tôi ở chỗ “nhà máy
xi măng Hà Tiên” và đang tìm xuồng qua
sông. Tụi cộng sản nó đuổi theo sau lưng tôi
nè. Hết rồi
anh
ơi!
- Dù gì thì anh
đã đánh nhau với tụi nó một trận ngon lành,
anh oai hơn nhiều vị Tư Lệnh khác mà.
- Sao anh ở chỗ anh
Minh?
- (Tôi mượn câu của anh để
trả lời anh) “Hết rồi anh ơi”! Vì chỉ còn yểm trợ
cho Biệt Khu thôi, và giờ này thì còn
đơn vị
nào nữa
đâu. Thôi, chúc anh may mắn nghe, và
mong rằng chúng mình vẫn còn gặp lại nhau
là mừng rồi.
Sau đó – tức
sau giờ Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố buông
súng và bàn giao – Thiếu Tướng Lê Minh Đảo
dùng giấy tờ giả xuống Rạch Giá để hy vọng vượt
thoát ra Hạm Đội 7 Hoa Kỳ, nhưng anh đã không thực
hiện được và trở
về nhà trong cùng cư xá với tôi. Sau
này, có những năm chúng tôi ở
tù chung trong một trại nhưng khác buồng giam.
Lúc 10 giờ 15
ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong
phòng Đại Tá Ngô Văn Minh, có âm thanh
“… ông nói đi…., nhanh lên,….. chờ gì
nữa,….”. Một giọng nói gần như quát: “Ông
tuyên bố nhanh lên…” Và đại ý lời của Tổng
Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội:
“…. các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại
chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng…”.
Đối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ
súng và ông hứa sẽ bàn giao
chánh quyền trong vòng trật
tự.
Tôi xem
đây là giây thứ 3.600, giây cuối cùng
của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583,
và là ngày cuối cùng của một giai đoạn
chiến đấu bảo vệ tự do dân
chủ!
Thế là hết
!!!
Tôi lặng lẽ rời
nơi đây, theo đường Lê Văn Duyệt, rẽ sang đường Trần
Quốc Toản, ép bên phải để ghé vào Cục
Mãi Dịch, chào các cộng sự viên cũ
của tôi. Trung Tá Nguyễn Văn Thình, Cục
Phó, hỏi tôi cách bàn giao ra
sao?
Tôi
bảo:
- Không
bàn
giao
gì
cả, các bạn nào muốn lấy
gì thì lấy rồi cứ việc ra về. Ai muốn vào
đây làm gì mặc họ.
Dọc đường về
nhà, những nơi mà tôi vừa đi qua, có biết
bao bộ đồ trận – những bộ quân phục từng là biểu tượng
quân phong quân kỷ của quân nhân - những
mũ những giày, vất vưởng ngỗn ngang trên đường phố.
Trong
dòng người ngược xuôi vội vã, có rất
nhiều người quần đùi áo lót mà tôi
tin đó là những đồng đội của tôi tạm thời lẩn
tránh bọn cộng sản. (Hình ảnh này là
một phần trong bản nhạc ”Như Lá Chết Cành Khô” do
cựu Đại Tá Phan
Văn Minh – đã một thời là Đổng Lý Văn Phòng
của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ – sáng tác trong
thời gian bị giam ở trại tập trung Hà Tây, tỉnh Hà
Sơn Bình).
Quân cộng sản chưa thật sự có mặt trong thành phố,
nhưng những tốp thanh niên nam nữ đeo băng tay đỏ với súng
M16 trên tay và ngồi xe jeep chạy đó đây
trong trên đường phố Sài Gòn. Đó là
những bọn mà chúng tôi gọi là ”cộng sản
30 tháng 4″. Dù trong một tầm nhìn hạn hẹp
đó, tưởng cũng đủ nói lên một cảnh tượng trong
biết bao cảnh tượng đau thương ngập tràn trái tim
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì chưa tròn
trách nhiệm với dân với nước.
Hơn một tiếng đồng hồ,
sau lời tuyên bố đầu hàng (không nổ súng
có nghĩa là đầu hàng rồi!) của Tổng Thống
Dương Văn Minh, đơn vị Thiết Giáp đầu tiên của cộng
sản mới vào dinh Độc Lập. Và từ giờ đó, Việt Nam
Cộng Hòa chúng ta bị nhà cầm quyền nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa cai
trị.
Trong lúc
trên dưới 200.000 quân của Quân Đoàn IV, chưa
một trận đánh quan trọng nào, cũng chưa một vị Tư
Lệnh nào bỏ chạy, đã phải buông
súng đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương văn
Minh.
Trước đó, khi cuộc chiến chưa ngừng tiếng súng, có
những vị Tướng đầy quyền lực, đã thật sự bỏ chạy ra nước
ngoài. Và giờ đây, cuộc chiến thật sự
đã tàn, và tàn trong ý nghĩa thua
trận, bại trận, hay đầu hàng, hiểu thế nào cũng thế
thôi. Nhưng trong cảnh bại trận này, Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa chúng ta, xuất hiện những Vị Tướng thật
sự là những Anh Hùng không kém những vị
Anh Hùng trong lịch sử đã tuẫn tiết khi thành
thất thủ. Đó là hành động tự sát ngay
nơi nhiệm sở chớ không chấp nhận đầu hàng,
của:
-
Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân
Đoàn IV. (Cần
Thơ)
-
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó
Quân Đoàn IV. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh
danh
“Anh
Hùng
An
Lộc” trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến
trường An Lộc, tỉnh Bình Long
.
-
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư
Đoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình
Dương).
-
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7
Bộ Binh. (Mỹ
Tho).
-
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh
Quân Đoàn II, tự tử tại nhà vì tên
tuổi Quân Đoàn II đã bị chôn theo
những
nấm
mồ
vô danh trên đường liên tỉnh số 7
từ giữa tháng 3 năm 1975
rồi.
Ngoài ra, còn biết bao Quân Nhân thuộc
các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát,
Viên Chức Hành Chánh các ngành,
đã tuẫn tiết! Đó là “Những Anh Hùng
Vô Danh” rất đáng cho chúng ta trân
trọng.
Vào những ngày 30 tháng 4, tôi nghĩ, mỗi
chúng ta nên dành vài chục giây đồng
hồ, đứng hay ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im
lặng, để tưởng nhớ những vị Anh Hùng của chúng ta,
những người đã cùng chúng ta cầm
súng chống quân cộng sản xâm lược, nhưng
vào giờ phút kết thúc bi thảm cuộc chiến đấu
của chúng ta, những vị đó đã can trường thực hiện
tròn vẹn lời thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong ngày
tốt nghiệp trường võ bị: “… Quyết hy sinh thân
mình để bảo vệ Tổ Quốc Dân Tộc …”
Và theo
tôi, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ
Binh, là người rất xứng đáng được vinh danh “Anh
Hùng Xuân Lộc” trong trận đánh sau
cùng. Thiếu Tướng Đảo, dù bản doanh kế cận thủ đô
Sài Gòn nhưng không bỏ chạy, mà
trái lại, ông là vị Tư Lệnh duy nhất trong 3
Quân Đoàn, đã chống trả mãnh liệt
và gây tổn thất nặng nề cho 2 Sư Đoàn quân
cộng sản tấn công Xuân Lộc (thuộc tỉnh Long
Khánh). Và Sư Đoàn 18 Bộ Binh chỉ
rút lui khi có lệnh của Quân Đoàn
III.
Một giai đoạn lịch sử
do Tổng Thống Dương Văn Minh – vị Tổng Thống có nhiệm kỳ
chỉ hơn 40 tiếng đồng hồ – vừa sang trang!
Dân Tộc Việt
Nam, từ nay dưới sự thống trị của cộng sản độc tài
nghiệt ngã!
Quê
hương
Việt
Nam chúng ta,
Dân
tộc
Việt
Nam
chúng ta,
sao
mà
bi
thảm
đến như
vậy!
sao
mà
bất
hạnh đến như vậy!
Thay lời kết
Thưa quí vị, quí bạn,
Những ngày cuối Tháng Tư, thường gợi
lại trong mỗi người Việt Nam Cộng Hòa cũ, nhất là những
cựu quân nhân chúng ta, dấu ấn sâu đậm nhất
trong đời quân ngũ. Những ngày đó thật là
ngắn ngủi đối với lịch sử, nhưng là những ngày mà
thế hệ chúng ta đã để lại một vệt đen trong dòng
lịch sử đương đại. “Vệt đen đó” có thật sự là do
lỗi lầm của chúng ta hay không, còn phải chờ lịch
sử phán xét, nhưng có điều chắc chắn là
chúng ta phải chia phần gánh vác trách
nhiệm chưa tròn của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa!
Cuộc chiến tranh chống cộng sản để bảo vệ tổ quốc
Việt Nam, thật sự là tôi không rõ bắt đầu từ
lúc nào. Tính từ ngày ngưng bắn theo Hiệp
Định Đình Chiến ký tại Genève, Thụy Sĩ,
ngày 20 tháng 7 năm 1954, hay tính từ năm thứ 3
sau đó?
Sở dĩ tôi nêu câu tự hỏi
“tính từ năm thứ ba”, là vì Hiệp Định dự liệu 2
năm sau đó sẽ tổ chức tổng tuyển cử toàn quốc. Với lại 2
năm dự liệu trong Hiệp Định, cộng sản chưa có hoạt động
công khai nào nên xem như thanh bình. Do sự
phản đối của chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc
bầu cử đã nói trong Hiệp Định, vì chánh phủ
không ký vào đó nên không chấp
nhận sự ràng buộc phải thi hành. Thế là cộng sản
công khai gây chiến ngay từ năm thứ ba, tức năm 1957.
Năm 1964, Bộ Tổng Tham Mưu có ban
hành một văn kiện, theo đó thì cuộc chiến
tính từ ngày 1 tháng 1 năm 1960. Thật ra nội dung
này không có tính cách xác
định chiến tranh bắt đầu từ ngày đó, mà nhằm
có một định điểm tương đối về thời gian để ấn định niên
hiệu trên cuống huy chương “Chiến Dịch Bội Tinh”. Chiến Dịch Bội
Tinh trên ngực áo của hầu hết quân nhân
có một hoặc hai niên hiệu: Niên hiệu 1945-1954 đối
với những quân nhân phục vụ từ trước đến khi kết
thúc cuộc chiến đó. Và niên hiệu thứ hai mới
có số “1960-…….” đối với những quân nhân mới
vào quân đội sau ngày đình chiến
tháng 7 năm 1954. Và niên hiệu thứ hai này
mới có 4 số đầu. Tôi nghĩ, một triệu quân nhân
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có mặt trên
quê hương Việt Nam đến lúc 10 giờ 15 ngày 30
tháng 4 năm 1975, chúng ta tự động ghi lên
niên hiệu 4 số kế tiếp là “1975”. Không cần ghi
lên cuống huy chương có nền xanh trắng, mà
chúng ta chỉ cần ghi vào ký ức chúng ta
là đủ.
Tôi cũng nghĩ rằng, chúng ta nên
thực hiện thêm niên hiệu thứ ba với 4 số đầu là
“1976-……”, vì tuy chúng ta thua trận với 222.809 người
vào tù, hằng trăm ngàn đồng đội khác lẩn
trốn hay đang sống khổ đau dưới chế độ độc tài của cộng sản ngay
trên quê hương Việt Nam, và hằng triệu người gồm
đồng bào đồng đội vượt thoát tìm tự do khắp năm
châu bốn biển, ước lượng khoảng 3.000.000 người. Nhưng những
hành động của tất cả chúng ta bằng cách này
hay cách khác, đều thể hiện ý nghĩa của một cuộc
chiến tranh khác trong mục đích tiếp tục chống
nhóm lãnh đạo cộng sản độc tài cũng như chồng bất
cứ chế độ độc tài nào khác trên đất nước
Việt Nam. Tôi muốn nói đến năm 1975 một cuộc chiến kết
thúc, năm 1976 một cuộc chiến khác bắt đầu. Và
cuộc chiến đó đến nay là năm 2007, vẫn đang tiếp diễn
và ngày càng quyết liệt. Chỉ khác cuộc
chiến 1954-1975, thay vì vũ khí là súng
đạn, thì cuộc chiến cho tự do dân chủ trên quê
hương Việt Nam này với vũ khí chính trị,
nhân quyền, kinh tế, giáo dục, nói chung vũ
khí trong cuộc chiến hiện nay là một tổng hợp mọi sinh
hoạt quốc gia.
Vậy, chiến tranh bắt đầu từ ngày nào?
Theo tôi, tôi tính từ ngày 20 tháng 7
năm 1954, là ngày ký Hiệp Định Đình Chiến
tại Genève, vì cộng sản đã từ đó bắt đầu
thực hiện kế hoạch để lại hằng chục ngàn cán bộ
các loại của chúng ở lại nam vĩ tuyến 17 khi chúng
“tập kết” (danh từ dùng trong Hiệp Định) ra bắc vĩ tuyến 17. Như
vậy, về phía cộng sản thì họ bắt đầu ngay từ ngày
ấy cho một cuộc chiến kế tiếp sau cuộc chiến 1945-1954. Và nếu
tính từ đó, thì chiến tranh bảo vệ Tổ Quốc của
chúng ta đến ngày “thua trận cuối cùng trong một
giai đoạn chiến đấu” từ ngày 20 tháng 7 năm 1954 đến
ngày 30 tháng 4 năm 1975, là 20 năm 9 tháng
10 ngày, hay là 7.583 ngày!
Chức vụ Tổng Thống. Với thời gian hơn 20 năm không phải là
dài đối với lịch sử, nhưng trong thời gian đó, Việt Nam
Cộng Hòa chúng ta lần lượt do 7 vị Tổng Thống hay Quốc
Trưởng lãnh đạo, là: Tổng Thống Ngô Đình
Diệm cũng là Thủ Tướng hơn 9 năm. Quốc Trưởng Dương Văn Minh 3
tháng. Quốc Trưởng Nguyễn Khánh 9 tháng. Quốc
Trưởng Phan Khắc Sửu 8 tháng. Quốc Trưởng rồi Tổng Thống Nguyễn
Văn Thiệu gần 10 năm. Tổng Thống Trần Văn Hương 7 ngày. Sau
cùng là Tổng Thống Dương Văn Minh không do
dân bầu, chưa được 2 ngày.
Tổng Thống Thiệu -tính cả thời gian giữ chức
Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia- gần 10 năm, là người
trị vì lâu nhất, và vị có nhiệm kỳ ngắn nhất
là Tổng Thống Dương Văn Minh chỉ vừa hơn 40 tiếng đồng hồ.
Ông là vị Tướng can đảm nhất khi tình nguyện nhận
chức Tổng Thống, nhưng ông cũng là vị Tướng nhục
nhã nhất khi tuyên bố đầu hàng cộng sản. Nhưng
không biết người dân Việt Nam Cộng Hòa chúng
ta nói chung và thị dân Sài Gòn
nói riêng, có nên cám ơn ông hay
không, vì “nhờ” ông đầu hàng mà
Sài Gòn không bị tàn phá bởi hỏa tiển
và đạn đại bác của cộng sản? Nhưng chẳng lẽ ông
“tình nguyện” giành chức Tổng Thống để đầu hàng
sao? Nếu mục đích chỉ có như vậy thì đâu cần
đến vị Tướng mà lại là Tướng 4 sao nữa chớ! Chắc
không phải vậy. Nhưng điều nhục nhã đó đã
xảy ra như vậy, biết giải thích sao đây!
Chức vụ Thủ Tướng. Đây là cấp
lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai, đã lần lượt qua
tay 11 vị, là: Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Thủ Tướng
Nguyễn Ngọc Thơ. Thủ Tướng Nguyễn Khánh (kiêm nhiệm). Thủ
Tướng Trần Văn Hương (lần 1). Thủ Tướng Phan Huy Quát. Thủ Tướng
Nguyễn Cao Kỳ. Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Thủ Tướng Trần Văn Hương (lần
2). Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn.
Sau cùng là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu chưa kịp trình
diện chánh phủ thì Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên
bố đầu hàng! Người “trị vì” lâu nhất là Thủ
Tướng Ngô Đình Diệm hơn 9 năm, và vị có
nhiệm kỳ ngắn nhất là Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu.
Chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng. Với chức vụ
này, lần lượt do 10 vị sau đây, là: Tổng Thống
Ngô Đình Diệm kiêm nhiệm. Trung Tướng Trần Văn
Đôn (lần 1). Trung Tướng rồi Đại Tướng Trần Thiện Khiêm
(lần 1). Trung Tướng Nguyễn Khánh. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
Thiếu Tướng rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu Tướng Nguyễn
Văn Vỹ. Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (lần 2) kiêm nhiệm.
Trung Tướng Trần Văn Đôn (lần 2). Sau cùng là
giáo sư Bùi Tường Huân trong nội các của Thủ
Tướng Vũ Văn Mẫu chưa kịp trình diện.
Chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng. Có 9 vị lần
lượt giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng hay tương đương, là: Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thiếu Tướng rồi Trung Tướng rồi Đại Tướng
Lê Văn Tỵ. Khi lâm trọng bệnh, Trung Tướng Khánh
nhân danh Chủ Tịch Hội Đồng Quân Cách Mạng
hành sử chức năng Quốc Trưởng, đã gắn cấp bậc Thống Tướng
5 sao tại giường bệnh trước khi ông từ trần. Trung Tướng Trần Văn
Đôn kiêm nhiệm. Trung Tướng rồi Đại Tướng Trần Thiện
Khiêm kiêm nhiệm. Trung Tướng rồi Đại Tướng Nguyễn
Khánh kiêm nhiệm. Trung Tướng Trần Văn Minh. Thiếu Tướng
rồi Trung Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm nhiệm. Thiếu Tướng rồi
Trung Tướng rồi Đại Tướng (4 sao) Cao Văn Viên. Sau cùng
là Trung Tướng Vĩnh Lộc.
Chức “nguyên soái” này trong
tay Đại Tướng Cao Văn Viên là lâu nhất, đến 9 năm
rưỡi, và Trung Tướng Vĩnh Lộc là vị Tổng Tham Mưu Trưởng
có thời gian ngắn nhất, chỉ 18 tiếng đồng hồ!
Hoạt động của quân cộng sản. Trong thời gian
từ giữa năm 1954 đến cuối năm 1959 (4 năm rưởi), hoạt động của cộng sản
chỉ trong phạm vi chính trị với những cuộc biểu tình
quanh quẩn các thị trấn nhỏ, và hoạt động kinh tài
vùng nông thôn (cưỡng bách dân
đóng thuế), cứ xem như là thời gian hòa
bình tương đối. Từ đầu năm 1960 đến cuối năm 1964 (5 năm), cộng
sản mở rộng sang hoạt động quân sự từ cấp Tiểu Đội, dần lên
cấp Trung Đội, Đại Đội, và lác đác có
vài trận đánh đến cấp Tiểu Đoàn. Tất cả chỉ trong
hình thái chiến tranh du kích. Từ đầu năm 1965,
vừa áp dụng du kích chiến và vừa chuyển sang
hình thái vận động chiến với cấp Trung Đoàn. Từ
năm 1966, quân lực Việt Nam Cộng Hòa và quân
lực Đồng Minh, bắt đầu đánh nhau với quân chính qui
cộng sản cấp Sư Đoàn từ lãnh thổ nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa của họ xâm nhập vào lãnh thổ
Việt Nam Cộng Hòa chúng ta theo hành lang
dãy Trường Sơn. Và 2 tháng sau cùng của
cuộc chiến hơn 20 năm, cộng sản đã điều động cấp Quân
Đoàn tấn công vào thủ đô Sài
Gòn, nơi tập trung toàn bộ các cơ quan đầu
não của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Có điều không rõ là tổ
chức của quân cộng sản có đúng theo tổ chức cấp
Quân Đoàn hay không, hay chỉ vài Trung
Đoàn với một Sư Đoàn cũng thuộc loại gán
ghép là họ gọi Quân Đoàn để “hù dọa”
chúng ta chăng?
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ 150.000
người vào năm 1956, với trang bị các loại vũ khí
do Pháp và Mỹ sản xuất từ trước và trong thời gian
chiến tranh thế giới lần thứ 2, với tổ chức đơn vị chỉ đến cấp Tiểu
Đoàn. Mười năm sau đó -tức năm 1966- quân số tăng
lên đến 733.252 người, không còn sử dụng các
loại vũ khí do Pháp sản xuất nữa, nhưng nhìn chung
thì trang bị cũng chưa được cải tiến bao nhiêu, vì
mọi quân dụng đều do Hoa Kỳ sản xuất từ trong đệ nhị thế chiến.
Theo đà bành trướng chiến tranh của quân cộng sản,
quân đội phải phát triển lên đến 1.100.000
quân vào giữa năm 1974, và được trang bị các
loại vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất, trong đó có một số
loại vũ khí thuộc thế hệ mới, thậm chí còn trong
thời kỳ trắc nghiệm nữa.
Về tổ chức. Các đơn vị từ cấp Tiểu
Đoàn được phát triển lên cấp Trung Đoàn, Sư
Đoàn, Quân Đoàn, với đầy đủ các quân
chủng tác chiến, các binh chủng tác chiến lẫn yểm
trợ tác chiến, và các binh sở chuyên
môn yểm trợ hành chánh tài chánh,
hành chánh nhân viên, hành
chánh tiếp vận.
Về quản trị con người. Từ làm bằng tay xem
từng hồ sơ phiếu, từng bước tiến lên quản trị bằng máy
điện toán IBM 360/20 rồi 360/40, do Trung Tâm Điện
Toán Nhân Viên trực thuộc Phòng Tổng Quản
Trị/Bộ Tổng Tham Mưu trách nhiệm .
Về quản trị quân dụng. Cũng từ công
tác làm bằng tay đã tiến lên sử dụng
máy điện toán IBM 360/40 và sau cùng
là máy IBM 360/50, do Trung Tâm Điện Toán
Tiếp Vận trực thuộc Tổng Cục Tiếp Vận trách nhiệm. Đây
là loại máy được xem là tối tấn nhất đối với
quân đội các quốc gia vùng Đông Nam Á,
mà hội nghị Tiếp Vận các quốc gia vùng tây
Thái Bình Dương tại Okinawa vào tháng 10
năm 1971 đã đánh giá như vậy.
Về huấn luyện. Một hệ thống quân trường gồm
các Trung Tâm Huấn Luyện, các Trường Chuyên
Môn, các Trường Võ Bị, Trường Chỉ Huy Tham Mưu,
Trường Hải Quân, Trường Không Quân, và cao hơn
hết là Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, có nhiệm vụ
huấn luyện căn bản, và từng bước nâng cao trình độ
huấn luyện từ người quân nhân có cấp bậc thấp nhất
đến sĩ quan các cấp và Tướng Lãnh. Nhiều vị Tướng
và cấp Đại Tá đã theo học các lớp Quản Trị
Quốc Phòng tại Mỹ. Nhiều sĩ quan tham mưu và sĩ quan
các binh chủng binh sở, được đào tạo các trường
tại Pháp và các quốc gia thuộc địa của Pháp
từ trước năm 1954, về sau du học Hoa Kỳ. Đặc biệt là Trường
Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với chương trình 4 năm,
đào tạo đội ngũ sĩ quan có khả năng lãnh đạo
các ngành sinh hoạt quốc gia trong tương lai, sau thời
gian gạn lọc qua kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm tham mưu,
và nhất là kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy quân
đội ở các cấp đơn vị.
Tuy chưa phải là hoàn hảo, nhưng tất
cả những khả năng đó gộp lại, đã tạo cho quân đội
một sức mạnh dũng mảnh về vật chất lẫn tinh thần, mà
chính quân cộng sản -qua các tài liệu tịch
thu được- phải thừa nhận là họ dễ dàng chấp nhận
đánh nhau với quân đội Hoa Kỳ hơn là đương đầu với
quân lực Việt Nam Cộng Hòa, dù rằng hỏa lực của Hoa
Kỳ là cực kỳ mạnh.
Về phí tổn chiến tranh. Ngân
sách quốc phòng tiêu tốn xấp xỉ con số 3.000 tỉ bạc
Việt Nam, và phần Hoa Kỳ viện trợ quân sự tính
thành tiền cũng khoảng 8 tỉ mỹ kim. Cũng nên nói
thêm rằng, trong ngân sách quốc phòng Việt
Nam, phần viện trợ của Hoa Kỳ chiếm 25% và được gọi là
“viện trợ chung đậu”. Phần viện trợ này phân phối rải
rác trong các chương của ngân sách, nghĩa
là nó hòa trong các chi tiêu chớ
không phải viện trợ chỉ để trả lương (vì không
ít người lầm tưởng như vậy). Riêng phần quân đội Hoa
Kỳ tại Việt Nam, Thái Lan, Phi Luật Tân, Trung Hoa
Dân Quốc (Đài Loan), con số chi tiêu lến đến 104 tỉ
mỹ kim (theo tài liệu của Văn Phòng Tùy Viên
Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa đầu năm 1973,
nhưng họ nói là chưa chính xác).
Một quân đội phát triển theo nhu cầu
chiến trường. Với một hệ thống tổ chức chặt chẻ từ hạ tầng đến thượng
tầng, và luôn có những biến cải thích nghi
với tình thế, dù chưa phải là hoàn thiện.
Với tài liệu và phương pháp huấn luyện dựa theo
Hoa Kỳ nặng về kỹ thuật, theo kinh nghiệm chiến tranh du kích do
Viện Nghiên Cứu Quân Sự Đông Dương của quân đội
Pháp đúc kết, và tài liệu do Tổng Cục
Quân Huấn/Bộ Tổng Tham Mưu cùng các quân
trường sáng tạo qua kinh nghiệm thực tiển chiến trường. Với nổ
lực áp dụng khoa học kỹ thuật và sử dụng phương tiện
tân tiến vào công tác quản trị con người,
quản trị quân dụng một cách nhanh chóng và
chính xác. Với một phí tổn gồm của Việt Nam Cộng
Hòa lẫn của Hoa Kỳ là hết sức lớn lao, và nhất
là với một tinh thần phục vụ quân đội, một tinh thần chiến
đấu dũng cảm của “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”,
cùng với tinh thần chống cộng quyết liệt của các
viên chức hành chánh, cán bộ, và
nhân dân. Ấy vậy mà Việt Nam Cộng Hòa
chúng ta thua trận sau hơn 20 năm chống giữ!
Trách nhiệm mất nước do đâu? Do tập
thể quân đội, do cấp lãnh đạo quốc gia, cấp lãnh
đạo quân đội, hay là do tất cả gộp lại? Và liệu Hoa
Kỳ có phần trách nhiệm trong này không?
Tôi nghĩ, rất có thể là quí vị quí
bạn đồng ý với tôi rằng, chúng ta chiến đấu chống
cộng sản là chiến đấu cho dân tộc Việt Nam chúng
ta, chiến đấu để bảo vệ tổ quốc Việt Nam chúng ta, chớ
không phải chúng ta chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho bất cứ
quốc gia nào khác. Vì vậy mà tôi
không nghĩ đến trách nhiệm của Hoa Kỳ trong sự thua trận
của chúng ta. Khi khẳng định điều đó tôi vẫn hiểu
rằng, quân đội Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên
đất nước chúng ta và tham chiến bên cạnh
chúng ta, là để chứng tỏ rằng họ chiến đấu ngăn chận sự
bành trướng ý thức hệ cộng sản, đó là thế
giới đối nghịch với thế giới tự do mà Hoa Kỳ là nước
lãnh đạo, chớ không thuần nhất là họ chiến đấu cho
riêng quốc gia chúng ta đâu. Xin nhớ rằng, trong
bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm,
mà tất cả vì quyền lợi của quốc gia, ngoại trừ các
quốc gia cộng sản chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng họ.
Tôi vẫn hiểu rằng, thực trạng của Việt Nam
chúng ta từ năm 1954, nếu không có viện trợ của Hoa
Kỳ thì cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc của chúng ta chắc
chắn là vô vàn khó khăn. Nhưng đã
nói đi thì cũng nên nghĩ lại, đó là ở
vào bối cảnh quốc tế lúc bấy giờ, một bối cảnh chia ra 2
khối trong một thế giới: một bên là dân chủ tự do do
Hoa Kỳ lãnh đạo, và một bên là cộng sản độc
tài do Nga Sô lãnh đạo. Cả hai cường quốc
này đều sử dụng các quốc gia nhỏ chịu ảnh hưởng của họ
vào mục tiêu chiến lược trải rộng tầm ảnh hưởng của họ bao
trùm thế giới, hay ít ra cũng là phần lớn thế
giới. Với bối cảnh như vậy, sự kiện quân lực Hoa Kỳ chiến đấu
chống cộng sản trên đất nước Đại Hàn, trên eo biển
Đài Loan, trên đất nước Việt Nam chúng ta, cũng
là sự kiện mà Hoa Kỳ phải làm, vì tất cả
đều nằm trong mục tiêu chiến lược của họ. Vì thế mà
tôi vừa cảm ơn chánh phủ và nhân dân
Hoa Kỳ, vừa rút lại lời cảm ơn đó chỉ riêng với
các vị lãnh đạo Hoa Kỳ, vì các vị
lãnh đạo hiệp chủng quốc đã khống chế quá mức
các vị lãnh đạo của chúng ta.
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ngay trước khi
tuyên bố từ chức Tổng Thống vào đêm 21 tháng
4 năm 1975, đã “cáo buộc” Hoa Kỳ phản bội đồng minh Việt
Nam, bỏ rơi Việt Nam, … và ông hy vọng sự từ chức của
ông, Việt Nam Cộng Hòa sẽ được Hoa Kỳ tái viện trợ
quân sự … Qua hệ thống truyền thông công cộng trong
nước cũng như trên thế giới trong những tháng đầu năm
1975, và đặc biệt là trong 2 tháng cuối
cùng của cuộc chiến, họ cung cấp cho khán thính
giả trên toàn thế giới -trong đó có
chúng ta- hiểu rằng, Hoa Kỳ đang lật trang cuối cùng về
sự can dự của họ vào cuộc chiến tranh giữa tự do với độc
tài trên lãnh thổ Việt Nam, trong ý nghĩa
bại trận về phía Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Thế
mà Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lại “hy vọng” Mỹ sẽ vẫn tiếp tục
viện trợ quân sự sau khi ông từ chức! Chắc chắn là
Tổng Thống Thiệu thừa hiểu điều đó hơn ai hết, vì
ông là Tổng Thống cho dù Tổng Thống cũng chỉ
là một con người, nhưng nhất thiết con người Tổng Thống phải hơn
hẳn những người khác chớ, nếu không như vậy thì
hóa ra “đồng hạng” sao!
Vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã
vì lý do gì đó như bị một áp lực từ
hậu trường chính trị chẳng hạn, nên ông đưa ra lời
cáo buộc để sang tay cho vị kế nhiệm khi thấy con đường chiến
đấu phía trước đầy chông gai nguy hiểm, rồi ung dung bỏ
chạy và lại là chạy sớm ra ngoại quốc nữa chớ! Chẳng lẽ
Tổng Thống Thiệu nói là bị Mỹ áp lực mà
ông phải từ chức thì nghe không ổn, vì
ông là Tổng Thống, là vị lãnh đạo quyền lực
và quyền uy nhất nước! Nhưng nếu thật sự ông nghĩ hay
ông tuyên bố như vậy, thì liệu trong 10 năm
trên ngôi vị lãnh đạo quốc gia, có phải thật
sự ông người lãnh đạo đất nước Việt Nam hay Hoa Kỳ
là người lãnh đạo? Hay là ông chạy trốn
trách nhiệm? Vì 10 năm trị vì với đầy đủ quyền lực
và quyền uy của một Tổng Thống, ông đã bao lần ra
lệnh cho đơn vị này, chỉ thị đơn vị kia, cổ vũ tại các
quân trường, hô hào tại các diễn đàn
quan trọng, đều trong nỗ lực khuyến khích thúc đẩy mọi
người -nhất là quân nhân- hãy hi sinh
thân mình bảo vệ tổ quốc. Vậy mà, khi tổ quốc thật
sự lâm nguy thì ông quên hết các mệnh
lệnh của ông, của vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội
mà ông đã từng dõng dạc tuyên bố, để
rồi ông lặng lẽ để lại đằng sau tất cả những gì
không phải của ông và gia đình ông!
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng từng tuyên
bố rằng: “Đất nước còn thì còn tất cả, đất nước
mất thì mất tất cả”. Lời của Tổng Thống rất đúng,
và đúng với tất cả công dân Việt Nam Cộng
Hòa, ngoại trừ ông và những vị lãnh đạo
đã bỏ chạy là không đúng.
Vì các vị có mất gì
đâu dù rằng đất nước mất! Nhà ở của quí vị
là các dinh thự thuộc tài sản quốc gia, xe đi của
quí vị hằng ngày cũng là tài sản quốc gia,
cơ sở kinh doanh của quí vị cầm chắc là không do
đồng lương thật sự của quí vị tạo nên, vườn tược đất đai
đồn điền cũng thế, gia đình và thân nhân
cùng chạy theo quí vị, thậm chí có
thân nhân của ít nhất là một trong số
quí vị chạy ra ngoại quốc bằng Hàng Không Việt Nam
do ngân sách quốc gia đài thọ nữa chớ! Còn
chúng tôi, “Những Người Lính Việt Nam Cộng
Hòa”, nhà cửa bị cộng sản cướp, xe cộ bị cộng sản đoạt,
nhiều chục ngàn người trong số chúng tôi trong
tình trạng vợ con bị cộng sản lùa vào những nơi
mà chúng gọi là “khu kinh tế mới”, hoặc đi lấy
chồng vì không nơi nương tựa! Bản thân chúng
tôi, đã có nhiều ngàn đồng bào đồng
đội, đã bỏ xác trong các vùng đất trong
Nam, trong các vùng rừng núi hoang vu từ miền
Trung, miền Bắc, trong hơn 200 trại tù trên khắp miền đất
nước! Nghĩa là mất tất cả đúng như Tổng Thống đã
tiên liệu một cách chính xác!
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, trong phiên
lưỡng viện Quốc Hội ngay trong cuộc tổng công kích của
quân cộng sản vào dịp Tết Mậu Thân đầu năm 1968,
đã tuyên bố: “Đồng bào đừng nghe những gì
cộng sản nói, mà hãy nhìn kỷ những
gì cộng sản làm”. Lời của Tổng Thống hoàn
toàn đúng. Vì một trong những bản chất của cộng
sản là dối trá, họ chỉ có tuyên truyền chớ
không có thông tin, thành ra những gì
cộng sản nói đều là tuyên truyền cả, mà
đã là tuyên truyền thì có gì
là thật đâu. Nhưng tối 21 tháng 4 năm 1975, ngay
sau khi tuyên bố từ chức Tổng Thống, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu
có nói với đồng bào với quân đội rằng:
quân đội sẽ có thêm một chiến sĩ . . . được hiểu
là Trung Tướng sẽ trở về hàng ngũ quân đội chiến
đấu. Nhưng mấy ngày sau đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu
đã bỏ chạy! Vậy, riêng trường hợp này thôi,
liệu đồng bào và quân đội có nên
nhìn kỷ hành động của Trung Tướng hơn là nghe
Trung Tướng nói không?
Đến vị lãnh đạo quốc gia hàng thứ hai
là Đại Tướng Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Vị Thủ Tướng 5
năm rưỡi, đó là thời gian chỉ đứng sau thời gian của Tổng
Thống Ngô Đình Diệm kiêm nhiệm. Cả hai thời gian
này cộng lại là 15 năm, và hơn 5 năm còn
lại lần lượt chuyền tay nhau giữa 9 vị. Nếu chia đều thì mỗi vị
chỉ có mấy tháng cầm quyền chơi! Tôi nói
“cầm quyền chơi” là vì chỉ có mấy tháng
thì mỗi vị Thủ Tướng chỉ kịp duyệt qua công tác của
các Bộ trong chánh phủ là hết thời gian rồi,
đâu còn thì giờ để soạn thảo những kế hoạch, những
dự án, những mục tiêu quốc gia, nói chung là
sách lược quốc gia để phục vụ dân tộc.
Đầu năm 1970, bà Trần Thiện Khiêm,
trong cuộc đàm thoại hơn nửa tiếng đồng hồ, bà thuật cho
tôi nghe câu chuyện thật ngắn với nội dung như sau:
“.. Trên chuyến bay Sài
Gòn-Đà Lạt mà trên phi cơ chỉ có gia
đình Tổng Thống Thiệu và gia đình Đại Tướng
Khiêm. Tổng Thống Thiệu mời Đại Tướng Khiêm giữ chức Thủ
Tướng, bà Khiêm hơi to tiếng khi hỏi lại Tổng Thống Thiệu
rằng: Tổng Thống biết anh Khiêm không thích
làm chính trị mà còn kêu làm
Thủ Tướng, có phải là Tổng Thống muốn anh Khiêm
ngồi đó để Tổng Thống làm gì thì làm
không? Tổng Thống Thiệu gạt ngang: Chuyện của đàn
ông, bà biết gì mà nói”.
Riêng về chuyện kể ngắn ngủi này chỉ có thế, nhưng
tôi muốn lặp lại ở đây để có thêm một chứng
minh về con người của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm như tôi
đã nhận định hồi năm 1964 trước khi ông cùng gia
đình lưu vong. Theo lời bà Khiêm trên
đây thì Đại Tướng Khiêm vẫn là con người
không thích dấn thân vào chính trị,
mà Thủ Tướng là chức vụ chính trị cấp quốc gia.
Điều này lại nhắc tôi liên tưởng đến vụ đảo
chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 do Thiếu Tướng
Lâm Văn Phát lãnh đạo, và Trung Tá
Lê Hoàng Thao chỉ huy một Trung Đoàn của Sư
Đoàn 25 Bộ Binh vào chiếm Bộ Tổng Tham Mưu, ông
nói với tôi là có Trung Tá Phạm Ngọc
Thảo (cộng sản hồi chánh, nhưng không rõ là
hồi chánh giả hay hồi chánh thiệt) từ tòa đại sứ
Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ -lúc đó đại sứ
là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm- về tham gia, nếu
thành công thì Đại Tướng Khiêm trở về cầm
quyền. Tôi rất nghi ngờ lời nói của Trung Tá
Lê Hoàng Thao. Cũng có thể là tôi chủ
quan chăng, nhưng tôi vẫn giữ nguyên cách
nhìn của tôi như vậy.
Đến đây tôi xin mở ngoặc để thuật lại
câu chuyện liên quan mà tôi đã trao đổi
với cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm tối
21 tháng 10 năm 2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi
tiết trong cuộc đảo chánh này, tôi liền hỏi lại
ông: (trong câu chuyện, cựu Đại Tướng Khiêm xưng
là anh Tư và ông gọi tôi là
chú, tôi thì xưng em)
“Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong vụ Thiếu
Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm
1965, theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói
với em là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo từ tòa
đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ về tham gia, dự trù
khi thành công thì anh Tư về cầm quyền. Điều
đó có đúng không anh Tư?
“Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh mới biết
là tại sao lúc đó mấy anh nhà báo Mỹ
nhất là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. “Họ hỏi Anh biết
gì về cuộc đảo chánh đó?” Anh trả lời là
Anh không biết gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt
Nam. Còn cái vụ ông Thảo về Việt Nam là do
ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh) gởi công
điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói
là khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được
người nào đó cho biết là ông Khánh
đã phái người chận bắt ông Thảo đem đi giết,
nên người đó giúp ông Thảo chạy trốn
luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được
và giết chết”.
“Vậy thì anh Lê Hoàng Thao
đã không đúng”.
Xin đóng ngoặc.
Với nét nhìn của tôi, Đại Tướng
Trần Thiện Khiêm không phải là con người
chính trị, cũng không thích dấn thân
vào chính trị, nhưng lại giữ chức vụ chính trị
mà là chức vụ trên nguyên tắc chỉ dưới quyền
Tổng Thống thôi, cho nên hơn 5 năm trong ngôi vị Thủ
Tướng, ông không có gì xuất sắc về mặt
lãnh đạo với chức vụ khá nhiều quyền lực trong tay,
dù rằng về phong cách và cá tính
thì ông vẫn là người chinh phục được cảm
tình của nhiều giới trong xã hội. Nhưng chẳng lẽ con
người chính trị trong chức Thủ Tướng chỉ cần trang bị ngần
đó thôi sao! Và rồi ông cũng đi ngoại quốc
cùng chuyến phi cơ với Trung Tướng Thiệu, cũng là chuyện
bình thường, vì ông đã bàn giao chức
Thủ Tướng 3 tuần trước đó.
Đại Tướng Cao Văn Viên là vị Tướng tuy
đứng hàng thứ tư sau vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao là Tổng
Thống, Thủ Tướng, và Tổng Trưởng Quốc Phòng, nhưng theo
hệ thống tổ chức, thì chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng thật sự quan
trọng bậc nhất đối với quân đội về tổ chức đơn vị, trang bị vật
chất, trang bị tinh thần, huấn luyện và tái huấn luyện,
quân phong quân kỹ, chăm sóc sức khỏe, chăm
sóc đời sống, và quan trọng về mặt chiến lược chiến thuật
để hướng dẫn quân đội biết cách đánh và biết
cách thắng địch.
Bộ Quốc Phòng nghe rất to nhưng trong tổ
chức thì Bộ không có khả năng đảm trách
chiến lược mà nặng về điều hành, còn những
gì thuộc về chiến lược thì Bộ Quốc Phòng gần như
chỉ là “hộp thơ” giữa vị Tổng Tham Mưu Trưởng với Thủ Tướng
và Tổng Thống. Trách nhiệm chính của Bộ Quốc
Phòng hầu như chỉ tập trung vào hoạt động của Tổng Nha
Tài Chánh Và Thanh Tra Quân Phí, với
vài trách nhiệm khác về Quân Sản, Quân
Pháp, và Nhân Lực.
Vì vậy mà Đại Tướng Cao Văn
Viên, trong thực tế là vị lãnh đạo bậc nhất của
quân đội hơn một triệu người. Quyền hành rộng lớn bao
nhiêu thì trách nhiệm phải nặng nề bấy nhiêu,
Trách nhiệm và quyền hạn trong bất cứ chức vụ nào
cũng phải cân bằng như vậy. Trong 7 năm đầu, những ai khó
tánh đến đâu cũng phải công nhận là ông
rất nhiệt tình với quân đội về các mặt, nhưng cho
dù dễ tính đến mấy cũng nhận thấy ít nhất
là 2 năm sau cùng (1973-1975), Đại Tướng Viên
đã không làm hết trách nhiệm của vị Tổng
Tham Mưu Trưởng. Trên phương diện cá nhân, vì
Tổng Thống Thiệu không chấp nhận cho ông từ chức nên
ông chỉ quanh quẩn nơi bàn giấy với ngày hai buổi
đi làm bằng trực thăng từ nhà do ông tự lái
(đường Ngô Quyền, Quận 5) đến Bộ Tổng Tham Mưu (cạnh phi trường
Tân Sơn Nhất), tựa như viên chức già trong
ngành hành chánh “sáng lái phi cơ đi
chiều lái về” vậy. Hành động đó của ông, cứ
cho là đúng cũng được. Nhưng khổ nỗi, ông vẫn
là vị Đại Tướng 4 ngôi sao mỗi bên cổ áo
và là vị Tổng Tham Mưu Trưởng trong giai đoạn chiến tranh
ác liệt, để rồi lúc quân đội cần ông nhất
thì ông lên phi cơ -và cũng như Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm- ông bỏ lại
đằng sau tất cả để ra đi!
Thưa quí vị quí bạn,
Khi Đại Tướng Cao Văn Viên rời Việt Nam,
trên bàn giấy của Ông tại Bộ Tổng Tham Mưu có
văn kiện do Tổng Thống Trần Văn Hương ký cho Ông giải ngũ.
Điều này được hiểu là Đại Tướng Viên rời khỏi Việt
Nam với tư cách một cựu Tướng Lãnh chớ không phải
một Tướng Lãnh đương nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 18 tháng 5
năm 2005, tôi có dịp dùng cơm với cựu Trung
Tá (?) Trịnh Bá Lộc, sĩ quan tùy viên của
Đại Tướng Dương Văn Minh đến giờ phút đầu hàng, anh Lộc
thuật cho tôi và các bạn tại bàn ăn
cùng nghe. “Đơn xin giải ngũ của Đại Tướng Cao Văn Viên
viết bằng tay, không hiểu vì sao mà đơn đó
được chuyển từ văn phòng Tổng Thống Trần Văn Hương sang văn
phòng Đại Tướng Dương Văn Minh để hỏi ý kiến. Và
bút phê của Đại Tướng Minh: Thuận”.
Vào đầu tháng 3 năm 2006, ông
Lâm Lễ Trinh (LLT)-Bộ Trưởng Nội Vụ thời Tổng Thống Ngô
Đình Diệm- phổ biến trên NET bài mạn đàm
có thu thanh với cựu Đại Tướng Cao Văn Viên từ hạ tuần
tháng 12 năm 2004. Trong đó có đoạn liên
quan đến trường hợp ông rời khỏi Việt Nam mà ông cho
là tôi viết không đúng. Năm 2004, cựu Đại
Tướng Viên có tặng tôi quyển sách để
tôi theo đó mà sửa lại, nhưng tôi không
làm theo ý của Ông vì tôi không
đồng ý cách biện minh của ông. Đây là
một đoạn trích nguyên văn và nguyên chữ trong
bài viết của ông Lâm Lễ Trinh, liên quan đến
cựu Đại Tướng Cao Văn Viên và tôi:
Ông LLT. “Nơi trang 428-429 của hồi ký
“Việt Nam Nhân Chứng” (nxb Xuân Thu,1989), tướng Trần Văn
Đôn viết: “Có lần ông Thiệu than phiền ông Cao
Văn Viên không làm việc nhiều .. .Ông Thiệu
nhờ tôi nói với Đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu
trưởng, về việc ông này cứ ở mãi Tổng Tham mưu
làm việc, không chịu đi ra ngoài, ông
Viên trả lời: Tôi đã xin từ chức mấy lần mà
ông Thiệu không chấp nhận nên tôi cứ ở văn
phòng làm việc mà thôi!”
“Mặt khác, trong quyển hồi ký
“Đôi dòng ghi nhớ “ nêu trên, cựu đại
tá Phạm Bá Hoa cũng có nhận xét rằng trong
gần 9 năm rưỡi giữ chức Tổng Tham Mưu trưởng – chức vụ quan trọng bậc
nhất trong Quân đội – anh đã nhiệt tình hoạt động 7
năm đầu nhưng hai năm sau cùng, vị “Nguyên soái”
của Quân đội Miền Nam không cáng đáng hết
trách nhiệm, đến văn phòng cho có lệ, tập luyện
yoga và đi học lấy bằng cử nhân văn khoa ngoài giờ
làm việc. Mong anh đại tướng vui lòng, nếu tiện, giải
thích thái độ.
Ông CVV. “ Tôi sẵn sàng trả lời.
Trước khi cuộc đàm phán tại Paris tiến đến giai đoạn kết
thúc năm 1973, tình hình quân sự thêm
căng thẳng. Tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng tư lệnh
Quân đội, tập trung hết quyền bính trong tay, cho đặt một
hệ thống máy truyền tin tại Dinh Độc lập để liên lạc thẳng
với các quân khu, điều động các đơn vị, bổ nhiệm tư
lệnh vùng và ra lệnh trực tiếp hành quân. Bộ
Tổng Tham Mưu lần hồi bị dồn vào vai trò tuân
hành và thị chứng. Bộ Quốc phòng chỉ còn
là hộp thơ giữa Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu. Vì
không có điều kiện làm việc được như trước,
tôi đã năm, sáu lần vô đơn xin từ chức.
Ông Thiệu yêu cầu tôi nán lại, đợi người thay
thế nhưng ông không quyết định. Tôi không
có quyền bỏ ra đi một cách vô trách nhiệm.
Tuy nhiên khi Tổng thống Trần Văn Hương
nhường ghế cho tướng Dương Văn Minh tháng 4.1975, tôi
cương quyết xin giải ngũ vì tôi không phục ông
Minh từ lâu, tôi từng là nạn nhân của
ông Minh. TT Hương chấp nhận đơn của tôi. Ngày
27.4.1975, tôi rời Sài Gòn trong tình trạng
cựu Tướng Lãnh.
Ông LLT: Việc Tổng thống Thiệu tóm hết
quyền bính trong tay, qua mặt Quốc hội và Tối cao
Pháp viện, một mình quyết định bỏ Cao Nguyên
và Miền Trung là điều có lợi hay hại? Trong quyển
hồi ký “Đôi dòng ghi nhớ “ (1994, trang 191-215),
cựu Chánh văn phòng của anh là đại tá Phạm
Bá Hoa có kể lại cuộc rút quân bi thảm của
tướng Phạm Văn Phú theo đường số 7 và nhắc lại hai khẩu
lệnh của anh bằng điện thoại cho đương sự ngàỵ 15 và
18.3.1975 bảo gởi phi cơ vận tải C130 cho Quân đoàn 2
và chở các quân dụng đắt tiền khỏi Pleiku
“mà không cho biết lý do”. Ông Hoa than phiền
Tổng Cục Tiếp vận, thuộc bộ Tổng Tham mưu, không hề được
thông báo về tình hình suy sụp ở Cao
Nguyên. Anh nghĩ sao về lời than phiền này?
Ông CVV: Tất nhiên không
có lợi. Một cá nhân không thể quyết định đơn
phương vận mạng của Đất nước. Ông Phạm Bá Hoa trình
bày không đúng về một số sự kiện trong quyển hồi
ký mà tôi đã nhận được. Tôi có
gởi cho y một bổn The Final Collapse được bổ túc để làm
sáng tỏ vấn đề nhưng không thấy y nói gì.
Phạm vi cuộc mạn đàm hôm nay không cho phép
đi sâu vào chi tiết. Xin để dịp khác.
Hết phần trích dẫn.
Cựu Đại Tướng Viên trả lời không
đúng câu hỏi của ông Lâm Lễ Trinh riêng
về phần tôi.
Thưa quí vị quí bạn,
Khi đứng trước cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, về tình cảm
riêng tư, tôi giữ đúng vị trí một “sĩ quan
đàn em” như trong thời gian Đại Tướng cử tôi giữ chức
chánh văn phòng, nhưng về trách nhiệm trong
quân đội thì tôi nhìn vị Tổng Tham Mưu Trưởng
của tôi theo cách khác. Thật sự thì năm
2003, cựu Đại Tướng Viên có nói với người bạn
thân của tôi như là cách ông nhắn gởi
đến tôi, theo đó Ông muốn tôi viết lại nội
dung “Ông rời khỏi Việt Nam với tư cách một cựu Tướng
Lãnh” chớ không như tôi đã viết là
“Ông bỏ lại đằng sau tất cả để ra đi”. Tôi không đồng
ý, vì nhìn sâu vào sự kiện tôi
thấy đó không phải là nguyên nhân của
sự thật.
Đại Tướng Viên nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng
ngày 15 tháng 10 năm 1965, đến ngày 27
tháng 4 năm 1975 Ông rời khỏi Việt Nam. Trong hai năm sau
cùng của hơn 9 năm rưỡi trong chức vụ đứng đầu quân đội,
Đại Tướng tự lái trực thăng đi làm. Tôi muốn nhấn
mạnh điểm này để thấy quyền lực của vị Tổng Tham Mưu Trưởng.
Nhưng khi đất nước thật sự lâm nguy thì Ông xin giải
ngũ, với lý do đơn giản là Ông không phục Đại
Tướng Dương Văn Minh sắp sửa nhận chức Tổng Thống. Giữa trách
nhiệm lãnh đạo quân đội đang chiến đấu chống quân
cộng sản ngay trong sân nhà, với lý do không
phục vị Tổng Thống tương lai. Một bên là quốc gia đại sự,
một bên là chuyện cá nhân, xin hỏi “bên
nào là cốt lõi của lựa chọn?”
Mà nghĩ cho cùng, giả như Đại Tướng
Minh có nói bóng gió xa xôi là
ông sẽ ám hại Đại Tướng Viên đi nữa, tôi nghĩ,
Đại Tướng Viên cũng không thể vì đó mà
xin giải ngũ, bởi Ông đang là Đại Tướng Tổng Tham Mưu
Trưởng của một quân đội hơn một triệu quân, mà
lúc ấy quân cộng sản đang sát nách thủ
đô Sài Gòn. Cái lý do đơn giản
mà cựu Đại Tướng Viên trả lời ông Lâm Lễ Trinh
trong đơn xin giải ngũ, thật sự không có khả năng thuyết
phục được độc giả nói chung, và Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa nói riêng.
Tôi lại nhớ đến ngày 30 tháng 4
năm 1999, trong cuộc phỏng vấn của đài phát thanh Little
Saigon (Nam California) do xướng ngôn viên Việt Dũng phụ
trách hôm ấy, khi hỏi cảm nghĩ về ngày 30
tháng 4 thì cựu Đại Tướng Viên trả lời, tôi
không nhớ nguyên văn nhưng ý như thế này:
“Khi dự đại hội cựu quân nhân tại Dallas, Đại Tướng
Viên có nói với cử tọa rằng, quốc gia hưng vong
thất phu hữu trách. Mất nước là trách nhiệm chung
của mọi người mà Ông là một trong số đó, sao
lại đổ trách nhiệm cho Ông?”
Nghe xong tôi quá đổi ngạc
nhiên. Ngạc nhiên, vì đâu có người
dân nào có quyền hạn như Đại Tướng, cũng
không có vị Tướng nào đương nhiệm trong quân
đội mà có quyền hạn như Đại Tướng cả, ..v..v.. nhưng
trách nhiệm sao lại chia đều như vậy! Quí vị quí
bạn nghĩ sao?
Thật là đau lòng, đến nay đã
32 năm lưu vong, chưa một vị lãnh đạo đầy quyền lực nào
của chúng ta thuở ấy, dám nhận trách nhiệm với
lịch sử cả. Trái lại, vẫn cho rằng “mất nước là tại Mỹ bỏ
rơi!” Tất nhiên là trong hoàn cảnh sống trên
đất người, không ai có thẩm quyền gắn trách nhiệm
sụp đổ ngày 30 tháng 4 năm 1975 cho vị này hay vị
khác, vì trên vị quyền lực này có vị
quyền lực khác, và cứ như thế. Nhưng chia đều
trách nhiệm một cách bình quân như cựu Đại
Tướng Cao Văn Viên, tôi e không hợp lẽ công
bằng, bởi vì trách nhiệm phải cân bằng với quyền
lực trong mọi chức vụ. Chữ “trách nhiệm” mà tôi
dùng ở đây, là cột chặt trách nhiệm bảo vệ
Tổ Quốc Dân Tộc trong lãnh vực quân sự mà
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa tròn.
Trong lịch sử, cũng có những tiền nhân
bị mất nước, nhưng cái nhục của thế hệ chúng ta là
mất nước không phải vì đánh nhau thua trận,
mà vì lý do nào đó, hay vì
trách nhiệm của giới chức nào, tập thể nào, hay
là tất cả gộp lại, chúng ta phải chờ lịch sử soi
sáng qua từng góc cạnh của những vị lãnh đạo, từng
góc cạnh của bối cảnh quốc gia quốc tế liên quan. Nhưng
nếu chúng ta nói rằng, “chế độ tự do của Việt Nam Cộng
Hòa chúng ta sụp đổ là trách nhiệm của Hoa
Kỳ hay của ai đó”, thì liệu chúng ta có
liêm sỉ khi đứng trước quốc kỳ Việt Nam nền vàng ba sọc đỏ
tung bay trong gió hay khi đứng trước bàn thờ tổ quốc
dù chưa phải là trên quê hương Việt Nam
không? Bởi vì, đất nước là đất nước Việt Nam,
dân tộc là dân tộc Việt Nam, các vị
lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo quân đội đều
là Việt Nam, tất cả quân nhân trong Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa đều là Việt Nam, lúc hi sinh
vì Tổ Quốc được nằm trong quan tài Việt Nam, được nghe
lời nguyện bằng tiếng Việt Nam, và ngàn đời yên
nghỉ trong lòng đất Việt Nam, thì đối với lịch sử,
chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm
đã để đất nước vào tay cộng sản độc tài! Chữ
“trách nhiệm” mà tôi dùng ở đây,
là trách nhiệm của tất cả những vị thuộc hàng
lãnh đạo bất kỳ lãnh vực nào trong guồng
máy xã hội, đặc biệt là lãnh vực
chính trị và quân sự.
Trong bang giao quốc tế, không có vấn đề tình cảm
mà chỉ có quyền lợi quốc gia. Hoa Kỳ giúp
chúng ta là do quyền lợi của Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ
rút khỏi Việt Nam cũng do quyền lợi của họ, vấn đề là
“khả năng và bản lãnh” của những vị lãnh đạo trong
mọi hoàn cảnh đất nước, sẽ tạo thế đứng cho những vị đó
trong lịch sử: hoặc được người đời vinh danh hay bị người đời nguyền
rủa, lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong
dân gian!
Thế hệ chúng ta, đã thừa hưởng một
giang sơn gấm vóc, một truyền thống hào hùng của
những bậc tiền nhân lừng danh thế giới trong hành
trình mở nước và giữ nước, một nền văn hoá
dân tộc trải dài nhiều ngàn năm trong lịch sử,
trong đó con người được trân trọng. Đến lượt chúng
ta, chúng ta chiến đấu giữ nước và phát triển đất
nước, nhưng đã để đất nước vào tay chế độ cộng sản độc
tài, một chế độ tàn bạo nhất trong lịch sử nhân
loại! Tuy nhóm lãnh đạo cộng sản cũng là người
cùng chủng tộc, nhưng họ rập khuôn theo cộng sản quốc tế
mà cai trị dân tộc với những chính sách độc
tài nghiệt ngã! Và thật sự là họ đã
tàn bạo hơn quân xâm lược Trung Hoa phong kiến,
và nghiệt ngã hơn thời bị thực dân Pháp cai
trị nữa!
Theo quí vị, thế hệ chúng ta vừa để
lại những gì cho thế hệ tiếp nối chúng ta, và
những thế hệ sau nữa? Phải chăng là “kinh nghiệm từ một chế độ
tự do sụp đổ”, một kinh nghiệm luôn giằng xé chúng
ta trong quảng đời còn lại?!
Từ góc độ đạo lý mà soi rọi
vào thảm cảnh chúng ta, phải chăng là chúng
ta bị trừng phạt “từ đâu đó”, vì chúng ta
không thực hiện tròn vẹn lời thề trước bàn thờ Tổ
Quốc trong những buổi lễ tốt nghiệp tại các trường quân
sự! Bởi thế mà nhiều chục ngàn bạn đồng đội khi đặt
chân lên đất nước Hiệp Chủng Quôc Hoa Kỳ đã bị
cái “sốc” khi bước vào một xã hội rất thực tế,
thực tế đến độ tàn nhẫn của cuộc sống với biết bao gian
truân của người lưu vong! Trong khi hơn hai trăm ngàn đồng
đội chúng tôi, gồm: quân nhân, viên
chức, cán bộ, các vị dân cử, các nhà
kinh doanh sản xuất, các vị hoạt động chính trị, bị cộng
sản lưu đày trong các nhà tù, vợ con bị
đày đọa trong các khu kinh tế mới mà thực chất
là những nơi lưu đày, tài sản thì bị
chúng tịch thu.
Đời sống của chúng tôi trong
các trại tập trung, cũng như vợ con chúng tôi trong
các khu kinh tế mới, không nói thì
quí vị quí bạn cũng thừa hiểu là vô
cùng thảm thương! Lòng thù hận tột cùng của
cộng sản, đã thể hiện qua những chính sách đối với
người dân Việt Nam Cộng Hòa cũ nói riêng, với
chúng tôi và gia đình chúng tôi
nói riêng, không sao kể xiết! Chỉ có thể
nói là chúng tàn bạo hơn thời dân ta
bị phong kiến thực dân cai trị nữa!
Xin thưa, đoạn trên đây tôi không có
ý phiền trách bất cứ vị nào, mà tôi
chỉ muốn nói đến một góc nhỏ của sự thật hòa trong
nhận thức của một sĩ quan tham dự suốt chiều dài cuộc chiến
tranh bảo vệ tự do dân chủ 1954-1975! Tôi quan niệm,
nói sự thật không phải là nói xấu, cho dẫu
sự thật đó có đắng cay đến mấy cũng vậy. Chỉ khi
nào “chuyện bé xé ra to hoặc dựng chuyện để
nói” mới là nói xấu.
***
Thưa quí vị
quí bạn,
Ký ức tôi còn lưu lại ngần ấy
sự kiện cùng với nét nhìn của tôi trong
những biến cố chính trị đã xảy ra từ đêm “thiết
quân luật” 20 tháng 8 năm 1963, được gói
ghém trong quyển sách này mà quí vị
quí bạn vừa đọc qua. Tôi không có kết luận về
trách nhiệm do đâu hay do ai mà chế độ tự do của
Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ vào ngày 30 tháng
4 năm 1975, vì thiết nghĩ, phải trông chờ vào
các sử gia mới có điều kiện thu thập tài liệu tạo
thành dòng lịch sử đương đại, và dòng lịch
sử đó có khả năng nói với thế hệ mai sau về những
gì mà chúng ta đã làm.
Nhưng, trong khi chờ đợi sự phán xét
của lịch sử, tất cả chúng ta “Những Người Lính Việt Nam
Cộng Hòa”, cho dù diễn giải như thế nào đi nữa,
cũng phải thừa nhận là chúng ta có chung
trách nhiệm về ngày 30 tháng 4 năm 1975,
ngày mà tổ quốc Việt Nam chúng ta bị cộng sản
đánh chiếm và dân tộc Việt Nam bị cai trị bởi chế
độ độc tài tàn bạo, do chúng ta chưa tròn
trách nhiệm! Chúng ta hãy can đảm mà nhận
trách nhiệm đó, vì có như vậy, chúng
ta mới vơi bớt nỗi giày vò trong trái tim “Người
Lính thua trận cuối cùng”!
Nhận trách nhiệm không chỉ là
lời nói suông, mà tùy mỗi hoàn cảnh
của chúng ta và bằng cách này hay
cách khác, góp phần xây dựng Cộng Đồng Việt
Nam tị nạn chúng ta có một sức mạnh tập thể, và
góp phần trực tiếp hay gián tiếp vào công
cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên
quê hương Việt Nam. Phần quan trọng khác, là hỗ trợ
và khuyến khích con cháu chúng ta trau dồi
kiến thức khoa học kỹ thuật, và rèn luyện nghị lực với
một tinh thần trách nhiệm cộng đồng. Từ sức mạnh đó, tuổi
trẻ Việt Nam hải ngoại có khả năng góp phần quan trọng
vào công cuộc xây dựng một xã hội dân
chủ pháp trị trên quê hương Việt Nam vững
vàng trên nền tảng phục vụ nguyện vọng toàn
dân.
Và tôi xin
hết lời.
Houston, Teaxs, Hoa Kỳ.
Viết xong
ngày 15 tháng 8 năm 1994.
Bổ túc lần 1, mùa Thu năm 1995.
Bổ túc lần 2, mùa Thu năm 1998.
Bổ túc lần 3, mùa Đông năm 2001-2002.
Bổ túc lần 4, mùa Đông năm 2003-2004.
Bổ túc lần 5, mùa Đông năm 2005-2006.
Bổ túc lần 6, mùa Xuân năm 2007.
Cựu Đại Tá
Phạm Bá Hoa
***
Phụ bản:
A: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
B. Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
C: Chân dung Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa.
D: Nhận xét của một số độc giả.
E: Tác giả.
***
Phụ bản A
Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có
sức mạnh của một lịch sử hào hùng, với dũng khí
của một dân tộc vẻ vang, xông pha trận mạc bằng lý
tưởng tự do dân chủ, trong mục đích phục vụ nguyện vọng
toàn dân, bao gồm các quyền tự do căn bản và
quyền mưu tìm hạnh phúc cho bản thân, cho gia
đình, và quê hương Việt Nam sẽ trở nên
hùng mạnh.
Nhưng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
đã bị “bức tử” từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bài này góp phần “ôn lại
chuyện hôm qua”. Ôn lại chuyện hôm qua, không
phải để hoài niệm hay luyến tiếc bất cứ điều gì,
mà để xác định đúng một chế độ phục vụ nguyện vọng
người dân, để khẳng định một lập trường chính trị, để
góp phần ung đúc ý chí dấn thân trong
công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị
trên quê hương Việt Nam.
1950-1954: Giai đoạn hình
thành
Trong cuộc chiến tranh giữa quân Pháp
thực dân với Việt Minh cộng sản (1946-1954), Quốc Hội Pháp
thông qua đạo luật vào tháng 5 năm 1950,
thành lập quân đội Việt Nam với 60.000 quân, với
danh xưng “Quân Đội Quốc Gia Việt Nam” trong khuôn khổ
Liên Hiệp Pháp Nhưng đến ngày 1 tháng 5 năm
1952, văn kiện thành lập mới chánh thức ban hành
do Quốc Trưởng Bảo Đại ký, và vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu
tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Thiếu Tướng Hinh, gốc
là sĩ quan Không Quân của Pháp chuyển sang.
Bản doanh Bộ Tổng Tham Mưu tọa lạc trên đại lộ Trần Hưng Đạo,
thuộc Quận 5 Sài Gòn.
Trước khi thành lập Bộ Tổng Tham Mưu,
đã có một số đơn vị được thành lập, tuy là
đơn vị Việt Nam nhưng do sĩ quan Pháp chỉ huy. Đó
là:
Trường Sĩ Quan Việt Nam tại Huế 1948, sau đó chuyển lên
Đà Lạt tiếp nhận Trường Võ Bị Liên Quân Đặc
Biệt của Pháp, và đổi tên là “Trường
Võ Bị Liên Quân Đà Lạt”. Đầu những năm 1960,
trường này cải tổ chương trình huấn luyện với thời gian
đào tạo sĩ quan hiện dịch lên đến 4 năm, và đổi
tên là ‘Trường Võ Bị Quốc Gia’.
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định,
văn kiện thành lập từ ngày 24 tháng 12 năm 1950,
nhưng đến những tháng cuối năm 1951 mới bắt đầu khai giảng
khóa đầu tiên. Nhưng Trường Nam Định chỉ đào tạo
khóa duy nhất rồi đóng cửa.
Trong năm 1951, các đơn vị đầu tiên
và thấp nhất được thành lập, là: Thiết
Giáp. Truyền Tin. Quân Vận. Nhẩy Dù. Công
Binh. Pháo Binh.
Trong khi trên chiến trường, hoạt động
quân sự của Việt Minh cộng sản, với sự yểm trợ tối đa của Trung
Hoa cộng sản, làm cho bộ tư lệnh viễn chinh Pháp
ngày càng bối rối bởi những trận đánh với cấp bộ
đại đoàn, một loại đơn vị chiến thuật trên cấp trung
đoàn nhưng dưới cấp sư đoàn. Một căn cứ kiên cố bậc
nhất của Pháp tại chiến trường Đông Dương với gần 13.000
quân trú phòng, được xây dựng trong
vùng lòng chảo Điện Biên Phủ, gần biên giới
Lào. Mục tiêu là nhử các đơn vị lớn của Việt
Minh cộng sản đến để Pháp dùng hỏa lực pháo binh
và không quân tiêu diệt. Nhưng, sau 3
tháng đánh nhau dữ dội với những tổn thất nặng nề cho cả
hai bên, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân
trú phòng Pháp đầu hàng. Sự kiện này
đã dẫn đến Hiệp Định đình chiến ngày 20
tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ, chia Việt Nam
thành hai quốc gia: Từ vĩ tuyến 17 trở lên phía bắc
là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do cộng sản cai
trị, từ vĩ tuyến 17 trở xuống phía nam, là nước Quốc Gia
Việt Nam theo chế độ tự do.
Hiệp định đó không có chữ
ký của Việt Nam và Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, dưới Quốc
Trưởng Bảo Đại có chánh phủ do Thủ Tướng Ngô
Đình Diệm lãnh đạo. Biết bao vấn đề khó khăn khi
đất nước chỉ còn lại từ vĩ tuyến 17 trở xuống, trong đó
công tác định cư cho gần 1 triệu đồng bào miền Bắc
chạy nạn cộng sản vào Nam, là một trong những mục
tiêu lớn của chánh phủ mới nhận trách nhiệm
ngày 7 tháng 7 năm 1954, vỏn vẹn chỉ hai tuần lễ trước
đó.
Vào cuối giai đoạn này, Quân
Đội Quốc Gia Việt Nam có:
Lục Quân:
Bộ Tổng Tham Mưu và các cơ quan phòng sở trực
thuộc..
Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, đào tạo
sĩ quan hiện dịch (chuyên nghiệp).
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.
Trường Hạ Sĩ Quan tại các Quân Khu.
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, đào tạo chiến binh.
67 Tiểu Đoàn Bộ Binh.
5 Tiểu Đoàn Pháo Binh.
Liên Đoàn Nhẩy Dù với 5 Tiểu Đoàn.
Trung Đoàn Thiết Giáp.
6 Đại Đội Truyền Tin.
6 Đại Đội Công Binh.
Và 6 Đại Đội Quân Vận.
Không Quân:
2 Phi Đoàn Quan Sát Trợ Chiến, trang bị phi cơ Morane.
Trước cuối năm 1954, nhận thêm 39 phi cơ quan sát
và phi cơ vận tải do Mỹ viện trợ ngang qua trung gian của
Pháp.
Hải Quân:
3 Hải Đoàn Xung Phong, trang bị loại giang đỉnh LCM và
LCVP.
3 Liên Đoàn Tuần Giang.
Và một lực lượng com-măng-đô. Tuy không thuộc hải
quân, nhưng khi chuyển vào Nam thì sáp nhập
vào một tổ chức có tên là “Hải Quân Bộ
Binh”. Binh chủng này là tiền thân của “Thủy
Quân Lục Chiến”, thành lập tháng 5 năm 1955.
1955-1967, giai đoạn phát triển lần
1.
Ngày 23 tháng 10 năm 1955, cuộc trưng
cầu ý dân với kết quả là Quốc Trưởng Bảo Đại bị
truất phế, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố “Việt
Nam là một nước Cộng Hòa”, gọi ngắn gọn là “Việt
Nam Cộng Hòa” và ông trở thành Tổng Thống từ
ngày 26 tháng 10 năm 1955. Từ đó, tiêu đề
trên công văn quân sự ghi là “Quân Đội
Việt Nam Cộng Hòa”.
Để kịp thời chống lại nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa do họ cài lại hằng chục ngàn đảng
viên cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa
khi họ chuyển từ nam ra bắc theo Hiệp Định Đình Chiến qui định,
một kế hoạch tái tổ chức toàn bộ quân đội được thực
hiện ngay trong năm 1955. Lúc ấy, tổ chức đơn vị cao nhất chỉ
là cấp Tiểu Đoàn, được tổ chức thành Trung, Sư
Đoàn, và Quân Đoàn, với dụng cụ chiến tranh
do Hoa Kỳ viện trợ.
Đầu năm 1956, toàn bộ quân đội
Pháp rút khỏi Việt Nam. Bản doanh Bộ Tổng Tham Mưu, từ
Quận 5 chuyển đến địa điểm mới gần phi trường Tân Sơn Nhất thuộc
Quận Phú Nhuận (tỉnh Gia Định), trước đó là bản
doanh của Bộ Tư Lệnh Viễn Chinh Pháp. Doanh trại này rất
khang trang, bề thế, có tên là “Trại Trần Hưng
Đạo”, tọa lạc trên đường Võ Tánh nối dài.
Cuộc cải tổ bước đầu hoàn tất, với 4 Sư
Đoàn Dã Chiến và 6 Sư Đoàn Khinh Chiến. Sự
khác biệt giữa hai loại Sư Đoàn này là vấn
đề trang bị. Sư Đoàn Khinh Chiến với quân số khoảng 6.500
và trang bị nhẹ, trong khi Sư Đoàn Dã Chiến với
quân số khoảng 10.000 và trang bị nặng.
Cuộc cải tổ sang bước thứ hai. 10 Sư Đoàn
đó tổ chức lại thành 7 Sư Đoàn Bộ Binh. Loại Sư
Đoàn này thống nhất về tổ chức lẫn trang bị, với
quân số mỗi Sư Đoàn khoảng 10.500 quân, có đủ
các đơn vị binh chủng yểm trợ trực thuộc: Quân Vận,
Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Y, Cộng Binh, Truyền Tin,
Pháo Binh, Thiết Giáp. Lần lượt thành lập
thêm 3 Sư Đoàn Bộ Binh, và phát triển Lữ
Đoàn Nhẩy Dù với Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến
lên cấp Sư Đoàn.
Trong giai đoạn này, nhiều cuộc đảo
chánh quân sự xảy ra đã ảnh hưởng đến nhiệm vụ
quân sự của quân đội, và trong một mức độ nào
đó, đã ảnh hưởng đến sự phân hóa ở cấp
lãnh đạo cao nhất. Tháng 4 năm 1964, Trung Tướng Nguyễn
Khánh (cầm quyền sau cuộc đảo chánh ngày
30/1/1964), đã hệ thống hóa tổ chức quân đội với
danh xưng “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” bao gồm: Hải
Quân, Lục Quân, Không Quân, và Địa
Phương Quân Nghĩa Quân.
Do lời kêu gọi của Trung Tướng Nguyễn
Khánh, các quốc gia Đồng Minh gồm Hoa Kỳ, Đại Hàn
(S. Korea), Thái Lan, Australia, New Zealand, Phi Luật
Tân, đưa quân đến giúp Việt Nam chống cộng sản.
Quân đội đông nhất là Hoa Kỳ với hơn 500.000
quân.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào
cuối giai đoạn 1955-1967, như sau:
Bộ Tổng Tham Mưu với các cơ quan
phòng sở trực thuộc.
Lục Quân:
4 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn (I, II, III, IV) với các đơn
vị yểm trợ trực thuộc.
10 Sư Đoàn Bộ Binh (1, 2, 5, 5, 9, 18, 21, 22, 23, 25).
Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (tổng trừ bị).
Sư Đoàn Nhẩy Dù (tổng trừ bị). Liên Đoàn 81
Biệt Kích Dù (tổng trừ bị).
Lực Lượng Đặc Biệt.
Lực lượng Biệt Động Quân.
Nha Kỹ Thuật (đơn vị đặc biệt).
4 Trung Đoàn Thiết Kỵ (không kể các Thiết
Đoàn trong tổ chức Sư Đoàn Bộ Binh).
11 Tiểu Đoàn Pháo Binh 155 ly và 1 Tiểu
Đoàn 155 ly (không kể các Tiểu Đoàn
Pháo Binh trong tổ chức Sư Đoàn).
Tổng Cục Tiếp Vận với 8 ngành chuyên môn Quân
Y, Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ,
Mãi Dịch, Công Binh, Truyền Tin, và 5 Bộ Chỉ Huy
Tiếp Vận địa phương.
Tổng Cục Quân Huấn với các quân trường đào
tạo sĩ quan, hạ sĩ quan, đào tạo chuyên viên cho
các binh chủng binh sở, và các trung tâm
huấn luyện đào tạo chiến binh.
44 Tiểu Khu với lực lượng Địa Phương Quân Nghĩa Quân,
và Pháo Binh diện địa và Quân Y diện địa.
Không Quân:
Bộ Tư Lệnh Không Quân với các cơ quan trực thuộc.
Không Đoàn 41 tại Đà Nẳng.
Không Đoàn 62 tại Plei Ku.
Không Đoàn 23 tại Biên Hòa.
Không Đoàn 33 tại Tân Sơn Nhất.
Không Đoàn 74 tại Cần Thơ.
Không Đoàn Tân Trang & Chế Tạo.
Hải Quân:
Bộ Tư Lệnh Hải Quân với các cơ quan trực thuộc.
Lực Lượng Giang Lực và Hải Lực, được trang bị 64 chiến hạn
và 303 chiến đỉnh.
Các Bộ Tư Lệnh Hải Lực, Giang Lực cấp Vùng.
Hải Quân Công Xưởng.
1968-1975, giai đoạn phát triển cao
điểm.
Sau cuộc tổng tấn công của quân cộng
sản vào hầu hết các tỉnh lỵ trên toàn quốc
đầu năm 1968 nhân Tết Nguyên Đán Mậu Thân, Hoa
Kỳ cung cấp một số loại vũ khí mới cho Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, như: Súng trường M16, súng đại
liên M60, súng phóng lựu M79, súng chống
chiến xa M72, … Lúc ấy gọi là “tối tân hóa
quân dụng”.
Do thỏa Ước Chấm Dứt Chiến Tranh và Lập Lại
Hòa Bình, ký ngày 27 tháng 1 năm
1973 tại Paris, toàn bộ quân đội Đồng Minh rút khỏi
Việt Nam Cộng Hòa. Quân đội Hoa Kỳ để lại hầu hết vũ
khí giúp quân lực Việt Nam Cộng Hòa gia tăng
quân số, khả dĩ lấp vào khoảng trống do quân đội
Đồng Minh rút về nước. Lúc ấy gọi là “Việt Nam
Hóa Chiến Tranh”.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào
đầu năm 1975, với quân số gần 1.100.000 người trong hệ thống tổ
chức như sau:
Cơ quan trung ương.
Bộ Tổng Tham Mưu với đầy đủ các cơ quan, binh chủng, binh sở
trong hệ thống quản trị hành chánh, nhân
viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận.
Riêng ngành Tiếp Vận có khả năng sửa chữa và
tân trang toàn bộ quân dụng chung, do Lục Quân
Công Xưởng, các Căn Cứ Quân Nhu, Công Binh,
Đạn Dược, Truyền Tin, Tồn Trữ Sửa Chữa Dù, và các
Trung Tâm Bảo Toàn quân dụng trách nhiệm.
Quân dụng chung, là những loại quân dụng trang bị
cho Lục Quân nhưng Hải Quân và Không
Quân có sử dụng.
Về huấn luyện. Trường Cao Đẳng Quốc Phòng
trực thuộc Bộ Quốc Phòng, đào tạo sĩ quan, tướng
lãnh, và viên chức hành chánh,
có kiến thức lãnh đạo các ngày sinh hoạt
quốc gia. Trong quân đội, một hệ thống trường quân sự, gồm:
Trường Chỉ Huy Tham Mưu, đào tạo cấp chỉ huy Quân
Đoàn, Sư Đoàn, Trung Đoàn, và sĩ quan tham
mưu các cấp.
Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, với chương trình 4
năm, đào tạo sĩ quan hiện dịch có kiến thức căn bản trong
các ngành sinh hoạt quốc gia.
Trường Bộ Binh Thủ Đức (về sau là Long Thành), đào
tạo sĩ quan trừ bị, có kiến thức căn bản bộ binh, và
đào tạo chỉ huy cấp Đại Đội, cấp Tiểu Đoàn.
Trường Hải Quân và Trường Không Quân,
đào tạo sĩ quan và chuyên viên cho quân
chủng.
Trường Chỉ Huy Tham Mưu trung cấp Không Quân, đào
tạo sĩ quan tham mưu cho quân chủng.
Trường Đồng Đế, đào tạo hạ sĩ quan. Từ năm 1968, trợ giúp
Trường Thủ Đức, đào tạo sĩ quan trừ bị cho nhu cầu phát
triển quân đội do lệnh tổng động viên.
Trường Tiếp Vận, Trường Quân Y, Quân Cụ, Quân Nhu,
Quân Vận, Truyền Tin, Công Binh, Pháo Binh, Thiết
Giáp, Biệt Động Quân, Hành Cháh Tài
Chánh, đào tạo các sĩ quan chuyên môn
cho binh chủng binh sở liên hệ.
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, đào tạo chiến binh.
Các Trung Tâm Huấn Luyện cấp Quân Khu, đào
tạo chiến binh, và tái huấn luyện cấp đơn vị.
Trung Tâm Huấn Luyện Nhẩy Dù, và Trung Tâm
Huấn Luyện Thủy Quân Lục Chiến (Đồng Ba Thìn), đào
tạo chuyên môn cho binh chung.
Về quản trị.
Trung Tâm Điện Toán Bộ Quốc Phòng, với dàn
máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ về ngân
sách quốc phòng.
Trung Tâm Điện Toán Nhân Viên/ Bộ Tổng Tham
Mưu, với dàn máy IBM 360/40, quản trị toàn bộ
quân nhân.
Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận/Tổng Cục Tiếp Vận, với
dàn máy IBM 360/50, quản trị toàn bộ quân
dụng chung.
Trung Tâm Điện Toán Không Quân, quản trị
toàn bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ
quân dụng chung.
Trung Tâm Điện Toán Hải Quân, quản trị toàn
bộ quân dụng của quân chủng, ngoại trừ quân dụng
chung.
Về trang bị tổng quát. Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa được trang bị:
Hơn 2.000.000 khẩu súng cầm tay.
1.200 xe chạy xích, kể cả chiến xa M48.
Hơn 1.000 khẩu đại bác, từ 105 ly, 155 ly, đến 175 ly
nòng dài cơ động.
Hơn 40.000 xe chạy bánh.
1.600 chiến hạm chiến đỉnh.
Hơn 2.000 phi cơ các loại, từ cánh quạt, trực thăng, đến
phản lực.
Lục Quân:
4 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và các đơn vị yểm trợ
trực thuộc.
11 Sư Đoàn Bộ Binh, kể cả Sư Đoàn 3 Bộ Binh thành
lập tháng 10 năm 1971.
1 Sư Đoàn Nhẩy Dù.
1 Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
1 Liên Đoàn Biệt Cách Dù.
Hơn 20 Liên Đoàn Biệt Động Quân.
4 Lữ Đoàn Kỵ Binh Thiết Giáp.
Lực Lượng Lôi Hổ và Biệt Hải.
Các đơn vị Pháo Binh (kể cả đại bác 175
nòng dài xe kéo) và Phòng
Không.
Lực lượng Địa Phương Quân Nghĩa Quân chiếm khoảng một nửa
quân số.
Vào những ngày cuối tháng 4/1975, Sư Đoàn
106 Biệt Động Quân được thành lập gấp rút để
phòng thủ Phú Lâm, cửa ngõ vào thủ
đô Sài Gòn từ hướng tây nam.
Không Quân, với quân số hơn
60.000, tổ chức tổng quát gồm:
Bộ Tư Lệnh với các đơn vị yểm trợ trực thuộc.
5 Sư Đoàn tác chiến.
1 Sư Đoàn vận tải.
1 Không Đoàn Tân Trang Chế Tạo.
Chỉ trong năm 1973, tiếp nhận hơn 900 phi cơ, gồm:
560 trực thăng, 230 khu trục, 100 vận tải, và các loại
khác. Trong tổ chức 6 Sư đoàn không quân,
có số lượng các phi đoàn như sau: 20 phi
đoàn khu trục, trang bị khoảng 550 phi cơ. 23 phi đoàn
trực thăng, trang bị khoảng 1000 phi cơ. 8 phi đoàn quan
sát, trang bị khoảng 200 phi cơ. 9 phi đoàn vận tải,
trang bị khoảng 150 phi cơ. Và 4 phi đoàn hỏa long, trang
bị phi cơ AC119 nhưng không rõ số lượng. Ngoài ra
còn có các Phi Đoàn đặc biệt.
Hải Quân, với quân số hơn 40.000,
và sau khi tiếp nhận 5 Giang Đoàn của Hải Quân Hoa
Kỳ, lực lượng Hải Quân như sau:
Bộ Tư Lệnh và các đơn vị yểm trợ trực thuộc.
Giang Lực với 14 Giang Đoàn, trang bị chiến đỉnh các loại.
Hải Lực với 1 Hạm Đội, trang bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục
hạm, trợ chiến hạm, giang pháo hạm, tuần duyên hạm, dương
vận hạm, hải vận hạm, và giang vận hạm.
Liên Đoàn Người Nhái.
Hải Quân Công Xưởng.
***
Phụ bản B
Chân Dung Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi
hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi
Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng
già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống
đồng bằng sông rạch Cửu Long, mời quí bạn lần theo dấu
chân để đến, và nhận ra Chân Dung Những Người
Lính ấy, sau khi có khái niệm về Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa.
Hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc
xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều
chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà
không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích
của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc
phản công toàn diện trong cuộc “tổng công
kích” của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm
1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn
công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ
tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào
mùa hè 1972, thường gọi là “Mùa Hè
Đỏ Lửa”. Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết
bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm,
đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Bộ
Binh, của Địa Phương Quân Nghĩa Quân, trong nội địa
lãnh thổ, những chiến thắng của “lực lượng Dân Sự Chiến
Đấu”, của “Lực Lượng Đặc Biệt”, của những “Toán Lôi Hổ”,
của “Liên Đoàn Biệt Cách Dù”, ..v..v.. trong
những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới
Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ
miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng
gọi là “đường Trường Sơn”, xâm nhập lãnh thổ Việt
Nam Cộng Hòa.
Họ cũng không thể hiểu chiều sâu những
trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải
rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ
gặp nhau là đánh. Đánh nhau bất luận bao
nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi
nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong
chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong
nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối
trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng
lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc
núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên,
là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là “biển cạn”
Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường
trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến,
đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản
trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
Nói chung là người ngoại quốc, cho
dù là những phóng viên hay những nhà
lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu
được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và
cách vận dụng chiến thuật đó của “Người Lính Việt
Nam Cộng Hòa”, trong khi 500.000 quân Đồng Minh rất
khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của
nó là “chiến tranh tổng thể” trên chiến trường Việt
Nam chúng ta, bởi họ không thấu đáo nền văn
hoá Việt Nam nên chưa hiểu được Người Lính Việt Nam
Cộng Hòa.
Vậy, “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
là ai?”
“Họ”, là những nông dân chất
phác hiền hòa, là những ngư dân miền
duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công
nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp
trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại
học, là những viên chức cán bộ đam mê đời
sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong
các ngành nghề tự do. “Họ”, theo tiếng gọi quốc gia,
tình nguyện vào các trường quân sự. “Họ”,
tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường
quân sự. “Họ”, là quân nhân hiện dịch,
là quân nhân trừ bị, là quân nhân
đồng hoá, là những nữ quân nhân. “Họ”,
là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ
quan, sĩ quan, tướng lãnh. “Họ” có mặt trong các
quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu,
quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy, “Họ” phụng sự tổ quốc,
phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân
thương trìu mến là “Người Lính Việt Nam Cộng
Hòa”, những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt
chẻ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng
Hòa.
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa:
Là Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân,
ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm
ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao
thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở. Là Người Lính
Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Cách Dù, lặn lội vùng
biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù. Là
lực lượng Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch.
Là Người Lính Không Quân, từ trên
không đánh xuống. Là Người Lính Nhẩy
Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người
Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh
vào. Là Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ
ngoài biển vào đánh. Là Người Lính
Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay
trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù.
Đánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi
rừng rậm rạp. Đánh địch trên chót Mũi Cà Mau
quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng
Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù
phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng
góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố
đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị.
“Họ” miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau
chiến trận. “Họ” đã đánh địch đến giây phút
cuối cùng! Và “Họ”, xứng danh là “Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa”.
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa,
đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình
vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công,
vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những
chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần
gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa
đày. Là những quân nhân có vầng
trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước
tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu
đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên
khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người
làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới
lên hoa màu, nhưng “Họ” chỉ được ăn những cọng rau do
phân và nước tiểu của “Họ” mà vươn lên. Để
rồi nhiều người trong số “Họ”, đã chết trong đau thương,
đói khổ, nhọc nhằn!
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời
đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại
tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho
nhau nơi xứ người xa lạ.
Đó, là “chân dung Người
Lính Việt Nam Cộng Hòa”, mà người phương Tây
chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều
sâu của lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu
được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản
chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa
hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía
chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể
đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên
lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà
trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua
quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng
Hòa. Không thể nói khác được, dù
cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công
nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên lãnh thổ
mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm
quốc gia kia, ngoài chữ “xâm lăng” ra, không
có chữ nào khác để chỉ hành động đó
cả. Những ngôn từ mà cộng sản sử dụng để nói đến
cuộc chiến này, đều là những dối trá đánh
lừa dư luận quốc nội lẫn quốc tế, ngụy trang mục tiêu chiến lược
của họ.
“Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”,
hình thành “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”. Một
quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn
luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong
chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên
những chiến tích vang danh, những anh hùng được
toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai
đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử
đương đại của tổ quốc, “thành mất chết theo thành”.
Vì vậy:
”Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất xứng
đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm
1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng
đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu
nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn
tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu
hùng của dân tộc Việt Nam”.
***
Phụ bản C
Chân Dung Người Vợ
Lính Việt Nam Cộng Hòa
Trong cuộc sống, sự thành công hay
thất bại nào cũng có cái giá của nó.
Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến
tích lừng danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
(QLVNCH) phải trả, là những đồng đội đã hi sinh, những
đồng đội khác đã để lại một phần thân thể
trên khắp miền đất nước, và hệ lụy dài lâu
là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những người vợ vĩnh viễn xa
chồng! Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc, là
sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi
công. Nhưng, hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm
hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên
đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại
có trách nhiệm trang bị cho các con một
hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự hi
sinh không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm nơi
chiến trường, rất xứng đáng được kính trọng.
Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở
nhà quán xuyến công việc gia đình mà
công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc chưa
kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc
các con, chăm sóc tình thân gia đình
quyến thuộc, chăm sóc tình bạn bè bằng hữu. Để
rồi, những giờ phút yên tỉnh về đêm khi các
con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng nơi chốn
xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với bao khắc khoải
lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn
ngào uất hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối
cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Sau lời tuyên bố của vị
Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng
bào, quân nhân, viên chức, cán bộ, bỏ
của chạy lấy người, tị nạn trên đất Mỹ. Với những thành
phần tương tự như vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200
trại tù trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15
năm, thậm chí 17 năm ròng rã, do lòng
thù hận tột cùng của nhóm lãnh đạo cộng sản
Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di tản ra ngoại quốc,
cũng như hằng chục triệu gia đình còn lại trên
quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng vì cuộc sống
trên đất người với biết bao xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ
mà bước đầu chưa thể hội nhập. Hụt hẫng vì phút
chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ độc tài
trên toàn cõi nước Việt Nam!
Cảnh đời thứ nhất. Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng
con cháu có cơ hội bên nhau, cùng chia xẻ
khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận
chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong thân
phận lưu vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra
và trưởng thành trong xã hội nông nghiệp,
nay phải cùng chồng từng bước hội nhập vào xã hội
kỹ nghệ nơi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến
xe công cộng về nhà trong màn tuyết lạnh sau những
giờ nhọc nhằn nơi hãng xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt
nước lăn trên má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa
tan!
Cảnh đời thứ hai. Trong xã hội mà kẻ
thắng trận đầy lòng thù hận, thì gia đình
ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ
đau, của nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt
miệng! Cái chế độ mà những người lãnh đạo
luôn miệng huênh hoang là “dân chủ gấp trăm
lần dân chủ tư bản”, lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ
hãi triền miên với những đôi mắt rình rập
quanh năm suốt tháng!
Cảnh đời thứ ba. Riêng với những bà vợ
ở lại mà chồng đã vào tù, còn tệ hơn
nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải
đối phó với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà
đầu óc toàn đất sét và rác rưởi, chỉ
biết đàn áp để cướp đoạt. Đồng thời phải chăm lo cuộc
sống các con từng ngày, lo nuôi chồng từng
tháng!
Và những bà vợ chúng ta, hải
ngoại hay trong nước, thật sự là Những Người Đàn
Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua
nỗi đau nỗi nhục đó! Đau đến nỗi không còn nước mắt
để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than! Nếu đem so
sánh giữa hai cảnh đời trong nước với ngoài nước, thử
hỏi: “Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?” Với tôi,
không ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì
nỗi đau nào cũng có cái đau riêng của
nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục
riêng của nó! Xin những ông chồng diểm phúc,
hãy nhìn lại đôi nét về hình ảnh
Những Bà Vợ Chúng Ta trong cuộc sống khổ đau thầm lặng
đó, mà người viết được những bà vợ trong cuộc kể
lại:
Một cảnh đau thương. Một bà vợ cùng
con cầm giấy phép “gánh gạo” nuôi chồng trên
đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gở!
Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với
dòng chữ “nhà vắng chủ”. Đau đớn biết bao! Xót xa
biết dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà gục đầu
vào cửa! Bà cùng gia đình định cư tại
Houston, Texas từ tháng 4 năm 1991.
Một cảnh đau thương khác. Một bà vợ
đã bao nhiêu lần bị công an Phường ra lệnh đi khu
kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng
hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo
ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng
vậy, và ròng rã 6 tháng như vậy. Một
hôm, chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải quyết. Khi
chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong
vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà.
“Ôi! Còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau này
trong cảnh đời thua trận!” Bà xiêu vẹo trên đường về
nhà cách đó mấy dãy nhà liên
kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và gục ngã ngay trước
nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng
bắc California từ năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào
năm 2003.
Một cảnh đau thương khác nữa. Một bà
vợ có chồng bị giam trên đất Bắc hằng chục năm trời, bỗng
dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ quan tại
Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng
hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá
sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc
bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi
ngã dần xuống…… Bà bị tai biến mạch máu
não, nằm bất động một chỗ.
Nhiều tháng sau đó, bất ngờ, người
nhà của bà nhận được giấy cho phép bà thăm
chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số
(khám Chí Hòa). Bạn bè khiêng
bà đến nhà tù. Cả hai “chồng đứng đó vợ
liệt toàn thân”, chỉ biết nhìn nhau, òa
khóc…! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời!
Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao
quanh hai con người đau khổ đó? Không. Không chỉ
có vậy. Mà là tất cả những bà vợ có
chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh
đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất
nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình
trạng bại liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại
Houston, nhưng rồi Bà đã từ trần năm 2004!
Sài Gòn-Hà Nội 1.736 cây
số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3
đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên
xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân
viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên
xe lửa. Hành lý ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa
xe. Ban ngày cũng phải lách từng bước chân
vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó
mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai
băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu
trên của hai băng 6 người, máng được 3 cái
võng cho 3 người, 1 người nằm co quắp trên sàn xe
đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người
còn lại cũng nằm co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn
toàn cảnh của toa xe sẽ thấy, băng ngồi đầy người nằm, những
chiếc võng bé xíu che kín trên đầu
băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng đầy người nằm chen lẫn
trong đống hành lý thật hổn độn. Những bà vợ thăm
chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết bao là nhọc
nhằn gian khổ! Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến những
hành khách nằm cong queo trong cái gọi là
chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy
ấp tình thương trên sàn xe nhớp nhúa
đó, là những bà vợ của mình, liệu có
cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại,
ông chồng nào cũng đớn đau thương cảm cho tình cảnh
những bà vợ quanh năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng
không có đớn đau thương cảm nào có thể đem
cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn
tình vẹn nghĩa như vậy được cả!
Tôi hình dung những bà vợ
chúng ta qua hình ảnh trên đây mà
chính tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung
cùng với 90 “bạn đồng tù”, từ Nam Định về Sài
Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi tháng 9
năm 1987.
Trên đây là một cố gắng dựng lại
hình ảnh “Những Bà Vợ Chúng Ta”, nếu không
rõ nét thì ít ra cũng là những
nét chính của hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn hợp
phần sau đây:
Hai hợp phần trong chiến tranh, là những
bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những
bà vợ mà chồng đang chiến đấu.
Hai hợp phần sau chiến tranh, là những
bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những
bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội
đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những
trại tập trung nghiệt ngã!
Những cảnh đời bi thương, những khổ đau sầu muộn,
những nước mắt, mồ hôi, được khơi lên từ những góc
cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh đời như vậy, mà Những
Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong những năm
dài thật dài!
Quyển Chân Trời Dâu Bể của Giao Chỉ, kể chuyện trên
đất Mỹ, và quyển Giữa Dòng Nghịch Lũ của Duy Năng, kể
chuyện trên quê hương Việt Nam. Hai tác phẩm
này trong một mức độ nào đó, có thể xem
là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng
chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao
xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau
ngày thua trận, dù sống trong hai xã hội
cách nhau nửa vòng trái đất. Với tác phẩm
của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng
Hà. Bà là một trong số hằng trăm ngàn
bà vợ thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết,
bà nói:
“… Các anh trong tù, khổ về vật chất
và đau về tinh thần đến vạn lần, điều đó chúng
tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của
các anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của
các anh nữa, các anh có biết không?
Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà
tôi đề cao tất cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong
các trại tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng
vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng
được các anh kính trọng. Và Họ, chính
là Vợ của các Anh”.
Vì vậy mà một số bạn đồng tù
chúng tôi trong trại tập trung, đã không
quá lời khi nói với nhau rằng: “Ra tù,
chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng
quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức
chịu đựng biết bao nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các
con và nuôi chúng mình.
Bây giờ nhìn lại, trong một ý
nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính
trị chúng ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng
trái đất rồi. Đến ngày Việt Nam thật sự tự do dân
chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là
trọn vòng trái đất như đã tự hứa, phải không
quí vị?
Với nét chân dung đó, tôi
quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất xứng đáng
được vinh danh. Và nếu quí đồng đội và quí
vị đồng hương đồng ý với tôi, chúng ta cùng
nói to lên rằng:
“Chúng ta cùng vinh danh Những
Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà
cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong
hoàn cảnh nghiệt ngã của chế độ độc tài cộng sản,
nhưng đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam,
cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ,
và tròn bổn phận làm Con”.
Vinh danh bằng những tiếng nói ân
tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật
đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Điều đó
luôn nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường ngày,
phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm
thông vợ mình nhiều hơn, rồi quàng tay vào
lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau đi suốt chiều
dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng,
như chưa bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý
do gì đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn
hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào
mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao tặng vợ khi
đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ
giúp bạn có được những giây phút sống lại
những năm tháng mặn nồng trong tình yêu vợ chồng
thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người dùng chung
một tên.
***
Phụ bản D
Nhận xét của
một số độc giả
Nhà văn Giao Chỉ, San Jose: Tôi đọc
một đêm hết cuốn sách. Lôi cuốn lắm. Anh nhớ
khá nhiều chi tiết và viết rất tự chế mà lẽ ra
còn phê bình hơn thế nữa.
Văn Học Giai Phẩm số Xuân 1995, Nam
California: Tác giả là một nhân chứng đáng
tin cậy của những biến chuyển hậu trường chính trị miền Nam.
Bằng trí nhớ, tác giả kể lại những chuyện tai nghe mắt
thấy trong đời quân ngũ của mình, và kể một
cách dung dị, chân thành, không đề cao
mình cũng không bôi nhọ người khác. Đây
là một chứng liệu tốt cho những người muốn viết sử Việt Nam.
Thế Kỷ 21 số Xuân 1995, Nam California:
Đôi Dòng Ghi Nhớ, văn không luộm thuộm như
tác giả tự khiêm. Ông nói thẳng vào sự
kiện, không rào đón, không kỹ thuật, cũng
không trau chuốt lời văn của mình, nhưng đó
chính là văn phong của ông mà tôi nghĩ
ông có được là nhờ vài chục năm trong
quân đội với những văn thư lời lẽ xuông đuột thẳng tắp như
lính so hàng.
Đài phát thanh VOVN/Houston, Texas:
Sở dĩ chúng tôi chọn đọc quyển Đôi Dòng Ghi
Nhớ trong chương trình Lật Trang Sử Cũ, vì tác giả
không hoạt động chính trị mà ông là
một quân nhân nhà nghề, Do đó, chúng
tôi hy vọng lời thuật của ông sẽ khách quan hơn
những cuốn hồi ký đã phát hành tại hải
ngoại.
Giai Phẩm Quốc Dân số Xuân 1995,
Houston, Texas: Từng giữ nhiều chức vụ chánh văn phòng
của nhiều nhân vật cao cấp, tác giả cung cấp khá
nhiều chi tiết phía sau sân khấu chính trị miền Nam.
Giáo sư Đàm Quang Hưng, Houston,
Texas: Tác giả rất khách quan nên mức độ trung thực
đáng được tin cậy. Lời văn nhẹ nhàng như hơi thở.
Ông không đề cao mình, cũng không chỉ
trích người khác.
Luật sư Ngô Hữu Liễn, Houston, Texas: Sự kiện
rất thực và lời văn cũng rất thực. Rất cần thiết với các
sử gia.
Cựu Trung Tá Bùi Công inh,
Washington DC: Tác giả rất khiêm nhường. Lời văn trong
sáng và chân thực. Tài liệu lịch sử rất
quý.
Nhà báo Vương Mai Thảo, Houston,
Texas: Tác giả cống hiến rất nhiều dữ kiện cho những nhà
viết sử.
Cựu Đại Tá Huỳnh Thanh Sơn, Pasadena,
California: Một cuốn sách sống thật với tài liệu lịch sử
mà không ai có được.
Cựu Đại Tá Bùi Văn Mạnh, Frankfurt,
Đức Quốc: Rất hoan nghênh việc làm của anh. Phải
nói thẳng như vậy mới thật sự góp phần làm
sáng tỏ khả năng, bản lãnh, và trách nhiệm
của những nhân vật lãnh đạo đất nước.
Nhà báo Phạm Hậu, Seattle, tiểu bang
Washington: Xem văn biết người. Anh viết rất thành thật,
công bằng, và tâm huyết. Anh là người nhớ
được nhiều điều quan trọng và là người nhiệt tình
với đất nước. Tôi thích nhất là đoạn so sánh
giữa 5 vị Tổng Tham Mưu Trưởng, vì rất khách quan.
Nhà báo Yên Mô, San Jose,
Bắc California: Tác giả là một trong các sĩ quan
đã ở lại làm việc đến giờ phút cuối cùng
của tháng 4/1975. Ông có cơ hội làm việc
thân cận với các Tướng Lãnh, có khả năng
tham mưu và hành chánh, với một trí nhớ rất
tốt, và là một sĩ quan tham mưu cao cấp đầy tinh thần
trách nhiệm.
Ông Nguyễn Năng Thỏa, Virginia. Tuổi trẻ rất
cần những cuốn sách như cuốn Đôi Dòng Ghi Nhớ của
ông Phạm Bá Hoa.
Kỹ sư Lê Thành Nhân, Austin,
Teaxs. Tôi đọc liên tục từ đầu đến cuối một cách
thích thú. Anh kể chuyện như thật với lời văn chân
thành và tin tưởng. Cuốn sách có
tính cách nhật ký nhưng là một sử liệu
vô cùng quí giá.
Giáo sư Ngô Quốc Tượng, Nam
California: Anh kể chuyện với tâm hồn trong sáng, với lời
lẽ mộc mạc, càng đọc càng thấy giá trị của cuốn
sách.
Cựu Đại Tá Nguyễn Hồng Đài, Paris,
Pháp quốc (con rể của cựu Tổng Thống Dương Văn Minh): Tôi
đã xem nhiều cuốn hồi ký xuất bản tại hải ngoại,
và tôi vắn tắt với Anh rằng: Anh là người cầm
bút liêm sỉ nhất.
Nhà văn Đặng Trần Huân, Nam
California: Tác giả Đôi Dòng Ghi Nhớ khá
thành thật. Ông không khoe khoang, không
phô trương, khá nhũn nhặn, và dè dặt trong
phán xét. Hiếm có một cuốn sách như vậy.
Đây là cuốn sách đáng đọc.
Cựu Đốc sự hành chánh Nguyễn Văn
Cường, Oklahoma: Cuốn sách xứng đáng được trân
trọng trong mỗi gia đình tị nạn. Tôi mua nhiều cuốn tặng
bạn bè sau khi xem bài nhận xét của nhà văn
Đặng Trần Huân.
Tiến sĩ Lê Duy Cấn, Ottawa, Canada:
Tác phẩm Đôi Dòng Ghi Nhớ đã đóng
góp đáng kể vào việc làm sáng tỏ một
cách trung thực trong một giai đoạn lịch sử đầy biến cố của nước
nhà.
Bác sĩ Tôn Thất Sơn, Na Uy: Đọc xong
bài hồi ký Rút Quân Trên Đường Số 7,
tim tôi muốn chảy máu, mắt tôi mờ đi với chút
nước mắt còn sót lại . . .
Nhà văn Diệu Tần, Văn Bút Việt Nam
Hải Ngoại, San Jose: Đây là chiến sử và là
sử liệu quí giá. Cám ơn Anh.
Bác Sĩ Nguyễn Phước Bảo Quý,
Australia: Tài liệu có tính cách lịch sử
mà tuổi trẻ rất cần.
Dược sĩ Hồ Duy Thiện (không rõ ở
đâu) Tôi đọc say sưa và đã đọc lại nhiều để
thấu hiểu một số dữ kiện. Đây là tập tài liệu
vô cùng quí giá cho những lớp người đi sau
như chúng tôi. Khác với lời lẽ rất khiêm
nhường, tôi tin rằng tài liệu này còn
quí giá hơn những sử liệu hay sách vở xuất bản từ
sau ngày 1/11/1963.
***
Phụ bản E
Tác giả
Phạm Bá Hoa, sinh năm 1930 tại làng
Đại Ngãi, quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Nhập ngũ
ngày 12 tháng 5 năm 1954 vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị
Thủ Đức, thuộc tài nguyên sĩ quan trừ bị khóa 5.
Vì không đủ cơ sở, được gởi lên học Trường Võ
Bị Liên Quân/Đà Lạt. Trở về Thủ Đức dự lễ tốt nghiệp
khóa Vì Dân cuối tháng 1 năm 1955, với cấp
bậc Thiếu Úy.
Lần lượt giữ các chức vụ:
- Trung Đội Trưởng, rồi Đại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn 510 Khinh
Quân.
- Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 35,
Sư Đoàn 12 Khinh Chiến.
- Trưởng Ban 3 Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 35, Sư Đoàn 12 Khinh
Chiến.
- Trưởng Ban Hành Quân, rồi Phó Phòng 3/ Sư
Đoàn 21 Bộ Binh.
- Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
- Chánh văn phòng Tư Lệnh Quân Đoàn 3.
- Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên
Quân/Bộ Tổng Tham Mưu.
- Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng.
- Chánh Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.
- Tỉnh Trưởng/Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ).
- Chánh Sở Kế Hoạch/Tổng Cục Tiếp Vận.
- Chỉ Huy Phó Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận.
- Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.
- Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.
Thăng cấp:
- Đại Úy, tháng 11 năm 1961.
- Thiếu Tá, tháng 11 năm 1963.
- Trung Tá, tháng 12 năm 1965.
- Đại Tá, tháng 9 năm 1969.
Theo học:
- Khóa Đại Đội Trưởng, chi nhánh Trường Võ Bị
Liên Quân Đà Lạt 1956.
- Khóa Tham Mưu, Trường Đại Học Quân Sự/Sài
Gòn 1960.
- Khóa Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp, Trường Chỉ Huy & Tham
Mưu Đà Lạt 1970.
Tham dự các
khóa hội thảo:
- Tiếp Vận Miền Tây Thái Bình Dương 1971, Okinawa,
Nhật Bản.
- Quản Trị Quốc Phòng 1971, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng,
Sài Gòn.
- Phát Triển Quốc Gia 1973, Trường Cao Đẳng Quốc Phòng,
Sài Gòn.
Công du:
- Nhật Bản & Đại Hàn 1963, Thái Lan 1966, Đài
Loan 1970, Okinawa 1971, Singapore 1973.
Tù
chính trị:
- Từ tháng 6 năm 1975 đến tháng 9 năm 1987, trong
các trại tù Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp
tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng
Liên Sơn, và Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh.
- Định cư tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ, trong
đợt HO 5 năm 1991.
Sinh hoạt Cộng
Đồng:
- Tham gia Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức tại Houston
từ năm 1995 đến năm 2000.
- Tham gia Tổng Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Hải
Ngoại: Nhiệm kỳ 1 (2000-2002) họp tại Houston, Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ 2
(2002-2004) họp tại Toronto, Canada. Nhiệm kỳ 3 (2004-2006) họp tại
Brisbane, Australia. Và nhiệm kỳ 4 (2006-2008) họp tại San Jose,
Hoa Kỳ.
- Tham gia nhóm phát thưởng học sinh giỏi từ lớp 5 đến
lớp 12 từ năm học 1997-1998 đến năm học 2002-2003.
- Tham gia ban phát thanh Phật Giáo/Houston từ
tháng 4 năm 1998 đến hết tháng 1 năm 2008, trong thời
gian đó đã đọc trên làn sóng
đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam (VOVN) 86
bài của các tác giả viết về Phật Giáo trong
đời sống.
- Phụ trách chương trình thời sự “Những Vấn Đề Hôm
Nay” trên làn sóng đài TNT/Houston từ
tháng 9 năm 2001 đến cuối tháng 1 năm 2006, đã
viết và đọc 349 bài với nội dung hỗ trợ công cuộc
dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê
hương Việt Nam.
- Tham gia sinh hoạt trên NET từ năm 2003 với những bài
viết về lập trường chính trị hỗ trợ công cuộc dân
chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt
Nam.
- Tham gia hội Ái Hữu Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc
tại Houston, từ năm 2005.
Tác phẩm
đã ấn hành:
- “Đôi Dòng Ghi Nhớ”, hồi ký
chính trị Việt Nam Cộng Hòa 1963-1975. Nhà xuất
bản Ngày Nay ấn hành lần 1 năm 1994, lần hai năm 1995,
lần 3 năm 1998, và lần 4 năm 2007. Dày 386 trang.
- “Ký Sự Trong Tù”, tâm sự
và nhận thức của Một Tù Nhân Chính Trị trong
các trại tập trung Long Giao tỉnh Long Khánh, Tam Hiệp
tỉnh Biên Hòa, Yên Bái tỉnh Hoàng
Liên Sơn, Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh, từ tháng
6 năm 1975 đến tháng 9 năm 1987, và trong thời gian ở
Sài Gòn chờ xuất ngoại. Dày 430 trang.
Tác phẩm đang xin
số lưu trữ:
- “Tôi là Một H.O.”, tâm sự của
Một H.O. và sự đóng góp nhỏ nhoi vào sinh
hoạt Cộng Đồng tị nạn cộng sản từ năm 1991 đến năm 2008. Dày 490
trang.
- “Quê Hương & Quân Ngũ”, tâm
sự Một Quân Nhân gắn liền với quê hương &
quân ngũ trong giai đoạn chiến tranh giữ nước từ năm 1954 đến năm
1975. Dày 345 trang.
Tình trạng
gia đình đến đầu năm 2008:
- Vợ và năm con đều lập gia đình, với chín
cháu Nội Ngoại.
- Vừa kỷ niệm 50 năm hôn lễ.
Nhà xuất bản Ngày Nay ấn
hành lần 4 vào tháng 7 năm 2007
Houston, tháng
3 năm 2009
Phạm Bá Hoa
|