(*).LTG:
Bài này rút ra từ Phần II, “The
End of An Era” [Ðoạn Kết của Một Thời Ðại], của
Luận án
Tiến sĩ [Ph.D.] sử học
“Political and Social Change in Viet Nam between
1940 and 1946” đệ
trình tại
Ðại học Wisconsin-Madison vào tháng 12/1984,
dưới sự
hướng dẫn của cố Giảng sư
John R. W. Smail; và đã in trên Journal of Asian
Studies [Tạp chí Nghiên Cứu Á
Châu] vào tháng 2/1986, XLV: 2, pp. 293-328,
với
tựa
“The Other Side of the 1945
Vietnamese Revolution: The Empire of Viet-Nam
(March-August 1945).” Phần
tư thế kỷ sau, nhân sinh nhật thứ
68, và kỷ niệm 65 năm cách mạng 1945, hiệu đính
lại hầu phổ biến rộng rãi hơn
trong giới trẻ Việt muốn đi tìm sự thực lịch sử.
Tác giả
muốn bày tỏ sự tri ơn
với Giảng sư Daniel F. Doeppers, Hội đồng học bổng
Fulbright Bộ Ngoại
Giao Mỹ,
các nhân viên liên hệ tại Việt Nam,
cùng sự trợ giúp của cơ quan đối tác Ðại
Học Khoa Học Nhân Văn thành phố HCM, và nhiều học
giả, nhân viên ba trung tâm lưu
trữ quốc gia tại Hà Nội và Sài Gòn,
cùng các thân hữu trong chuyến du khảo năm
2004-2005.
Cần
nhấn mạnh, là người nghiên cứu sử
chuyên nghiệp, những thông tin của tôi đều dựa
trên những tư liệu khả tín sau
30 năm làm việc tại các văn khố nhiều nước. Chủ
đích của tôi chỉ nhằm trả lại
sự thực cho lịch sử. Ðiều này dĩ nhiên không
làm hài lòng mọi phe phái chuyên
nghề cung văn và đào mộ, mà thế giới gọi là
“mọi rợ văn hoá.” Những nhận xét
bâng quơ như tôi “đề cao” chính phủ Trần Trọng Kim
hay “hạ giá trị” Hồ Chí
Minh, cần chứng minh bằng tài liệu rằng những
thông tin
và diễn giải tôi đưa ra
sai lầm, không có chỗ y cứ (như Trần Trọng Kim
được đặc
cách vào trường Thuộc
Ðịa trong khi Nguyễn Sinh Côn bị từ chối, do tôi
công bố lần đầu tiên trong
thập niên 1980; hay thân phận nhược tiểu của Việt
Nam trong
thế giới luật kẻ
mạnh). Nhận xét “không hề có cuộc cách mạng
từ bên trên” tại Việt Nam từ ngày
9-10/3/1945 sai lầm, thiếu hiểu biết về lý thuyết
cách
mạng một cách trung
dung, và có thể chỉ do ảnh hưởng của thuyết
Marxist-Leninism Trung Cổ hiện đã
bị đào thải ở “thành đồng Liên Sô” và
Tây Âu. [Xem infra]
Những
xuyên tạc lịch sử, theo tôi, là
tội lỗi hàng đầu với hậu thế. Ðây phải là
khuôn vàng thước ngọc của người trí
thức. Những sử gia chân chính ít nữa phải giữ được
sự trung thực của Vũ Quỳnh
khi chép việc Trường Lạc Hoàng hậu dùng thuốc độc
để bôi lên vết lở của Nho vương
Lê Thánh Tông (1460-1497) cho vua mau chết. [“Tiếc
rằng vua nhiều phi tần quá,
nên mắc bệnh nặng. Trường Lạc hoàng hậu bị giam ở
cung
khác, đến khi vua ốm
nặng mới được vời đến hầu bệnh, bèn ngầm dấu thuốc
độc trong tay
mà sờ vào chỗ
lở, bệnh vua do vậy mới thêm nặng;”ÐVSKTT, BKTL,
XIII:79,
Hoàng Văn Lâu (2009),
2:649]. Hơn nữa, cũng cần nói đến khả năng đọc và
hiểu–sinh ngữ tôi dùng viết
luận án là Anh ngữ. Những hiểu lầm có thể xảy ra
từ phía người đọc hoặc trích
dẫn.
Nên
nhớ rằng tư liệu văn khố không chỉ
có những thông tin mà các học giả
trích dẫn. Không được đọc nguyên bản, tốt
nhất là chỉ dịch và im lặng. Ða tạ Giáo
sư/Tiến sĩ Phạm Cao Dương và vợ chồng
Vũ Thái Dũng đã giúp tôi tiếp cận
“công trình lược dịch những nghiên cứu về
chính phủ Trần Trọng Kim” qua Việt ngữ năm 2009
nói
trên.
Giai
đoạn
ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật mở chiến
dịch Meigo chấm dứt chính quyền Bảo
hộ Pháp tại
Ðông Dương, tới ngày
21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật sụp đổ là một
trong những thời kỳ quan
trọng trong lịch sử cận đại. Trong khoảng năm [5]
tháng
này, trên bối cảnh nạn đói
Ất Dậu, rồi nạn lụt khắp sáu tỉnh đồng bằng Bắc bộ,
hai
chính phủ “độc lập” ra đời,
chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp đô hộ, và
kích động một cuộc cách mạng mà đặc điểm
là hiện tượng Việt-Nam-Hóa các
cấu
trúc xã hội. (1)
Trong
khối văn chương cổ điển—xuất hiện trước 1991—các tác
giả
chỉ chú trọng đến biến
cố gọi là “cuộc đảo chánh Nhật ngày 9/3/1945,” hay
Mặt Trận Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh
[Việt
Minh] đoạt
chính quyền, với sự yểm trợ của Sở Hành Ðộng Chiến
Lược (OSS) Mỹ, được xưng
tụng như “cách mạng Tháng Tám 1945.” Không
được
tiếp cận các tư liệu gốc, chỉ sao chép cả lỗi lầm
của
người đi trước, và đôi
khi không có một kiến thức cơ bản về xã hội Việt
Nam dưới thời Pháp thuộc, một
số tác giả tảng lờ hay tìm cách hạ giá chế
độ được phe thua trận Nhật bảo trợ,
tức “tân” Ðế quốc Việt Nam (11/3-25/8/1945). Ðó
là
chưa
kể
quan điểm
khẳng quyết [determinist] giáo điều, giành độc quyền
cách mạng hay yêu nước một
cách Trung Cổ cho một giai tầng nào đó, và
qui luật cung văn-đào mộ của các cán
bộ phụ trách tuyên truyền [agitprop]
Stalinist-Maoist. Vài trường hợp ngoại lệ là bài
của Ralph B. Smith (1978),
Masaya Shiraishi (1982), và Kiyoko Kurusu Nitz
(1983, 1984). (2)
Sử dụng văn
khố Nhật liên quan đến việc Nhật tước vũ khí quân
Pháp trong tháng 3/1945 và tờ
báo Pháp ngữ L'Opinion-Impartial
[Trung Lập] xuất bản tại Sài Gòn, Smith thuật lại
cuộc
tấn kích quân sự (với
danh hiệu Chiến dịch MEIGO) để lật đổ chính quyền
Pháp
và thành lập chính phủ
Trần Trọng Kim (17/4-25/8/1945) tại Thuận Hóa. Ðược
tham
khảo các tài liệu tương
tự, cộng thêm tài liệu Nhật và Việt ngữ,
cùng những cuộc phỏng vấn một số tác
nhân Nhật, Shiraishi ghi lại chi tiết cuộc thanh
trừng của Nhật
và bí ẩn quanh
việc Nhật lựa chọn các cộng sự viên Việt. Nitz
cũng sử
dụng nhiều tài liệu Nhật hiếm, quí. Tuy
nhiên, số lượng tư liệu văn
khố Pháp cùng những ấn phẩm định kỳ Nhật và Việt
ngữ đương thời dồi dào chưa được
khai thác kỹ lưỡng, bởi thế các tác giả chưa
tái tạo được đầy đủ giai đoạn
chuyển tiếp trên, một khúc quanh quan trọng của lịch
sử
Việt Nam.
Năm
1995, David G. Marr công bố một nghiên cứu xuất sắc
về cuộc
cách
mạng 1945, dưới tựa Vietnam 1945: The
Quest for Power [Việt Nam 1945: Ði Tìm Quyền
Lực]. Tổng
hợp nhiều nghiên cứu
cổ điển với thông tin mới từ các văn khố nhiều nước,
phỏng
vấn nhiều tác nhân
lịch sử Mỹ, Nhật, Việt và Pháp, nhưng Marr chưa sử
dụng
các thông tin hậu-chiến-tranh-lạnh
từ các văn khố Nga, Trung Hoa, Pháp và Việt Nam.(
3)
Bài
viết này trình bày đầy đủ hơn về chính phủ
Trần Trọng Kim. Trước hết, bài viết
sẽ giới thiệu một cách tổng quát Việt Nam trong giai
đoạn
kể trên làm nền tảng
cho những điều thảo luận, rồi đi sâu vào nội tình
Việt Nam, đặc biệt là những
việc làm và tầm quan trọng của chính phủ Kim.
Tôi tin rằng chính phủ Kim–trong
thời khoảng vỏn vẹn bốn [4] tháng và dưới những điều
kiện
cực kỳ khó khăn—đã
khởi xuất những bước quan trọng về hướng nền độc lập
của Việt Nam, kể
cả việc
Việt-Nam-hóa phần nào guồng máy hành
chính bảo hộ Pháp, và đã thương thảo việc
thống nhất lãnh thổ trước khi “Việt Minh đoạt chính
quyền” vào tháng 8/1945—theo
kết luận của Trường Chinh, trong xã luận “Cách Mạng
hay
đảo chính,” trên báo Cờ Giải
Phóng, “Cơ quan tuyên truyền, cổ
động trung ương của Ðảng Cộng Sản Ðông Dương” (số
16,
12/9/1945). Chính phủ Kim
đã kích động sự tham gia chính trị của đám
đông, cổ súy việc tách rời khỏi ảnh
hưởng Pháp, rồi trao cho chế độ thù nghịch và kế
vị, tức chế độ Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) của Hồ Chí Minh (1890-1969),
bí danh của Nguyễn Sinh Côn
(1892-1969), một thế hệ tuổi trẻ có tổ chức và
chính-trị-hóa—nguồn nhân lực quí
báu cho cuộc cách mạng 1945 và cuộc kháng
chiến chống Pháp kế tiếp. Chính phủ
Kim phát động cuộc cải cách giáo dục, kể cả việc
chọn Việt ngữ dựa trên mẫu tự
Latin làm quốc ngữ tại các công sở và trường
học, củng cố sự độc lập văn hóa
với cường quốc thực dân phía bắc. Nếu không khảo
sát kỹ những việc làm của
chính phủ bị lãng quên này, tôi tin
rằng người ta sẽ chỉ trình diện cuộc cách
mạng 1945 một cách phiến diện, và đồng thời đơn giản
hóa những biến cố kế tiếp đã
dẫn đến cuộc chiến tranh 30 năm (1945-1975).
Nguồn
tư liệu của chúng tôi gồm hồ sơ Tòa Quân Sự
Quốc Tế tại Viễn Ðông (Pritchard và
Zaide 1981), những tập biên khảo do cựu sĩ quan Nhật
thực hiện về
hoạt động của
Lộ quân Miền Nam (Detwiler và Burdick 1980), tài
liệu văn khố Pháp, Mỹ, cùng
các báo chí, ấn phẩm định kỳ xuất bản tại
Ðông Dương và Nhật. (4)
Một
số học giả Nhật cho rằng những chứng từ tại Toà án
quốc
tế Tokyo thiếu vô tư—một
việc khó tránh, như trường hợp cuộc thảm sát
Nanking vào tháng 12/1937—nhưng
chúng là những tư liệu đương thời quí báu,
có thể hữu ích nếu tỉ đối với các
chứng từ khác. Những tài liệu mới sử dụng thêm cho
bản hiệu đính này gồm Kho
Quốc Hội VNDCCH (TTLTQG 3, Hà Nội) và Kho Phủ Tổng
thống
cùng Kho Thủ tướng
Việt Nam Cộng Hòa [VNCH] (TTLTQG 2, TP/HCM), hồi ký
hay
nhật ký của một số Bộ
trưởng đầu tiên của chính phủ VNDCCH, đặc biệt là
Vũ Ðình Hoè, cùng những tư
liệu khác thu thập được tại Việt Nam trong chuyến du
khảo năm
2004-2005.( 5)
Tân
Ðông Dương Của Nhật
Sau
gần 54 tháng sử dụng chính quyền Pháp thân
Vichy ở Ðông Dương như một công cụ
hành chính—hoặc cổ đông viên thứ hạng [junior
partner], nếu muốn—để khai thác
tối đa phần đóng góp của Ðông Dương vào
cuộc chiến Ðại Dông Á, ngày
9-10/3/1945, người Nhật chấm dứt cuộc hợp tác lưỡng
lợi
này. (Vũ Ngự
Chiêu,1984:chương 2, 5) Lúc 19G00 tối 9/3, Ðại sứ
Matsumoto Shunichi trao cho
Toàn quyền Jean Decoux (1940-1945) một tối hậu thư,
đòi
kiểm soát trực tiếp
Ðông Dương, tước bỏ vũ khí của quân đội
và cảnh sát Pháp, với thời hạn hai [2]
giờ phải trả lời. Sau khi tối-hậu-thư vừa hết hạn,
khước từ lời xin
tiếp tục thương
thuyết, các tư lệnh Nhật tấn công mọi công sở
và doanh trại Pháp từ nam chí
bắc. Chưa đầy 48 tiếng đồng hồ, người Nhật hoàn toàn
làm chủ tình hình; Decoux,
những cộng sự viên, và hầu hết các tướng
Pháp—kể cả Eugène Mordant (bí danh
Narcisse), Tổng đại biểu của chính phủ lâm thời
Charles de
Gaulle—bị bắt giữ.
Một số nhỏ quân nhân ở Khu Quản đạo thứ 2 (Cao Bằng)
và ít tàu thủy cùng thuyền
buồm của Hải quân Bắc Kỳ thoát được qua Hoa Nam.
Quan
trọng nhất là khoảng
5,000 quân thuộc Sư đoàn Bắc Kỳ của Tướng Gabriel
Sabattier và Lê-dương ở Sơn
Tây của Marcel Alessandri, thoát khỏi cuộc tổng tấn
công, rút lên rừng núi Lai
Châu và Phong Saly gần biên giới Việt-Hoa. Nhưng
ngày 2-6/5/1945, toàn bộ quân
Pháp rút chạy qua Vân Nam, và Ðông
Dương bước vào một kỷ nguyên mới do Nhật trù
liệu. (6)
Nước
Nhật nhắm hai [2] mục tiêu khi quyết định thanh
trừng
chính quyền Decoux: Thứ
nhất, để trung lập hóa quân đội Pháp, cảnh
sát võ trang, và các cán bộ theo phe
de Gaulle mà sự hiện diện tại Ðông Dương sẽ tạo cho
Nhật nhiều trở ngại nếu
Ðồng Minh đổ bộ lục địa Ðông Á, một điều được
tiên đoán rộng rãi sau khi Bộ Tư
lệnh Lộ quân miền Nam di tản từ Manila về Ðà Lạt.
Thứ
hai, và quan trọng hơn,
là tăng cường phòng thủ Ðông Dương (và
Thái Lan) bằng cách trực tiếp kiểm soát
toàn bán đảo, đồng thời kêu gọi dân
Ðông Dương yểm trợ qua kế hoạch cho họ một
nền độc lập có điều kiện. (SHAT
(Vincennes),10Hxxx; IMTFE, Exhibit 661 (3:7,168).
Sự
thay đổi quan trọng nhất là việc thay các viên chức
cao cấp trong chính phủ
liên bang tại Hà Nội và năm [5] chính quyền
bản xứ tại Căm Bốt [Kampuchea],
Lào, Bắc, Trung và Nam Kỳ. Ngày 16/3/1945, Tướng
Tsuchihashi Yuitsui, Tư lệnh Quân
đoàn 38, tức Quân đoàn đồn trú ở
Ðông Dương, trở thành Toàn quyền Nhật thứ
nhất, và duy nhất. Ít lâu sau, qua tháng
5/1945, Tsuchihashi dời Tổng hành dinh
từ Sài Gòn ra Hà Nội. Ðại sứ Matsumoto trở
thành Cố vấn chính trị của Toàn
quyền; và sau đó Tsukamoto Takeshi lên thay, nhưng
chỉ mang tước hiệu Tổng thư
ký (thường được người Việt gọi tôn lên là
Phó Toàn quyền). Các viên chức Nhật
trực tiếp điều khiển mọi nha sở liên bang, đặc biệt
là
cảnh sát, tư pháp, tài
chính, kinh tế, thanh niên và thể thao, và
thông tin. Trong khi đó, Nam Kỳ có
một Thống Ðốc, Minoda Fujio, cựu Tổng lãnh sự Sài
Gòn. Bắc Kỳ được một Quyền
Thống Sứ, Nishimura Kumao, cho tới thượng tuần tháng
5/1945, khi
sát nhập vào
“tân” Ðế quốc Việt Nam của Hoàng đế Bảo Ðại.
An-Nam, Căm Bốt và Lào độc lập đều
có một Cố vấn Tối cao hay Ðại sứ. (L'Action, 19/3 & 20/4/1945).
Ngoại
trừ những cuộc hành quân tảo thanh—để truy lùng
cảnh sát thân chế độ Vichy và
gián điệp phe de Gaulle đã xâm nhập Lào
và duyên hải Bắc Bộ dưới sự bảo trợ của
cơ quan tình báo chiến lược Mỹ [OSS] hoặc
Bri-tên—cộng đồng Pháp kiều được đối đãi
khá tử tế. Các viên chức hạng thấp và
chuyên viên Pháp được phép tiếp tục
làm
việc. Thường dân Pháp mất ưu quyền của giai tầng
thống
trị, chịu một số biện
pháp chế tài trong thời chiến như tịch thu vũ khí,
máy thu thanh, chụp hình và
máy đánh chữ, kiểm soát việc di chuyển và
hội họp, và chỉ định cư trú. Với phần
đông Pháp kiều, đời sống trở lại bình thường.
Ngày 15/3, Ngân Hàng Ðông Dương
mở cửa trở lại. Báo tiếng Pháp tục bản ở Sài
Gòn và Hà Nội, tức hai tờ L'Opinion-Impartial
[Trung Lập] và L'Action [Hành
Ðộng]. Dù luận điệu hai
báo trên thân Nhật, sự có mặt của
chúng giúp minh bạch hóa chính sách
của Nhật
trước hệ thống tuyên truyền của Ðồng Minh hay những
lời đồn
đãi vô căn—một đặc
tính khó trộn lẫn của người Pháp cũng như Việt.
Trường hợp bị dời chỗ ở, mỗi
gia đình (hộ) được phép mang theo
một
người làm. Chính quyền Nhật cũng bảo đảm sự an
toàn của thường dân Pháp.
Với
dân Ðông Dương, Tsuchihashi quyết định cải hóa
càng nhiều cựu cộng sự viên với
Pháp càng tốt. Vua Bảo Ðại của An-Nam, Norodom
Sihanouk của Căm Bốt, và
Srisavang-vong của Lào đều được khuyến khích tuyên
bố độc lập, và nhìn nhận
Tuyên Cáo Chung của các nước Ðại Ðông
Á. (L'Action, 19/3 & 15/4/1945). Thuộc
hạ của họ, ngoại trừ những người mất lòng dân chúng
và có lập trường thân Pháp,
đều được giữ nguyên vị. Một số người được đưa lên
những
chức vụ cao hơn trước
kia dành riêng cho Pháp kiều. (L’Action,
31/3/1945)
Tại
Huế, theo người viết hồi ký cho Bảo Ðại, sau khi yêu
cầu vợ chồng Bảo Ðại bỏ dở
chuyến đi săn ở phía bắc Quảng Trị đêm 8/3 và hộ
tống nhà vua trở lại Hoàng
thành vì lý do an ninh, sáng 11/3 Cố Vấn
Tối Cao Yokoyama Masayuki—cựu Giám đốc
Văn Hóa, nói thạo tiếng Pháp—đến thăm Bảo Ðại
và, trái với nỗi lo ngại của
Nhật, thuyết phục được vua hợp tác. Mối lo sợ trên
chẳng
phải thiếu căn cứ. Sau
này, Khâm sứ Vatican là Giám mục Antonin
Drapier tiết lộ với Linh mục/Cao Ủy
Georges Thierry d’Argenlieu rằng thượng tuần tháng
3/1945 Bảo
Ðại đã nhờ ông ta
liên lạc với phe “Pháp tự do”. Drapier cũng tin rằng
vợ
chồng Bảo Ðại thân Pháp
bậc nhất ở Việt Nam. (7) Chiều
Chủ Nhật,
11/3/1945, Bảo Ðại họp nội các, và ai nấy đều ủng hộ
tuyên cáo độc lập với
Pháp.
Nhưng
cựu Ngự tiền đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hoè nhớ
lại rằng Yokoyama cùng Phạm
Quỳnh (1892-1945), Cơ Mật Viện trưởng kiêm giữ bộ
Lại, đã
gặp Bảo Ðại trước đó
một ngày, tức khoảng 10 giờ sáng ngày 10/3. Buổi
chiều, Quỳnh gọi điện thoại
triệu tập họp Cơ Mật vào sáng hôm sau, nhưng
không thông báo với Hoè. 8 giờ
sáng Chủ Nhật, 11/3, Bảo Ðại họp với sáu [6] thượng
thư tại điện Kiến Trung.
Quỳnh được lệnh thông báo về chuyến viếng thăm chiều
Thứ
Bảy của Cố vấn Tối cao
Nhật, rồi tuyên bố mục đích của phiên họp Cơ Mật
Viện nhằm tuyên bố độc lập với
Pháp. Cả nội các đều tán
thành. Bùi Bằng
Ðoàn (bộ Hình) đề nghị phải tuyên bố hủy bỏ
các hiệp ước với Pháp. Quỳnh cho
biết đã soạn sẵn dự thảo, và chuyển cho mọi người
đọc.
Vừa đọc dự thảo này, Hồ
Ðắc Khải (Hộ) và Trương Như Ðính (Công) vừa
tấm tắc khen hay. Ưng Úy (Lễ), Trần
Thanh Ðạt (Học) không có ý kiến gì
thêm. Bảo Ðại sai Hoè mang bản thảo Tuyên
Ngôn Ðộc Lập ra ngoài hoàn tất thủ tục. Sau khi
Bảo Ðại và các thượng thư ký
xong, Ưng Úy (Lễ) đề nghị ngày 14/3 tiến hành lễ
báo cáo độc lập với Liệt
Thánh. (Phạm Khắc Hoè, 1987:14, 17-8)
Bản
tuyên cáo độc lập ngày 11/3 có những điểm
đáng chú ý đặc biệt. Trước hết, dù vô
tình hay cố ý, nó chỉ nói đến An
Nam—một
thuật ngữ có thể diễn dịch như An Nam (Trung Kỳ, từ
Thanh
Hóa vào Bình Thuận),
hay vương quốc Ðại Nam (gồm cả ba kỳ). Thứ hai, bản
tuyên
cáo chỉ hủy bỏ hòa ước
6/6/1884 về việc “bảo hộ” Trung và Bắc Kỳ, mà không
đả động gì đến các hòa ước
5/6/1862 và 15/3/1874 xác định nhượng đứt Nam Kỳ,
hay
các qui ước 1887 và 1896
liên quan đến các nhượng địa Hà Nội, Hải
Phòng và Ðà Nẵng (Tourane). Thêm nữa,
bản tuyên cáo độc lập với Pháp của Bảo Ðại
kèm theo lời tuyên bố phụ thuộc vào
Nhật, hứa hẹn “Hợp tác toàn diện với Ðế
quốc Nhật trong niềm tin thành khẩn vào thiện ý
của Nhật.” (8)
Như
thế vai trò Bảo Ðại, trong kế hoạch sơ khởi của
Nhật, cũng
tương tự vai trò dưới
thời Pháp thuộc—vua chỉ là vòng hoa vương giả
không chút thực quyền ngoài “văn
phòng phụ thuộc nhỏ” của Dinh Cố vấn Tối Cao. (9)
Mãi tới
giữa tháng 5/1945,
sau khi tái lập chức Khâm sai Bắc Kỳ theo ý phe
đảng Khôi-Diệm, Tsuchihashi mới
ghé Huế thăm Bảo Ðại, mang theo tân Khâm sai
Phan Kế Toại. (L’Action, 18/5/1945. Shiraishi ghi
ngày
11/6/1945)
Hôm
sau, ngày 12/3, Bảo Ðại sai
Hoè thảo Dụ cử Quỳnh làm
đại diện liên lạc với Nhật. Hoè tìm cách
dèm xiểm Quỳnh là “người xấu, bị mọi
tầng lớp nhân dân oán ghét và giới
nhân sĩ, trí thức khinh bỉ,” nhưng Bảo Ðại
vẫn cho lệnh thi hành. Hoè bèn thảo một “Chỉ”
[lệnh ở hàng thấp nhất, dưới Dụ
và Sắc], rồi âm mưu cùng nhóm “Nghệ An đồng
châu phổ” làm một cuộc đảo chính
cung đình, loại Quỳnh. (Bao
Dai, 1980:101;
Phạm Khắc Hoè, 1987:14-9).
Ðể tạo
một kích xúc tâm
lý, ngày
17/3 Bảo Ðại ra tuyên cáo (Dụ số 1) là sẽ trực
tiếp cầm quyền, trên nguyên tắc “Dân vi
quí” —một lời dạy của Mạnh Kha.
(10) Theo Hoè, có thể Phụ Ðạo Lê Nhữ Lâm
hay Yokoyama đã mớm ý cho Bảo Ðại học
thuyết “Dân Vi Quí, Xã tắc thứ chi, quân vi
khinh” mà nhiều nho gia “tiến bộ”
như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường yêu thích.
Hoè còn
tự nhận công lao trong việc
từ chức tập thể của
nội các Phạm Quỳnh: Từ ngày 14/3, Hoè đã
bàn việc loại Quỳnh với Tôn Quang
Phiệt (1900-1973), người cùng “Nghệ Tĩnh đồng châu
phổ.”
Phiệt là hiệu trưởng tư
thục Thuận Hóa, từng thành lập tổ
chức Phục Việt khi còn là sinh
viên
trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội, rồi năm 1928 trở
thành Bí thư Tân Việt Cách Mệnh
Ðảng [TVCMÐ] ở miền bắc
(Trí kỳ), và bí mật gia nhập Ðảng Cộng
Sản
Ðông
Dương [CSÐD] từ trước ngày TVCMÐ đổi
tên thành Việt Nam Cộng Sản Liên
Ðoàn hay Ðông Dương Cộng Sản
Liên Ðoàn [CSLÐ] vào
đầu năm 1930. Trong số các đảng viên Trung Kỳ [Nhân
Kỳ], ngoài Tổng Thư Ký Ðào
Duy Anh, và Trần Mộng Bạch, có Nguyễn Thị Vịnh tức
Minh
Khai, Ngô Ðức Trì, Hà
Huy Tập, Ðặng Thái Mai, Nguyễn Quốc Túy, Trần Vĩ,
Võ Liêm Sơn, Nguyễn Hữu Diếu,
Trần Hữu Duẩn, Nguyễn Khoa Văn, Võ Giáp, v.. v....(
11)
Ðược
Phiệt cổ võ, tối 17/3, Hoè
thành công trong việc
thuyết phục các Thượng thư đồng loạt từ chức, để Bảo
Ðại
được tự do, với sự trợ
giúp của Phiệt và Hoè, tìm “người
tài đức” mới. 2 giờ chiều Thứ Hai, 19/3,
trong khí thế cách mạng thay đổi nội các,
Hoè nộp lên Bảo Ðại danh sách 14
“nhân sĩ” đã có sự bàn bạc của Bùi
Bằng Ðoàn, Ưng Úy, Tạ Quang Bửu và Phiệt.
Bảo Ðại chọn tám [8] người mời về Huế tham khảo:
Trần
Ðình Nam (Ðà Nẵng), Hồ Tá
Khanh (Sài Gòn/Phan Thiết?), Lưu Văn Lang (Sài
Gòn), Hoàng Trọng Phu (Hà Ðông),
Trần Văn Thông, Hoàng Xuân Hãn, Vũ Văn Hiền,
hoặc Phan Anh (Hà Nội), tùy Hãn
chọn. Sáu [6] người không được mời gồm Huỳnh Thúc
Kháng (Huế), Tôn Quang Phiệt
(Huế), Lê Ấm (Qui Nhơn), Vương Quang Nhường (Sài
Gòn), Ngô Ðình Diệm (Sài
Gòn/Vĩnh Long), Trịnh Văn Bính (Hà Nội/Hải
Phòng), (Phạm Khắc Hoè, 1987:25-6).
Trước đó, Bảo Ðại từng sai Hoè mời Kháng—cựu Chủ tịch Viện Dân Biểu An Nam—vào bái kiến, nhưng Kháng từ chối. (Phạm
Khắc Hoè, 1987:21) Hoè có vẻ
hàm ý rằng Kháng chịu
ảnh hưởng Ngô Ðình Khôi, thuộc phe Cường Ðể.
Riêng
ba trí thức trẻ Hãn, Hiền, Anh
có thể do Nhật đề
nghị, hoặc do liên hệ gia đình với Hoè
(Hãn), hay/và hảo ý trọng những tài năng
trẻ của Bảo Ðại—đã từng du học
Pháp 10 năm và quen dùng tiếng Pháp hơn
tiếng Việt. Bảo Ðại thông minh hơn
nhiều người cả đoan, và dưới sự giáo huấn nghiêm
khắc của Jean Charles, trở
thành một hình nhân giát vàng
khuôn mẫu. Thuật ngữ “bù nhìn”
[puppet]
sính dùng thường khiến người ngoài, xa lạ với
sân khấu quyền lực, khó tri nghiệm được khả năng
của
các vua chúa “bù nhìn.”
Tuyên
cáo độc lập ngày 11/3 của Bảo Ðại, tưởng cần nhấn
mạnh, chỉ liên quan đến An
Nam (Trung) và Bắc Kỳ. Mặc dù nó mang lại cảm hứng
và hy vọng được độc lập và
thống nhất lãnh thổ, ở thời điểm này nó chẳng
có hiệu lực gì với tình trạng Nam
Kỳ. Thống đốc Minoda nhiều hơn một lần nhắc nhở
những chính
khách Việt quá xúc động
là định nghĩa “độc lập” của Nhật rất giới hạn, nhất
là
không nên gợi lại thù
oán cũ. Ngày 29/3/1945—trước ngày Trần Trọng Kim
được hồi hương để “tham khảo
về lịch sử” —Minoda nhấn mạnh rằng không ai có thể
hiểu
lầm sự kiện rằng Nam Kỳ
thuộc quyền “chỉ huy quân sự” của Nhật, hay nền độc
lập của Việt
Nam tùy thuộc
vào kết quả của cuộc chiến Ðại Ðông Á. (L'Action, 31/3/1945; Kim, 1969, tr.
44).
I.
TÌNH
TRẠNG VIỆT NAM, 3-4/1945:
Việc
Nhật thanh trừng Pháp và ban cho Bảo Ðại “độc lập
có điều kiện” xảy ra trong
một giai đoạn cực kỳ khó khăn, khiến sự ủng hộ của
quốc
dân bị giảm sút.
Thứ
nhất, thật rõ ràng Nhật đang thua trận. Sau này
Hoàng Xuân Hãn và Phan Anh nhớ
lại rằng ngày ấy Hãn, Anh cùng thân hữu nghĩ
Nhật ít nữa cầm cự được khoảng một
năm. Ðô đốc Louis Mountbatten, Tư lệnh Mặt Trận
Ðông Nam Á [SEAC] của Bri-tên,
dự định đổ bộ lên Malaya vào tháng 9, và
chiếm Singapore vào cuối năm 1945.
Chính Josef Stalin cũng không ngờ tại Hội nghị
Potsdam
Tổng thống Harry S.
Truman và Thủ tướng Winston S. Churchill đã quyết
định
rút ngắn cuộc chiến bằng
hai trái bom nguyên tử. Tuy vậy viễn ảnh bại trận
của
Nhật—nhất là sau cái chết
của Adolf Hitler ngày 1/5/1945 và sự đầu hàng của
Germany [Ðức] hôm sau—tạo nên
thái độ bất hợp tác trong giai tầng có học, giai
tầng cung cấp phần lớn cộng sự
viên của Nhật. Trong khi đó, Charles de Gaulle tại
Paris
dồn mọi nỗ lực tái
chiếm Ðông Dương. Song song với nỗ lực trên bình
diện quốc tế để giành “quyền
sở hữu tối thượng” Ðông Dương, Pháp gửi đặc công
và gián điệp vào Việt Nam để
thu lượm tin tức hay phá hoại. Cán bộ tuyên truyền
Pháp rao giảng tuyên cáo
ngày 24/3/1945, trong đó Pháp hứa hẹn sẽ cho năm
[5] xứ Ðông Dương nhiều tự trị
hơn và thực hiện một số cải cách để nâng cao mức
sống dân, như thánh kinh
Gaullist. (12)
Ðộc
hiểm hơn, sau tuyên ngôn độc lập ngày 11/3 của Bảo
Ðại phe Gaullist mở một loạt
chiến dịch tuyên truyền gây nghi ngờ và chia rẽ giữa
các tổ chức chính trị và
giai tầng xã hội Việt. Một trong những chiến dịch
này
là đánh bóng tên tuổi cựu
hoàng “làm loạn” Duy Tân (1907-1916), người
đã bị truất phế và lưu đầy tới
Réunion sau khi tham dự cuộc nổi dạy ngắn ngủi tháng
5/1916 mà theo cựu hoàng
Thành Thái có lẽ là âm mưu của
nhóm Nguyễn Hữu Bài nhằm đưa Bửu Ðảo, tức Khải
Ðịnh (1916-1925) lên ngôi. Chiến dịch tuyên
truyền này gia tăng cường độ trong
mùa Hè 1945, khi Hoàng tử Vĩnh San được đưa từ
Réunion qua Paris trong “kế
hoạch bí mật” về Ðông Dương của de Gaulle. (13)
Trong
khi đó, Việt Nam tiến gần hơn tình trạng vô
chính phủ, nổi bật với ba hiện tượng
là cơn sốt độc lập, nạn đói 1944-1945, và sự vượt
thắng của Việt Minh dưới sự
che chở của OSS Mỹ.
A. CƠN
SỐT ÐỘC LẬP:
Một
trong những biến chuyển quan trọng sau chiến dịch
Meigo của Nhật
ngày
9-10/3/1945 là sự bộc phát cơn sốt độc lập tại Việt
Nam.
Tiếng “độc lập” có một
sức quyến rũ ảo thuật làm thay đổi nhiều người—dù
ít người hiểu rõ ý nghĩa, hay
những đặc tính của thuật ngữ này.
Tại
Hà Nội, một ký giả ghi nhận,
Tiếng
súng của quân đội Nhật Bản nổ đêm hôm 9/3/1945
ở dải đất này đã phá tan được đời
nô lệ non một thế kỷ của chúng ta dưới cuộc đô hộ
tàn bạo của Pháp. Từ đây,
chúng ta mới thật được sống.” (14)
Ngay
cả những người trước kia tự nhận chế độ Pháp liên hệ
chặt
chẽ đến “bát cơm” của
họ cũng thay đổi thái độ. Việc Nhật tiếp tục sử dụng
Bảo Ðại
giúp lôi kéo được
sự ủng hộ của giới thượng lưu và các gia đình
giàu có, thế lực. Hoàng Trọng
Phu, nhân vật thân Pháp uy quyền nhất miền Bắc, tới
Huế ngày 27-28/3 để cố vấn
Bảo Ðại về chính phủ độc lập tương lai của “An Nam.”
Vi Văn
Ðịnh, lãnh đạo hàng
đầu của dân Nùng tại vùng Lạng Sơn, đến Hà
Nội để cố vấn Nishimura Kumao. (L'Action, 7/4/1945) Hồ Ðắc Ðiềm,
người được
phe De Gaulle coi như một trong 17 đề cử viên có thể
đưa
ra khỏi nước để trở
thành đại diện của Ðông Dương tại Quốc Hội Lập Hiến
Pháp, được tiếp tục giữ
chức Tổng đốc Hà Ðông, phía nam Hà Nội. (15)
Ngay
đến
Phạm Quỳnh, đương kim Cơ Mật Viện trưởng—nổi tiếng
về chính
sách Pháp-Việt đề huề hay “Rồng
Nam
phun
bạc, đánh đuổi Ðức tặc,” mục
tiêu đả kích của cả Cộng Sản lẫn phe Ki-tô
giáo Ngô Ðình Khôi-Ngô
Ðình Thục, và
Huỳnh Thúc Kháng từ thập niên 1930, từng được
Ðại úy “Caille” [Paul Mus] dự định
đưa sang
India để “kháng chiến”—cũng có
tin muốn hợp tác với Nhật. Ví thử Quỳnh có
tâm ý chuyển buồm như Hoè tố cáo—suy
diễn từ việc Quỳnh soạn sẵn tuyên ngôn độc lập ngày
11/3—chỉ là việc khó tránh
của giới quan trường. Có lẽ Hoè không rõ
cuộc tiếp xúc bí mật của Mus với Quỳnh
nên việc đánh giá có phần vội vã. Hơn
nữa, bản Tuyên Cáo độc lập với Pháp, so
với Tấm Sự Vụ Lệnh cho Hoè rời Hỏa Lò Hà Nội
vào Ðà Lạt gặp Nam Phương Hoàng
hậu năm 1947, những cung văn Hồ Chí Minh như “Thánh
Nam
Ðàn,” hay việc trịnh trọng đặt trái cam Hồ
ban cho lên
bàn thờ để kính báo tổ tiên, cùng lời
nhục mạ chủ cũ tự chúng phản ánh đặc tính
của giới quan lại dưới thời Pháp thuộc nói chung,
và cá nhân Hoè nói riêng. (Souverains, 1943:71-2; Phạm Khắc
Hòe,
“Con Rồng An-Nam phun ra bản chất phản bội và tội ác
tày trời của Bảo Ðại;” Tạp Chí Cộng Sản,
vol.
XXVII,
No.11 (Nov
1982), pp. 59-61)
Giới
thanh niên, sinh viên và trí thức trên
dưới ba mươi bị khích động mãnh liệt
nhất. Phong trào “Cách Mạng quốc gia” của Decoux
và các tổ chức Thanh Niên, thể
dục và thể thao của Maurice Ducoroy—cùng phong
trào Ðại Ðông Á, châu Á của
người
Á châu—tạo nên một bầu không khí sống
khoẻ, sống hùng một cách lãng mạn trong
giới trẻ và thị dân. Hầu hết lãnh tụ thanh
niên, học sinh, sinh viên trong giai
đoạn 1940-1945 đều trở thành nòng cốt trong cuộc
chiến 30
năm sắp tới—phe này,
hoặc phe kia.
Tại
miền bắc, các đảng phái không Cộng Sản được khuyến
khích thành lập một mặt trận
liên hiệp để cai quản Hà Nội, Hải Phòng cùng
các tỉnh lị, thị trấn. Ngày
22/2/1945, tại Hà Nội, các nhóm Ðại Việt
bí mật thành lập Ðại Việt Quốc Gia
Liên Minh. Gồm
có nhóm Nguyễn Xuân Tiếu (Ðại Việt
Quốc
Xã), Nguyễn Tường Long (Ðại Việt
Dân
Chính), Trương Tử Anh (Ðại Việt
Quốc
Dân Ðảng), Ngô Thúc Ðịch, Bùi Như
Uyên, Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn,
Nhượng Tống (Việt Nam Quốc Dân Ðảng),
Nguyễn
Ðăng Ðệ, Nguyễn Xuân Dương tức Lạc Long.
Ngày Chủ Nhật, 11/3, báo Tin Mới
đăng
“Tuyên Cáo” của Ðại Việt Quốc Gia
Liên Minh. 5 giờ
chiều, Ðại Việt Quốc Gia Cách Mệnh Ủy
Viên Hội ra mắt tại Bờ Hồ Hoàn Kiếm. Ðây
là tên mới của ÐVQGLM. Tuyên bố đã
thành lập Ủy Hội Hành Chính Lâm Thời
lúc 9 giờ sáng, sau đổi thành Ủy Ban Chính
Trị Bắc Kỳ. Nhưng ngày 19/3/1945, Ủy Ban Chính Trị
Bắc
Kỳ, tức Ủy Hội Hành
Chính Lâm Thời, mới thành lập tám
ngày trước, tự giải tán.
Nguyên
văn “Tuyên Cáo Quốc Dân”
trên như sau:
“Chúng
tôi thuộc đảng Quốc Gia Liên
Minh, nhân lúc giao
thời đã ra đảm nhận mấy công việc cần cấp như trật
tự, cứu
tế, v.. v... Nay
tình thế đã tạm yên, chúng tôi tự thấy
nhiệm vụ đã hết, xin tuyên bố giải tán, để
nhường các ngài có thực tài, thực đức ra
cáng đáng những công việc quan hệ hơn.” (Tin
Mới, 19/3/1945)
Các
tổ chức thanh niên và võ thuật tại Hà Nội,
Hà Ðông, Hải Phòng—như Thanh
Niên Ái Quốc của Võ Văn Cầm, Thanh
Niên
Cách Mạng Quốc Gia của Lê
Ngọc Vũ—được tổ chức thành những toán cảm tử chịu
trách nhiệm bảo vệ trật tự
khi cuộc đảo chính bắt đầu. Vài ba lính heiho
này bị thương vong khi tấn công trại binh Pháp ở
Hà Nội đêm mồng 9 rạng
10/3/1945.
Nhóm
Tự Lực Văn Ðoàn cũng tham gia sinh hoạt chính trị,
qua việc gia nhập Ðại Việt Quốc Gia
Liên Minh
từ ngày
22/2/1945, tái bản báo Ngày Nay Kỷ
Nguyên
Mới từ ngày 5/5/1945. Nguyễn Tường Long và
Nguyễn
Tường Bạch [hay Bách]
cùng Khái Hưng còn tham gia đảng Tân
Việt
Nam
Hội. Nhóm Thanh Nghị—qui tụ
một số luật gia và trí thức cấp tiến như Vũ Văn
Hiền, Vũ
Ðình Hoè, Phan Anh,
v.. v.. —tích cực trong việc thành lập chính phủ
độc lập đầu tiên, dưới khẩu
hiệu “Dân Vi Quí,” rồi được giao hai ghế trong
chính phủ Kim, tái bản tạp chí Thanh
Nghị từ ngày 5/5/1945 và vận động
thành lập Tân Việt Nam Hội, để giữ
gìn nền “độc lập từ trên giời rơi xuống.” (16)
Những
thành phần nổi danh thân
Pháp trong Hội đồng Tư Vấn Bắc Kỳ và Hội đồng Nghị
viên thành phố cũng khăn áo
tề chỉnh tham dự những buổi họp do Thống sứ Nhật
triệu tập. Luật sư
Trần Văn Chương—có
vợ là nhân vật giao du rộng rãi với các
viên chức Pháp và Nhật, cũng như trí
thức Việt—được cử làm Chủ tịch Tòa Kháng Án
Bắc Kỳ.
Tại
miền
nam, nơi đặt Bộ Tư lệnh Lộ Quân miền Nam, các lãnh
tụ phe nhóm thân Nhật cũng
ráo riết hoạt động. Hồ Nhựt Tân, đảng trưởng Việt
Nam
Ái
Quốc (từ 1943) tuyên bố vào ngày
10/3:
Trong
lãnh thổ rộng mông mênh của
Ðại Ðông Á dưới sự lãnh đạo của Ðại
Nhật Bản, dân tộc Việt Nam sẽ tận lực xây dựng một
quốc gia
mới dựa trên nguyên
tắc bình đẳng và tự do. (17)
Cùng
ngày
10/3, Hồ Văn Ngà (1905-1945) ra mắt Việt
Nam
Quốc Gia Ðảng, hậu thân Việt Nam
Ðộc Lập Ðảng. Tám
ngày sau lại đổi tên thành Việt Nam
Quốc Gia Ðộc Lập Ðảng, qui tụ
đảng viên Phục Quốc từng hoạt động
với Trần Văn
Ân
(1903-2002), và cựu đảng viên Việt Nam
Nhơn
Dân Thống Nhứt Cách Mạng Ðảng, có chiều
hướng khuynh tả—Trốt-kít, theo Mật
thám Pháp—cùng Việt Nam Quốc Gia
Chánh
Ðảng. (CAOM
(Aix), 7F 27)
Các
lãnh tụ tôn giáo cũng hoạt
động
mạnh. Cao Ðài có nhóm Trần Quang Vinh (Nghĩa
Ðạo
Thực Hành Ðoàn), Trình Minh Thế,
Cao Hoài Sang. Giáo chủ [Ðức Thày]
Huỳnh Phú Sổ (1919-1947) qui tụ dưới trướng nhiều
nhân vật
chọc trời khuấy nước
của Hòa Hảo như Lương Trọng Tường, Năm Lửa Trần Văn
Soái,
Nguyễn Giác Ngộ, Lâm
Thành Nguyên, Ba Cụt Lê Quang Vinh. Nhóm
Bình Xuyên của Lê Văn “Bảy” Viễn, Tô
Ký cũng xuất hiện bên cạnh các tổ chức Nhựt-Việt
Phòng
Vệ
Ðoàn của Nguyễn Hòa Hiệp, Võ
Sĩ
Ðoàn của Ðỗ Dư Ánh, Thanh
Niên Ái
Quốc Ðoàn của Ðinh Khắc Thiệt, Hắc
Long của Huỳnh Chi (cha vợ Trần Phước An) và
Huỳnh Khai, v..
v.. (CAOM
(Aix), HCFI, CP 191) Từ tháng 5/1945, Lãnh sự Iida
còn bảo trợ tổ chức Thanh Niên Tiền
Phong
của Phạm Ngọc
Thạch, Kha Vạng Cân, Nguyễn Văn Thủ, Thái Văn Lung,
Huỳnh
Văn Tiểng, Thanh Nữ Tiền Phong của
Hồ Vĩnh Ký,
Nguyễn Thị Sương. Con số hơn 200,000 đoàn viên gia
nhập
TNTP sau ngày 1/7/1945
có lẽ đã được phóng đại, nhưng tinh thần dấn
thân phục vụ đồng bào và cộng đồng
là những đặc tính có thể chứng thực.
Các
nhóm tự nhận là “Ðệ tứ QTCS”
hay “Trốt Kít” cũng thành hình, đòi hỏi
“dân cày có ruộng.” giới lao động làm
chủ xí nghiệp ở Sài Gòn và các thị
trấn. Vì chỉ là thiểu số—suýt soát
vài trăm
người, bị nhóm Ðệ Tam tìm đủ cách tận diệt
trong dư luận cũng như thể xác—một
số liên kết để khuynh đảo các lực lượng giáo
phái, nhưng chỉ thành công rất
giới hạn.
Tại
Huế—sòng bạc quyền chức, danh lợi có nhiều thế kỷ
tuổi
đời—những mưu mẹo, tiểu
xảo, phản trắc, lọc lừa lại thêm một lần mở chiếu
bạc mới. Phạm
Khắc Hoè—cựu
Quản đạo Ðà Lạt lừng danh với nghề vào luồn ra
cúi, rất được lòng Nam Phương
Hoàng hậu và Từ Cung Hoàng Thái
hậu—âm mưu cùng phe Nghệ-Tĩnh đồng châu phổ
muốn lũng đoạn triều đình. Như đã lược thuật, Hoè
mưu với Trần Ðình Nam và Tôn
Quang Phiệt tìm cách loại Phạm Quỳnh—rồi vào
tháng 7/1945, đề nghị Nam tống
giam Quỳnh, nhưng Bảo Ðại không chấp thuận. Mặt
khác,
Nam và Hoè muốn lợi dụng
thế lực Ki-tô giáo của họ Ngô, đưa Ngô
Ðình Diệm ra làm con cờ thí ở thế cờ
tàn
Ðại Ðông Á. Nhưng người Nhật có sẵn một kế
hoạch mà những “siêu trí tuệ” của
Nghệ-Tĩnh đồng châu phổ khó thể thấu đáo. Và
anh em Diệm-Khôi từng được Nguyễn
Hữu Châu, anh rể Lệ Xuân, xếp hạng là loại người
“được chim, bẻ ná.” Những nỗ
lực của nhóm Phiệt, Nam hay Hoè chẳng thay đổi gì
được đại thể.
Nói
chung,
sau khi loại bỏ khoảng 40,000 Pháp kiều trên đỉnh
tháp xã hội, để đưa người
Việt lên thay, người Nhật biến những thuật ngữ như
Việt Nam, độc
lập, bình
quyền trở thành thực đơn hàng bữa của mọi giai tầng
thị
dân. Một số cựu tù nhân
được phóng thích hay tự động phá ngục—thuộc đủ khuynh hướng ý thức hệ—cũng thắp hồng ngọn lửa bạo lực. Sự
thay đổi giai tầng thống trị này tự nó là
một cuộc cách mạng từ trên xuống, lôi
cuốn
các “tân sĩ phu,” thị dân và
địa chủ vào một chuỗi phản ứng giây chuyền [chain
reaction] chạy đua quyền lực,
xóa bỏ đi những khuôn thước trật tự, an ninh và
thế
giá xã hội cũ. Bởi
thế,
các
con
đường
dẫn về Huế bỗng tấp nập những nhân vật quan
trọng trong Âu
phục hay quan phục, được người Nhật mời hay tự mời,
để giúp Việt
Nam trở thành
một nước độc lập trong khối Thịnh Vượng Chung Ðại
Ðông
Á của Nhật.
Từ
miền nam, Tạ Thu Thâu (1906-1945) thuộc nhóm La
Lutte/Tranh
Ðấu rời chỗ chỉ định cư trú ở Long
Xuyên, ngược ra
Huế và Bắc Bộ. Hồ Hữu Tường (1910-1982), tự nhận là
Ðệ tứ Cộng Sản, cũng du
thuyết từ trung ra bắc tìm đồng chí—phản ánh qua
cuộc phiêu lưu của nhân vật
“Phi Lạc sang Tàu” sau này. Có tin đồn Tường tiếp
xúc cả với Chánh tổng Vũ Duy
Ðạo—một lãnh tụ Ðại Việt nổi danh chống Cộng ở
Bình Giang, Hải Dương, nhưng lại
có cháu họ là cán bộ tỉnh ủy Ðảng
CSÐD. Phái đoàn Nguyễn Thị Thập của Xứ Ủy Nam
Bộ Ðảng CSÐD trên đường ra họp Hội nghị Tân
Trào—nhưng bị trễ—vẫn được Y sĩ
Phan Huy Ðán, chánh văn phòng Thủ tướng Kim,
tiếp đãi.
Người
duy nhất vắng bóng là Ngô Ðình Diệm—nổi
tiếng là “người của Nhật,” thân cận với
Cường Ðể, có “anh trai” làm Giám mục Vĩnh
Long, thuộc một gia đình phong kiến,
quan lại mới nổi. Tuy nhiên, cha con Ngô Ðình
Khôi-Ngô Ðình Huân công khai ra
mặt ủng hộ Nhật và Cường Ðể, duy trì liên hệ
tốt đẹp với Kempeitai và gián điệp
Nhật
từ năm 1943. Một trong những lý do
khiến Khôi bị ép phải về hưu không được chức thượng
thư hàm là Khôi đã sử dụng
tư dinh Tổng đốc Nam Ngãi để các em gặp gỡ
những phần tử thân Nhật, đặc biệt là Trương Kế An
và Phạm Ðình Cương—mới được
cử làm cố vấn cho các cựu tù nhân
chính trị ở Hà Nội. Khoảng 50 thuộc hạ của
Diệm trong Ðại Việt Phục Hưng Hội bị
bắt
giữ
từ mùa Hè 1944 cũng được
phóng thích, tái bổ nhiệm vào ngạch quan
lại, công chức hay quân đội. Tuần Vũ
Trần Văn Lý được đặc cách lên kinh lược bốn tỉnh
nam Trung Bộ, trị sở tại Ðà
Lạt. Phe đảng Ki-tô “6/6/1884” này rất tự hào về
liên hệ chính thống với Nhật,
qua Cường Ðể, ráo riết chuẩn bị cho Ủy Ban Kiến Quốc
của
Diệm lên cầm quyền, và
tố cáo vai trò bù nhìn, tạm thời của Bảo
Ðại cùng những “tài đức” mới. Một
trong những lý do khiến Yokoyama có mặt ở Huế trước
9/3/1945 là mối lo ngại Bảo
Ðại có thể không chịu hợp tác. Hơn nữa,
không thể không đề phòng phản ứng của
họ Ngô sau khi Cường Ðể và Diệm bị loại bỏ. Theo
tình báo Pháp, tháng 8/1945,
Diệm cũng ra Huế theo lời mời của Bảo Ðại và Kim.
Sau
đó, có thể Diệm đã tị nạn
trong một tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Canada [Gia Nã
Ðại] ở Huế cho tới đầu năm
1947. (SHAT
(Vincennes), 10H xxx)
Tuy
nhiên,
cần nhấn mạnh, mặc dù Khôi từng nhờ Nhu chuyển tới
Paul
Arnoux “lời thề trên thánh giá”
là trung thành
với Bảo hộ, anh em họ Ngô thực sự nương gió Nhật đổi
buồm
đã lâu, không nằm
trong nhóm chưa chịu đổi buồm—như
Nguyễn Văn Thinh, Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Tâm,
Jean Leroy, v..
v... Dù rút
vào bóng tối, hay tham gia các công
tác xã hội cứu đói, giúp đỡ các nạn
nhân bị
phi cơ Ðồng Minh oanh tạc, hoặc nghiền ngẫm niềm
bất mãn
và hận thù trong các
nhà tù và trại tập trung của Nhật, những người
“Pháp mũi tẹt” âm thầm mong đợi
ngày Nhật bại trận. Ngoài ra còn những người tiếp
tục bị giam cầm, hay tụ họp
tại các mật khu trong rừng núi hay hải ngoại,
quyết
không đội trời chung với
Nhật và/hay Pháp. Ðó là Ðảng
CSÐD với cơ quan ngoại vi Mặt Trận
Việt Minh, cùng
một
số
lãnh tụ chống Cộng có khuynh hướng thân
Hoa, hoạt động trong các toán tiền tiêu của
các đơn vị “Hoa quân nhập Việt,”
chuẩn bị cho ngày Ðồng Minh đổ bộ. Ðường ranh phân
chia tim óc người Việt đã ươm
mầm và nảy nở liên lũy trước
khi
cuộc
chiến
tranh lạnh Tư
Bản-“Cộng Sản” khởi đầu. Cả hai phe đều tin ở sức
mạnh của họng
súng và thể
chất—không ngừng gào thét
đòi phanh
thây, uống máu quân thù. Võ
Giáp và các thành viên của
Ðoàn vũ trang tuyên
truyền thành lập ngày 22/12/1944, hay các
nhóm “Việt Hùng,” “xung phong, ám sát
đoàn” đều mang theo họ những ngọn lửa hận thù mất
cha mẹ,
vợ con, anh em. Ðáng
lưu ý là hầu như đại đa số đều không phải là
công nhân vô sản [proletariat]—mà
chỉ
những
nông hay thị dân nghèo khổ, ăn bữa
sáng, lo bữa tối—tự biến
mình
thành
những âm binh chịu phù phép. Trong ống tay
áo các tay phù thủy ngoại cường và
tập đoàn cai thầu bản xứ. Thiếu tá Allison K.
Thomas, cấp
chỉ huy OSS từng sống
với Hồ hai tháng ở TânTrào, báo cáo
rằng đa số bộ đội Việt Minh chưa nghe đến
hay hiểu biết Cộng Sản là gì. Những người chống
Cộng như
tín đồ Ki-tô và Hòa
Hảo, họ chống bất cứ thứ gì liên hệ với Cộng Sản
chỉ
vì lệnh trên. Có người tốt
nghiệp Ðại học Mỹ còn không hiểu nổi ý nghĩa
và biên độ “chỉnh cán, chỉnh
quân” của Mao Trạch Ðông hay quyết tâm độc
quyền yêu nước và cai trị của tín đồ
Marxist-Leninism trong đầu thập
niên 1950—kiến thức sử không
quá số
vốn lớp đồng ấu hay tiểu học.
B.
NẠN ÐÓI ẤT DẬU:
Sự bùng
nổ chính trị nói trên
trùng hợp với nạn đói Ất Dậu (1945), một biến cố bi
thảm
tại Bắc và Bắc Trung
Kỳ. Nạn đói đã khởi đầu từ năm 1944; đó là
sự oà vỡ cuối cùng của sự căng thẳng
kinh tế liên lũy gia tăng dưới thời Pháp thuộc; và,
dân chúng ngày thêm nghèo
khổ, quẫn bức dưới thời Nhật chiếm đóng. Thông
thường,
nông dân Bắc và Trung Kỳ
chỉ sản xuất vừa đủ số gạo cần dùng. Trường hợp có
thiên tai, họ cần được tiếp
tế bằng gạo miền Nam. Tuy nhiên, từ vụ mùa năm 1943
(khoảng tháng 11-12), chính
quyền Decoux cho lệnh nông dân Bắc và Trung Kỳ phải
bán số “thóc thặng dư” cho
nhà nước. Ðiều này có nghĩa mỗi dân
làng phải bán cho nhà nước một số lượng
thóc nhất định, bất kể thu gặt được bao nhiêu.
Ngoài ra, giá thu mua của nhà nước
thấp hơn giá thị trường. Cùng với sự lộng quyền và
âm mưu trục lợi của những đại
lý thu mua thóc, chính sách trên
vét sạch các vựa thóc dành dụm của
nông dân,
và khiến rất nhiều trung nông bị sạt nghiệp. Ðại đa
số
có từ 1 sào tới 5 mẫu bị
thiệt hại nhất. Số vốn bỏ ra cầy cấy 1 sào là 42
đồng,
tiền thuế 12$20. Nhưng 1
sào chỉ thu được 6 thúng thóc (120 kg),
tính ra tiền khoảng 30 đồng. Nếu phải
vay ăn để cầy cấy, tiền lãi trong 4 tháng bằng 50%
vốn.
Pháp còn cho lệnh thu
thóc cả công điền, thần từ và Phật tự. (Vũ Như
Trác,
“Ðể cứu đói cho dân: Chính phủ mới cần biết
những hà chính của Pháp còn để
lại;” Tin Mới, 1/6/1945)
Trong
khi đó các cuộc oanh tạc và
phong tỏa hải lộ của Liên Bang Mỹ và Bri-tên cắt đứt
hầu hết việc chuyển vận
lúa gạo từ Nam ra Trung hay Bắc. Trong những công
điện
cuối cùng từ Ðà Lạt gửi
về Vichy ngày 5/8/1944, Decoux báo cáo tình
hình kinh tế Ðông Dương như sau: Thăng
bằng kinh tế còn duy trì được cho tới cuối năm 1943.
Từ
đầu năm 1944, mất quân
bình vì sự gia tăng oanh tạc và phá hoại
của tầu ngầm Ðồng Minh. Các tàu vận
tải của Ðông Dương hầu như tê liệt. 7 trên 13
tàu chạy
ven biển (caboteurs) bị đắm. Tàu
đáng
lẽ cặp bến Hải Phòng phải lùi dần xuống phía Nam;
Tourane, rồi Qui Nhơn; và,
vào cuối tháng 8/1944, phải đổ hàng ở Nha Trang
(Cable 11,270). Từ đầu năm
1944, bắt đầu dùng thêm thuyền buồm. Từ ngày 1/1
tới ngày 1/7/1944, chở ra được
miền Bắc 3,672 tấn gạo ăn; và 4,506 tấn gạo để chế
cồn (Cable
11,272). Vận tải
bằng đường bộ, đang từ 4,000 tấn vào tháng 1/1944,
xuống
còn 660 tấn vào tháng
2/1944, và 230 tấn trong tháng 3/1944. Từ Bắc chở
vào Nam chỉ được 660 tấn
trong tháng 4/1944 (Cable 11,273). Trù tính chở
2,500 tấn trong tháng 8/1944,
nhưng cơn bão trong hai ngày 10-11/7/1944 phá hủy
mất 600 tấn muối. Kho muối ở
Bắc chỉ còn 18,000 tấn, cần 17,000 tấn dùng cho tới
cuối
năm, và 40,000 tấn để
dùng cho tới mùa muối vào tháng 4/1945
(Cable 11,273; Tels 11,268-11,278,
5/8/44, Dalat gửi Colonies Vichy; CAOM (Aix), FOM,
c. 272, d. 451). Một
trong
những lý do là quốc lộ nối liền nam-bắc bị cắt đứt;
tới
17 chỗ khác nhau vào đầu
tháng 3/1945, có chỗ dài
vài cây số. Theo Georges
Gautier, Tổng thư ký
Ðông Dương từ tháng 11/1944, người phụ trách
việc tiếp tế cho miền bắc, người
ta phải tập trung sử dụng nhân công và các
phương tiện lạc hậu như tam bản, xe
bò, xe hơi và cả sức người. (Gautier,
1978, tr. 13) Số lượng thóc
gạo thỉnh thoảng chở được ra Bắc—25,884 tấn năm
1940, 118,752 tấn năm
1941,
110,000 tấn năm 1942, 99,099 tấn năm 1943, 68,841
tấn năm 1944, 15,222
tấn từ
tháng 1 tới tháng 3/1945, và 7,586 tấn từ
tháng 4 tới tháng 8/1945—bị tồn kho để
sử dụng tại các thành phố hay chế biến nhiên liệu
cần thiết cho quân sự. (Cable
11,273; Tels 11,268-11,278, 5/8/44, Dalat gửi
Colonies Vichy; CAOM
(Aix), FOM, c.
272, d. 451; Tân Dân,
31/10/1946).
Từ vụ
mùa năm 1943, nông dân miền Bắc và miền Trung
phải trông cậy vào số thóc thu
gặt mỗi mùa hoặc các loại hoa màu phụ mà họ
có thể gieo trồng. (Liệu, Bích và
Ðạm 1957: tập II: 87-8). Một loạt những cuộc thiên
tai trong
mùa Hè 1944 phá
hủy gần hết vụ mùa tại vài tỉnh, đặc biệt là
Thái Bình ở miền Bắc, nơi vấn đề
nhân mãn và thiếu dinh dưỡng là những vấn
nạn trường kỳ. Tệ hại hơn nữa, thời
tiết lạnh khắc nghiệt của mùa Ðông 1944-1945
làm hư gần hết hoa màu phụ. Nạn đói
lan tràn khắp đồng bằng sông Hồng, rồi sông
Mã. Tháng 1/1945, đói tràn
vào tàn phá vùng Nghệ Tĩnh. Trung
bình hàng ngày
có hàng chục người chết. Những làng duyên
hải có nơi chết hàng trăm. Tại cửa
thành Hà Tĩnh, có những bà mẹ mang con rao
bán với giá 20 đồng. Trẻ em,
rồi người lớn, và cuối cùng toàn gia đình
lâm vào cảnh chết đói. Ðối diện tử
thần, dân quê tại những vùng bị nạn đói
hoành hành lên đường đi kiếm thực phẩm.
Họ tràn vào các chợ lân cận, rồi kéo
về các thị trấn và thị xã, ở đó theo lời
đồn
có rất nhiều kho thóc đầy ắp. Sự giúp đỡ nhỏ nhoi
của các hội từ thiện tư nhân
khó thể giải quyết cơn khủng hoảng quá trầm trọng.
Những
nông dân lang thang
xin ăn âm thầm gục đổ xuống các mặt phố, hay không
thể thức giấc sau một đêm
ngủ đỗ trên lề đường của các thị trấn và
thành phố. Xác người chết đói rải
rác trên quan lộ. Tin đồn người ăn thịt
người
lan truyền, nhưng khó kiểm chứng. Chỉ biết thực tế
tại nhiều
làng ở Hải Dương,
phải ăn cháo cám thay cơm. (18)
Trong
khi đó, tại miền nam, nhiều
công xưởng phải dùng thóc đốt thay cho than
đá từ miền bắc. Ngày 28/9/1945,
kiểm kê tổng số gạo Decoux tồn trữ được 230,000 tấn,
tương đương
với 391,000
tấn thóc. (CAOM
(Aix), INF, c. 158, d.1362). Ðầu năm
1946, R. H.
Smyth, trong Hội
đồng Thực Phẩm [Combined Food Board = CFB], báo cáo
dân sự Pháp có 12,000 tấn
gạo, và quân đội Nhật, 45,000 tấn. Linh mục/Cao ủy
Georges
Thierry d’Argenlieu đồng
ý gửi ra Bắc 5,000 tấn để chứng tỏ thiện chí, trao
đổi
với việc quốc quân Trung
Hoa mau rút khỏi miền Bắc vĩ tuyến 16. (Tel
No. 1016
(27/5/1946), Haussaire Indo Saigon gửi Comité
Indochine; CAOM
(Aix), Service
économique [SE], c. 14).
C.
VIỆT MINH & ÐƯỜNG GIÂY OSS:
Chính
phủ “quân sự chỉ huy” của Nhật, và lá bài
vương giả bản xứ “độc lập” gặp sức
chống đối mãnh liệt của Ðảng CSÐD, dưới
chiêu
bài
Mặt
Trận
Việt Minh. Khối sử
văn cổ điển cho rằng Việt Minh xuất
xứ từ tên Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh, do
Nguyễn
Sinh
Côn
thành
lập ngày 19/5/1941, tại Hội nghị
trung ương thứ 8 nhóm
họp ở biên giới Cao Bằng và Quảng Tây. Sự thực,
đây là một tổ chức “hồn Trương
Ba, da hàng thịt,” do Côn tái sinh năm 1941 tại Hoa
Nam. Tổ chức này đã do nhóm
Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần đăng ký tại Nam Kinh năm
1936, nhưng chỉ hoạt động được
ít lâu rồi chìm vào quên lãng.
Sau khi trực tiếp nắm Ban Chỉ Huy Ở Ngoài của
Ðảng CSÐD ở Côn Minh, Côn giao cho Phạm Văn
Ðồng (1908-2000) làm Phó Chủ tịch
Việt Minh với hy vọng xâm nhập tổ chức Hoa quân nhập
Việt
của quan tướng Trung
Hoa. Bị lộ mặt Cộng Sản, Ðồng và Giáp phải trốn chạy
về vùng biên giới Cao
Bằng. Tháng 5/1941, giữa lúc Ðảng CSÐD tại nội
địa thêm một lần bị Pháp tắm máu
trong chiến dịch “khủng bố trắng” 1939-1941 mà Côn
trực
hay gián tiếp trách
nhiệm—khi mở đường giây liên lạc với Ban Chấp Ủy
Trung Ương
ở Sài Gòn, sau ngày
rời Mat-scơ-va về Trung Hoa—Côn và thuộc hạ chính
thức cướp đoạt danh hiệu Việt
Minh như cơ quan ngoại vi, hay mặt trận thống nhất
[united front] theo
chỉ thị
của QTCS. Có tác giả như Huỳnh Kim Khánh cho rằng
ngày 19/5 kết thúc hội nghị 8
này sau được Hồ nhận làm sinh nhật. Suy diễn trên
có lẽ không đúng. Nếu muốn
cho “Ngày sinh nhật 19/5” một kỷ niệm nhớ đời, ngày
19/5/1910 đáng ghi nhớ hơn
nhiều—ngày này 35 năm trước, sau khi bị cách chức
tri huyện Bình Khê, chờ tra
cứu, Phó bảng Nguyễn Sanh Huy bị giáng 4 cấp, phạt
100
trượng, đầy 3,000 lí vì
tội “say sưa và tàn ác với dân chúng”
(tra tấn một nông dân trong cơn say,
khiến nạn nhân bị ốm chết), đưa đến cảnh anh em Côn
phải bỏ
học, rời Huế ra đi.
(19)
Gần
sự thực hơn nữa là việc đón lễ sinh nhật 19/5/1946
của Hồ
đi kèm lời kêu gọi
dân Hà Nội và khắp miền bắc vĩ tuyến 16 treo cờ đỏ,
sao vàng trong thời gian
d’Argenlieu ra thăm Hà Nội từ 18 tới 21/5/1946 (Cứu
Quốc (Hanoi), 17/5/1946)—một danh dự lớn cho
Linh mục/Cao Ủy
Pháp, để đáp lại chuyến mời Hồ và Nguyễn Tường Tam
ra Vịnh Hạ Long gặp mặt thân
hữu. Ðồng thời để biểu dương sức mạnh chính trị của
Hồ.
Dưới
bảng hiệu mới là “đấu tranh chống Phát-xít Nhật
và Ðế quốc Pháp,” Mặt Trận Việt
Minh nín thở qua sông trong giai đoạn cai trị gián
tiếp của Nhật (12/1941-3/1945).
Việt Minh thành lập được hai đội du kích ở Cao Bằng
và Lạng Sơn, nhưng những nỗ
lực tái lập Ðảng tại đồng bằng miền Bắc và miền
Trung
rất hạn chế, trong khi
mọi nỗ lực đánh thông liên lạc với Nam Kỳ trước
Meigo đều thất bại.
Trong
kế hoạch thanh niên vận và
trí vận, từ mùa Hè 1944, Ðảng CSÐD
thành lập Ðảng Dân Chủ, với Dương
Ðức Hiền làm Tổng Thư Ký, Hoàng Minh
Chính
Bí thư Ðảng đoàn, để gia nhập Việt Minh [30/6/1944].
(Vũ Ðình Hoè, 2004:821)
Những người gốc nam quen biết Hiền cũng qui tụ quanh
nhóm Thanh
Niên của Huỳnh
Tấn Phát, sau này hóa thân thành Ðảng
Tân
Dân Chủ, dưới ảnh hưởng và sự chỉ huy của Xứ
Ủy Nam Kỳ
gồm Trần Văn Giàu,
Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Văn “Bảy”
Trấn,
v.. v.. Qua năm 1944,
nhóm này hoạt động trí vận dưới bảng hiệu truyền
bá chữ quốc ngữ tại Sài
Gòn/Chợ Lớn và các thị trấn. Tuy nhiên, Ban
Thường Vụ Trung ương Ðảng CSÐD bị
cắt đứt liên lạc với Huế và miền nam. Tới tháng
1/1945, Tố Hữu, Tôn Quang
Phiệt, Hoàng Anh, v.. v.. mới nhận được tài liệu cơ
bản
về Việt Minh. Nam Kỳ
chia thành hai Xứ ủy, hai Việt Minh, mãi tới tháng
4/1945 mới liên lạc được với
Trường Chinh.
Chiến
dịch Meigo giúp Ðảng CSÐD được
tăng gia nhân sự từ các nhà giam và trại cải
tạo, kể cả một số tù Côn Ðảo, xâm
nhập các tổ chức do Nhật tài trợ, như Thanh
Niên
Tiền Tuyến ở Huế, Thanh Niên
Tiền Phong hay Bình Xuyên, Hòa Hảo ở Sài
Gòn. Y sĩ Phạm Ngọc Thạch—công dân
Pháp và vợ Pháp—trở thành một cán bộ
CSÐD, đưa đảng viên xâm nhập TNTP, và cải
hóa thành phần lãnh đạo như Kỹ sư Kha Vạng
Cân, Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Luật sư
Thái Văn Lung, tráng trưởng Huỳnh Văn Tiểng v.. v..
Nạn
nhân của nhóm Stalinist
sau này là Luật sư Huỳnh Văn Phương, Phó
Giám đốc Cảnh Sát Sài Gòn, từng
phóng
thích một số cán bộ cốt cán như Bùi Văn Dự,
“Thắng” tức Trần Văn Trà, cung cấp
vũ khí cho nhóm Stalinist và tuyển dụng một số
cán bộ CS trong TNTP vào ngành
Cảnh Sát. (20)
Sau một
thời gian hoạt động với
Kempeitai Nhật, Trần Văn Soái, Lê Văn “Bảy” Viễn,
cùng Tô Ký, Dương Văn Hà của
tổ chức tội phạm Bình Xuyên trở thành lãnh
tụ chống Pháp. Tháng 10/1945, Bảy
Viễn được phong làm Chỉ huy trưởng Mặt Trận Sài
Gòn/Chợ Lớn. (CAOM (Aix), HCFI,
CP 161)
Chiến
dịch Meigo của Nhật, tưởng nên nhấn mạnh, còn mở cửa
dư
luận thế giới cho Việt
Minh. Mặc dù từ năm 1942, các cơ quan tình
báo Trung Hoa và Liên Bang Mỹ bắt đầu
chú ý đến Hồ và tổ chức Việt Minh—qua Ban Chỉ Huy
Ở Ngoài Ðảng CSÐD, và nhóm
Hội Giải Phóng chống Nhật của Nguyễn Văn Cơ, tức Lê
Tùng Sơn hay Anh tại Côn
Minh—nhưng chỉ âm thầm theo dõi. Sau đó, đồng
ý cho Trương Phát Khuê, lãnh chúa
Quảng Tây, thuê Việt Minh thu thập tin về Nhật, qua
hệ
thống Hoa quân nhập
Việt. Lê Tùng Sơn và một số cán bộ CS được
cử vào Ban Chỉ Ðạo của tổ chức Việt Nam
Cách Mệnh Ðồng Minh Hội tại
Liễu Châu. Nhưng tình báo Mỹ không dấu sự
nghi ngờ về Hồ—“một cán bộ QTCS thứ
thực,” theo nhận định của Ðại úy OSS Archimedes L.
A. Patti
tại Hoa Nam. Cuối
tháng 2/1945—sau khi Việt Minh đã cứu thoát Trung
úy William Shaw, một phi công
Mỹ bị bắn rơi ở Cao Bằng—Tướng Claire L. Chennault,
Tư lệnh Không
đoàn Cọp Bay,
vẫn chưa đồng ý tiếp “ông Hoàng,” mới cùng
hai thuộc hạ “đi bộ mười một ngày”
từ Pác Bó sang Vân Nam đề nghị hợp tác.
Chiến
dịch Meigo khiến viên chức Mỹ bỗng thay đổi hẳn thái
độ.
Sự thay đổi này do nhu
cầu tình báo về quân lực Nhật tại Ðông
Dương. Cuộc tổng tấn kích 9-10/3/1945
cắt đứt hầu hết hệ thống tình báo mà trước
đó người Pháp và Hoa tại nội địa
cung cấp cho Bri-tên, Trung Hoa và Mỹ. Từ năm 1943,
lực
lượng “kháng chiến
Pháp” trong nội địa Ðông Dương cũng âm thầm cung
cấp nhiều dịch vụ cho Ðồng
Minh như tình hình quân sự, các vị
trí đóng quân hay lộ trình di chuyển của
Nhật. Tháng 2/1945, Trung tá Miles ở Côn Minh từng
muốn khen thưởng những người
Pháp góp công vào cuộc oanh tạc Sài
Gòn và Cam Ranh ngày 12/1/1945, đánh đắm 50
tàu đủ loại, và phá hoại tới 150 thủy phi cơ Nhật
tại Cam Ranh và duyên hải
miền Trung. Pháp kiều cũng che chở, giúp đỡ hàng
chục phi công của Không Ðoàn
14 Cọp Bay, hay Hạm đội số 3 Mỹ. Quân nhân Mỹ đầu
tiên tử trận ở Việt Nam là
Trung úy phi công E. A. Shirley, gốc Texas, thi hài
được chôn trong nghĩa địa
Pháp ở Sài Gòn vào tháng 1/1945.
Kháng chiến Pháp còn giúp giải thoát
một số tù
binh Ðồng Minh trong trại tù Sài Gòn, trại
tù binh quan trọng nhất ở Ðông Dương.
Nhân viên OSS biệt phái cho Bộ Tư lệnh của Tướng
Sabattier tại Ðiện Biên Phủ cũng
bắt buộc phải theo Sabattier cùng tàn quân
Pháp rút khỏi qua Trung Hoa—mặc dù
de Gaulle đã gửi cả Tổng thư ký Comindo là
Francois de Langlade và Paul Mus tới
Ðiện Biên, chuyển lệnh phải ở lại nội địa Ðông
Dương bằng mọi giá. (21)
Ngày
17/3, Charles Fenn, một nhân viên OSS tại Ðội Yểm
Trợ
Không Lực Dưới Ðất
(AGAS), được lệnh tiếp xúc Hồ, và đặt cho Hồ bí
danh “Lucius,”
trước khi nhờ
Hồ đưa hai nhân viên AGAS vào nội địa, thiết lập
đài truyền tin. (Fenn
1973:76-80). Sau đó, Patti bay sang Liễu Châu gặp
Hồ.
Vì nể trọng sự lương
thiện của Hồ và thái độ dửng dưng với ngân quĩ của
OSS, Patti đã tảng lờ liên
hệ giữa Hồ với Quốc Tế Cộng Sản, sử dụng Hồ đồng
loạt với các
nhân viên Pháp.
(Patti 1980:83-7, 104-5) Quyết định của Patti cực kỳ
quan trọng. Những
ngày sau
đó, nhờ vũ khí Mỹ, thuốc men, trang cụ và đặc biệt
là bề ngoài được Mỹ công
nhận, Ðảng CSÐD—dưới chiêu bài Việt Minh—sớm hồi
phục khỏi tình trạng bị vỡ nát
dưới tay Pháp trong giai đoạn 1939-1944. (Liệu
1964; CAOM
(Aix), CP, hộp 161 và 192; 7F 27). Nhờ Patti và
tình báo Mỹ, Việt Minh ra sức
tự đánh bóng như một tổ chức duy nhất đang hợp tác
với phe chiến thắng Ðồng
Minh, giành độc quyền kháng Nhật, và gay gắt tố
cáo tuyên ngôn độc lập của Bảo
Ðại là thứ “độc lập bánh vẽ” (Liệu
1945). Cán
bộ Việt Minh còn tích cực lợi dụng nạn đói để
khích động đám đông hầu tạo cơ
hội thuận tiện cho một cuộc nổi dậy, dự trù khi quân
Ðồng Minh đổ bộ ở Trung
Hoa và Ðông Dương trong khoảng mùa Thu 1945
và mùa Xuân 1946. Thực ra, so về
công lao chống Nhật các tổ chức Pháp tự do vượt xa
vài trăm du kích Việt Minh rải
rác tại vùng thượng và trung du Bắc Việt.
Các toán
vũ trang tuyên truyền và
ám sát đoàn—dưới sự
chỉ huy của cán bộ từng được tình
báo Bri-tên
huấn luyện (có thể liên hệ đến Ðoàn
Ðông Dương Pháp, FCIS) như Lê Giản (Giám
đốc
Công An Trung Ương), Hoàng Ðình Rong, Dương
Công Hoạt (Bí thư Cao Bằng), Pallat
Nguyễn Văn Minh (cựu Bí thư Bắc Kỳ), Nguyễn Văn Ngọc
(Giám đốc Công An Trung
Bộ), Vũ Văn Ðịch (Cục trưởng tình báo quân
đội), Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam), v..
v... —hoạt
động hầu như công khai ở Hà Nội và các
vùng ven thị trấn. Chu Văn
Tấn và “đồng chí Văn”—tức Võ
Giáp—thành lập
an toàn khu ở vùng
Tuyên Quang-Bắc Kạn, trải
tới Cao Bằng. Tháng 5/1945, sau khi nhận lời hợp tác
với
tình báo Mỹ, Hồ di
chuyển từ Pác Bó xuống Kim Lộng [Luông], huyện Sơn
Dương, Tuyên Quang. Toán Con Nai [Deer
Team] của
Thiếu
tá
Allison K. Thomas
từng nhảy dù
xuống Kim Lộng, giúp huấn luyện khoảng 100 “bộ
đội Việt-Mỹ” và cứu Hồ thoát khỏi cơn bệnh mười chết
một
sống. Thomas còn hành
xử như Ban Ngoại Giao của Hồ, chuyển ra ngoài lập
trường
kháng Nhật và tranh đấu
cho độc lập của Việt Minh. Thiếu tá Laurence Gordon
và
toán GBT—do hiềm
khích với tình báo Pháp—cũng giúp
đánh bóng danh tiếng Việt
Minh. Việc Mỹ và
Trung Hoa chấp thuận sử dụng Việt Minh để thu thập
tin tình
báo về Nhật còn tạo
cho Việt Minh sức mạnh tinh thần và vũ khí tuyên
truyền sắc bén. Ngày 7/8/1945,
Bảo Ðại từng ra Dụ mời Việt Minh tham gia chính
quyền, nhưng
cả hai thượng thư
khâm sai ra Hà Nội và vào Quảng Ngãi
đều bị bắt giữ. (22)
Năm
1944-1945, cán bộ tuyên truyền [agitprop] của Ðảng
CSÐD xâm nhập, tổ chức các
nhóm thanh niên, sinh viên, trí thức. Từ
tháng 8/1945, Pehznef Trần Ðình Long
(1904-1946)—từ Nga về năm 1931, được Văn phòng Ðông
Dương của Ban Phương Ðông
Quốc Tế Cộng Sản dự trù sẽ thay Lê Hồng Phong nếu
có chuyện bất trắc; cuối thập
niên 1930, tham gia mặt trận báo chí ở miền
Bắc—thực sự nắm Ðảng Dân Chủ, cố
vấn cho Ủy Ban Khởi Nghĩa Hà Nội. Nhân vật
tích cực
khác là Lê Trọng Nghĩa (Ðoàn Xuân
Tín), cán bộ tình báo, tham dự những cuộc
thảo luận với Khâm sai Toại và Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ,
Chủ tịch Ủy Ban Chính Trị
Bắc Bộ. Do đề cử của những người này, Dương Ðức Hiền
rồi Vũ
Ðình Hoè—linh hồn
nhóm Thanh
Nghị—được đại
diện Ðảng Dân Chủ trong chính phủ
lâm thời ngày
28/8/1945. (23)
Các
nhóm thân Nhật tại Việt Nam chẳng coi trọng gì Bảo
Ðại. Thực ra, quyết định duy
trì Bảo Ðại của Nhật khiến mọi người đều ngạc nhiên,
kể cả chính Bảo Ðại. (Bao
Dai 1980: 101; Huynh Kim Khanh, Vietnamese
Communism, p. 295 n8). Nước
Nhật đã từng cho Hoàng Thân
Cường
Ðể (1882-1951), bác họ của Bảo Ðại và thuộc
dòng trưởng của vua Gia Long
(1802-1820), tị nạn nhiều thập niên. Năm 1939, Nhật
khuyến
khích Cường Ðể thành
lập Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội, thường
gọi
tắt là Phục Quốc. Tổng Hành Dinh
Lộ Quân Miền Nam của Nhật tại Quảng Châu (Canton,
hay
Guangzhou) cũng từng tổ
chức Việt Kiều tị nạn ở Trung Hoa thành một lực
lượng võ
trang, với khoảng
2,000 Việt Nam Kiến Quốc Quân, được
trang
bị từ 300 tới 400 vũ khí. (CAOM
(Aix), INF, hộp 133, hồ sơ 1120),
và giao cho Trần Phước An (bí danh Shibata) cùng
Trần Trung Lập, hai cộng sự
viên thân cận của Cường Ðể, chỉ huy. Tháng
9/1940, Kiến Quốc Quân đã
theo Sư đoàn 5 Ngự Lâm Quân Nhật tấn chiếm Lạng Sơn,
một tỉnh sát ranh giới
Hoa-Việt. Tháng 10/1940, sau khi Decoux chấp thuận
cho
quân Nhật đồn trú phía
bắc Bắc Kỳ, Sư đoàn 5 Ngự Lâm Quân triệt
thoái khỏi Lạng Sơn. Trần Trung Lập định
duy trì vùng giải phóng được, nhưng bị quân
Pháp đả bại. Lập bị bắt và xử tử
vào tháng 12/1940.
Dẫu
vậy, việc Nhật bỏ rơi Kiến Quốc Quân hay hợp tác với
chính quyền Pháp trong thế
chiến thứ II không đủ ngăn cản một số người Việt
tham gia tổ chức
Phục Quốc của
Cường Ðể: Không đủ khả năng rời nước, bị Cảnh sát
Pháp truy lùng, và do áp lực
kinh tế, số người Việt trên xin hợp tác với Nhật để
đổi
lấy sự an toàn và miếng
ăn. Sau 1943, Nhật bắt đầu đánh bóng Cường Ðể trở
lại
và tăng cường sức mạnh
của Phục Quốc tại nội địa. Tháng 2/1943, Vũ Ðình Dy
được Hiến Binh [Kempeitai]
Nhật đưa qua Ðông Kinh để tổ chức Ủy ban Kiến Quốc,
một loại
chính phủ phôi
thai dưới trướng Cường Ðể. (Cuong
De 1957:138; Thông Tin,
10/6/1945; Nguyễn Xuân Chữ 1996:242-48) Ðồng
thời, tại nội địa Việt Nam, người Nhật khuyến khích
các
đoàn thể tham gia tổ
chức của Cường Ðể. Trong
số này có các nhóm
Ðại Việt ở miền
Bắc, nhóm Ðại Việt Phục Hưng (Ki-tô
giáo)
do Ngô Ðình Diệm và anh em cầm đầu
ở miền Trung, cùng các giáo phái và
những nhóm tự nhận là Ðệ tứ Cộng sản
(Trốt-kít) miền Nam. (24)
Tháng
7/1943, một nhân vật Nhật Bản có uy tín là
Tướng Matsui Iwane tuyên bố tại Sài
Gòn rằng ông ta là bạn Cường Ðể và, “Tốt
nhất là người Pháp nên rời Ðông Dương
một cách êm ả; bằng không, họ sẽ thấy người Nhật
hành động.” Ảnh hưởng cá nhân
Matsui tại Nhật ra sao đi nữa, vào tháng 1/1945
người
Nhật đã qui tụ khá nhiều
người Việt để điều hành một nước Việt Nam độc lập
dưới quyền
Cường Ðể, với Diệm
làm Thủ Tướng. (25)
Nhưng
Tướng Tsuchihashi không muốn đưa Cường Ðể lên
ngôi, có lẽ hy vọng lợi dụng tối đa
hệ thống hành chính hiện hữu. Khi bị Tokyo áp lực
nhận Cường Ðể hồi hương,
Tsuchihashi nóng giận tuyên bố với các thuộc hạ:
“Cứ đưa hắn về đây. Ta sẽ lập
tức tống cổ hắn ra Côn Ðảo.” (“Let
them send him here. I'll at once put
him in Poulo Condore”) (26)
Quyết
định này—cùng với những yếu tố khác, như kế hoạch
hậu chiến của các đại cường,
sự phân hóa giữa các đảng phái và phe
nhóm, và bầu không khí hỗn loạn—tạo
nên
một cuộc khủng hoảng chính phủ ở Huế. Trong tháng
3/1945,
như đã lược nhắc, Bảo
Ðại hai lần gửi điện mời Diệm lập chính phủ, nhưng
không thấy hồi âm. Mãi sau
này Yokoyama mới cho Bảo Ðại biết rằng người Nhật
không muốn chọn Diệm. (27)
Từ
phía họ Ngô, mùa Thu 1945, Giám mục Thục
khai với mật thám Pháp là Thục khuyên
Diệm không nhận lời mời của Bảo Ðại vì thấy chế độ
do
Nhật lập nên khó tồn tại
lâu dài; hơn nữa quanh Bảo Ðại có những
thành phần tả phái và franc-macon
[Tam điểm] như Trần Trọng
Kim và Trịnh Ðình Thảo. (CAOM
(Aix), HCFI, CP 125) Lời chứng này
khó tin. Bức
công điện thứ nhất từ Huế gửi đi trước ngày Kim về
nước.
Công điện thứ hai gửi đi
lúc Kim vừa âm thầm trở lại Sài Gòn,
không được đón tiếp linh đình như báo
chí
Pháp hay trưởng phòng tuyên truyền Paul Mus của
Leclerc truyền tụng. Có thể
Thục không biết hoặc tảng lờ quyết định của
Tsuchihashi.
Ngoài ra, mục đích của
Thục trong cuộc thẩm vấn là biện minh cho sự hợp tác
với
Nhật của Khôi và Diệm,
một hình tội chiến tranh ở thời điểm đó, và cơ
quan tuyên truyền Pháp tung tin
có tai mắt khắp nơi, sẽ thẳng tay trừng trị những
phần tử hợp
tác với Nhật.
Phần Diệm, dù gặp Kim ở trụ sở Dainan Koosi trước
ngày
Kim ra Huế, cũng không đề
cập đến việc được Bảo Ðại mời lập chính phủ. Năm
1954, an
ninh quân đội Pháp
còn ghi rằng Diệm từ chối lời mời lập chính phủ vì
Nhật không chịu cho thống
nhất ba miền Bắc, Trung, Nam. Robert Shaplen cũng
suy đoán theo
chiều hướng
này: Diệm từ chối không vì chống Nhật mà
vì cảm thấy khó thiết lập một chính
phủ tự do—trong số những yếu tố quan trọng có việc
Nam Kỳ bị
tách biệt với Huế. (Shaplen.
1966:110;
SHAT (Vincennes), 10H xxx;)
Tuy
nhiên, tất cả chỉ là suy diễn nhằm tô hồng, chuốt
lục cho Diệm. Yếu tố tận dụng
sức mạnh người bản xứ đang có mặt trong nước của
quan tướng Nhật
cho trận đánh
cuối cùng mới là yếu tố chủ động. Lá bài
Cường Ðể, cũng như Diệm và Chữ, đã bị
loại bỏ trước khi phát động chiến dịch Meigo. Riêng
Chữ
được đích thân Kim và
quan chức Nhật mời tham gia chính quyền, từ trung
tuần
tháng 8/1945 chấp thuận
hợp tác. Ðiều Kim, Chữ và ngay cả quan tướng Nhật
khó ngờ là việc Truman sử
dụng bom nguyên tử để rút ngắn cuộc chiến. (Nguyễn
Xuân
Chữ, Hồi Ký, pp. 244-49).
Thay
vào đó, Nhật chọn Trần Trọng Kim (1883-1952), một
học giả
nổi danh và cũng nhà
giáo, lúc ấy đã lưu vong [sang Thái Lan] từ
năm 1944, dưới sự che chở của Nhật.
Phụ
Chú:
1.
Thuật ngữ Việt Nam hoá [Vietnamization]
dùng để mô
tả những diễn biến thu nhập và thực thi những biến
đổi xã
hội, kinh tế, văn hoá
và chính trị do chế độ bảo hộ Pháp cưỡng
bách áp đặt từ 1861, bị soi mòn dần từ
năm 1940-1941, rồi bị xóa bỏ từ tháng 3/1945. Dù
trong Anh ngữ, từ này còn một
hàm ý khác—như
chính sách Việt nam hóa cuộc chiến 1964-1973 của
Liên bang Mỹ—chúng
tôi
nghĩ
thuật ngữ Việt Nam hoá chính xác
hơn Việt hóa [Vietism hay Vietnamism].
Ðây
là
một chu trình liên lũy từ thời
hoang sơ của
Bách Việt, tới thời Hai Bà Trưng (40-43)-bà Triệu
(248), Ngô Quyền (938-944),
rồi Ðinh Tiên Hoàng (968-979), Lê Hoàn
(980-1005), qua nhà Lý (1009-1226), Trần
(1226-1400), Hậu Lê (1428-1528, 1593-1789), Tây Sơn
(1778-1802), Nguyễn
(1802-1945). Nó bao gồm những cuộc thay đổi triều
đại và
ý thức hệ mà nhiều người
cho là “cách mạng,” và sự phá hủy, sửa đổi
để hình thành những cơ cấu xã hội,
kinh tế, văn hóa (phong tục) mới dài theo chu
trình toàn cầu hoá của nhân loại.
2. Masaya
Shiraishi,
“La
présence
Japonaise en Indochine (1940-1945), in Paul Isoart
(Ed), L’Indochine francaise (1940-1945)
(Paris: Plon, 1982), pp. 215-41; và Ralph B. Smith,
“The
Japanese Period in
Indochina and the Coup of 9 March 1945;” Journal
of Southeast Asian Studies [JSEAS] (Sept
1978), IX, 2: 208-301.
Luận án năm
1981 của Murakami Sachiko, “Japan's Thrust into
French Indochina,
1940-1945.”
Ph.D. Dissertation, tại New York University cũng
cung cấp nhiều
thông tin bổ
ích. [Sẽ dẫn Murakami, 1981]. Sau khi bản thảo “The
Other Side”
được tạp chí JAS nhận in, chúng
tôi tham khảo thêm
Kiyoko Kurusu Nitz, “Japanese Military Policy Toward
French Indochina
During
the Second World War: The Road to the Meigo Sakusen
(9 March 1945). JSEAS (Sept 1983),
XIV: 328-53; &
Idem, “Independence Without Nationlists? The
Japanese and Vietnamese
Nationalism during the Japanese Period, 1940-1945;”
Ibid., (Mar
1984),
XV:
108-33.
3.
David G.
Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power
(Berkeley, CA: Berkeley Univ Press, 1995). Marr là
tác
giả nhiều nghiên cứu về
Việt Nam, từ 1885 tới cận đại. Hai điểm tôi không
đồng
ý với Marr là trường hợp
“Nguyễn Văn Xuân” trong chính phủ lâm thời
ngày 28/8/1945 và Chỉ thị nổi dạy
chống Pháp của Hội nghị 7 tại Ðình Bảng, Bắc Ninh.
Vũ
Trọng Khánh nhắc đến tên
Nguyễn Văn Xuân ở Hải Phòng, trong kế hoạch trục
xuất
tàu Pháp. Báo Ðộc lập
ngày 4/9/1945 ghi Nguyễn Văn
Xuân là Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Nhưng trong danh
mục đại biểu Quốc Hội khoá I
tại TTLTQG 3 (Hà Nội) chỉ có Nguyễn
Ngọc
Xuân. Trong hình chụp sau phiên họp đầu
tiên của chính phủ lâm thời cũng
không có Nguyễn Văn Xuân. Nói cách
khác, Nguyễn Văn Xuân có thể đầy tưởng tượng
như Ðảng Quốc Gia của Hồ Chí Minh, Văn Hóa Cứu Quốc
của Võ Giáp, v.. v.. Về
chỉ thị nổi dạy ngày 20/11/1940, báo cáo của quan
lại Việt là một
chứng cớ. Nên lưu ý đến thói quen sửa lại
tài liệu của Ðảng CSÐD để biện minh
cho các mục tiêu giai đoạn, như trong Brisons
nos
fer năm 1949, guồng máy tuyên truyền Việt Minh
liệt kê Trần Trung Lập
như một cán bộ.
4. The
Tokyo War Crimes Trial: The Complete
Transcripts of the Proceedings of the
International Military Tribunal
for the
Far East; Annotated, compiled and edited by
R. John Pritchard and
Sonia
Magbanua Zaide, 22 vols (New York: Garland, 1981),
và Donald S.
Detwiler,
Charles B. Burdick (Eds), War in Asia
and
the Pacific, 1937-1949, 15 vols ( New York:
Garland, 1980). Sẽ dẫn
IMTFE và
JM. Tài liệu văn khố chúng tôi sử dụng gồm tư liệu
văn khố trung ương Pháp và
Bộ Ngoại Giao tại Paris, Bộ Pháp quốc Hải ngoại tại
Aix
en-Provence, tư liệu văn
khố Bộ binh và Hải quân Pháp tại Vincennes, tư liệu
văn khố Mỹ, đặc biệt là Thư
viện Lyndon B. Johnson, và Richard M. Nixon, văn khố
Việt Nam
tại Sài Gòn và Hà
Nội, cùng tư liệu QTCS tại Nga do thân hữu gửi tặng.
Theo
qui luật của Văn khố
Bộ binh Pháp, chúng tôi không thể nêu
danh số các tư liệu, chỉ ghi 10H xxx.
Những tựa báo chính chúng tôi tham khảo gần
30 năm trước gồm Cờ Giải Phóng, Cứu
Quốc, Ðộc
Lập, La
République, L’ Entente, Dân Mới, Hải Phòng,
Ngày Nay, Thanh Nghị, Bình Minh,
Trẻ Em, Tin Mới, Lục Tỉnh Tân Văn, Dân Báo,
Sài Gòn, Tin Ðiễn, Văn Lang, Tiếng
Dân, Hưng Việt, Tiếng Súng Kháng Ðịch,
L’Action, L’Opinion Impartial,
L’Humanité, L’Indochine, v.. v.. Hầu hết lưu
trữ tại
Versailles đều đã chụp
microfilm, hiện chuyển về Thư viện Quốc Gia, quận
XIII (Paris).
5.
Trong những tư liệu mới có Kho Kinh tế [Service
économique] Ðông Dương, Nguyễn
Xuân Chữ, Hồi ký (Houston: Văn
Hoá,
1996), Vũ Ðình Hoè, Hồi ký Vũ
Ðình Hoè
(Hà Nội: Hội Nhà Văn, 2004), tr. 176 [Dụ số 1 của
Bảo
Ðại; và phê bình của Luật
sư Bùi Tường Chiểu]; Lê Văn Hiến, Nhật
Ký
một Bộ trưởng, 2 tập (Ðà Nẵng: 2004), và Văn Kiện Ðảng Toàn Tập, do Bà Trần
Thị
Nga gửi tặng. Ða tạ Giáo sư
Hoè đã dành cho chúng tôi những cuộc
phỏng vấn bổ ích trong niên khoá 2004-2005
tại Thủ Ðức (Q. 9, TP/HCM). [Xem Thư Mục Chọn Lọc]
6. SHAT
[Vincennes], Indochine,
10H xxx; báo cáo của Pereyra trong CAOM (Aix),
Indochine
Noveaux Fonds [INF], c.
133, d. 1107; báo cáo của Sabattier trong Ibid.,
Papiers
d’Agent [PA] 14, c. 1;
IMTFE: Exhibits 661-63; Nghiên cứu Nhật [JM], Tập số
25, Detwiler
và Burdick
1980: tập 6, tr. 16; L'Action, 18,
19
& 21/3/1945; Tin Mới,
11-19/3/1945; Jean Decoux, A la barre
de
l’Indochine (Paris: 1949), pp. 305-6; Nitz
1983. Xem thêm
Claude de Boisanger, On
pouvait éviter la guerre d'Indochine: Souvenirs
1941-1945 (Paris:
Maisonneuve,
1977),
và
Georges Gautier, 9
mars 1945. Hanoi au soleil de
sang.
La fin de l'Indochine francaise (Paris:
Société de
production littéraire,
1978). Nên lưu ý, tôi viết
tên tác
nhân Nhật và Việt theo trật tư văn phạm của hai quốc
gia
này, họ trước, tên
sau, khác với Tây phương, tên trước, họ sau.
7. Nippon Times (Tokyo), 14 March
1945; CAOM (Aix), HCFI, Conseiller Politique [CP],
Carton 125; Bao Dai, Le Dragon d’Annam
(Paris: Plon, 1980),
tr. 101-5;
Kurakami, “Japan's Thrust,” p. 517;
8. Phạm
Khắc Hòe, Từ triều đình Huế đến chiến
khu
Việt Bắc (Hanoi: 1983, Huế: 1987), tr. 14-9;
Idem, “Con Rồng An-Nam
phun ra
bản chất phản bội và tội ác tày trời của Bảo
Ðại,” Tap Chi Cong San, vol. XXVII,
No.11 (Nov
1982), pp. 59-61. Theo tư
liệu Nhật, tác giả tuyên cáo
này là Yokoyama;
Nitz “Meigo Sakusen,” p 311-15. Ðiều
này có lý vì
các phóng viên chiến
tranh Nhật gửi điện tín báo cáo vào
ngày 11/3/1945. Nhưng theo Phạm Khắc Hoè,
Quỳnh tự nhận đã thảo Tuyên ngôn này.
9. Vũ
Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn,
3
tập (Houston: Văn Hoá, 1999-2002)
10. Ngày Nay (Hà
Nội),
5/5/1945; Thanh Nghị (Hà Nội),
5/5/1945; trích dẫn Dụ số 1 ngày
17/3/1945 của Bảo Ðại; và phê bình của Luật sư
Bùi Tường Chiểu, trong Vũ Ðình
Hoè, Hồi ký, 2004, tr. 176-77.
Tác
giả thực sự của hồi ký Bảo Ðại bằng Pháp ngữ
có lẽ nhầm lẫn khi ghi Bảo Ðại
thông báo cho Quỳnh biết quyết định của mình
sáng ngày 19/3; Bao Dai, 1980:106.
Triều đình cũ xin từ chức ngày 19/3/1945; Phạm Khắc
Hoè, 1987:22; La Cloche Fêlée
(Sài Gòn), 26/12/1925.
11.
Phạm Khắc Hoè, 1987:20; Nguyễn Xuân Chữ,
Hồi ký,
1996:142; CAOM (Aix), SLOTFOM, III, c. 48; TTLTQG 3
(Hà Nội),
Kho Quốc Hội
[QH], Hồ sơ [HS] 5865; Ðào Duy Anh, Nhớ
Nghĩ Chiều Hôm (Hà Nội: NXB Trẻ, 1989), tr. 44;
Marr, Vietnamese Tradition On Trial,
1925-1940
(Berkeley: Univ of California Press, 1981), tr. 41,
270n50; Chính Ðạo, “Võ Nguyên Giáp (1912
[1911]-?): Nhìn Lại Lý
Lịch Tự Khai;” Hợp Lưu (Fountain Valley,
CA), số 111,
tháng 8-9/2010, tr.
111 [108-133]. Theo Ðào Duy Anh, các
lãnh tụ TVCMÐ đã ngầm bàn bạc để
ngụy tạo chứng từ trong tài liệu về Tân Việt của
Louis
Marty năm 1933. Ngày
1/1/1930, TVCMÐ đổi tên thành Ðông
Dương
Cộng
Sản
Liên Ðoàn [CSLÐ]. Trong Hồ
Chí
Minh, tập II, 1993, tr. 89, chúng tôi ghi theo
an ninh
Pháp là Lý Thụy
gửi Hà Huy Tập (Năm Nhỏ), Tổng thư ký Ðảng CSÐD
từ 1936 tới 1938, sang Nga. Văn
khố Nga tiết lộ Tập cùng Trần Ngọc Dân [Ranh] tự
động tiếp
xúc lãnh sự quán Nga
ở Dairen [Quảng Châu]; Anatoli Sokolov, Quốc
Tế
Cộng Sản và Việt Nam, bản dịch Việt ngữ Ðào
Tuấn (Hà Nội:1999), tr:
275-77. Việc này, theo Tập, do quyết định của TVCMÐ,
sau khi
tách rời khỏi
VNTNCMÐCH vào tháng 7/1928; Hà Huy Tập, “Một
số tài liệu liên quan đến Tân Việt
Cách Mệnh Ðảng” (báo cáo của ngày
4/10/1929, tại Mat-scơ-va); VKÐTT,
I:1924-1930
(Hà Nội: 2002), tr.
439-40 [433-59]. Có lẽ vì kinh nghiệm 4 lần hợp nhất
thất
bại với Thanh Niên,
Cinitchkin Tập ra mặt chống đối và phê bình Nguyễn
Ái Quấc là “cải lương” và
“quốc gia,” rồi năm 1934-1935 tiết lộ Cô Vải hay Fan
Lan Nguyễn
Thị Vịnh là vợ
Quấc [Lin].)
12. Journal Officiel de la Federation
Indochinoise [JOFI], 15/11/1945: 2-3; (SHAT
[Vincennes], Indochine,
10 H
xxx).
13.
Charles
de Gaulle, Memoires de guerre, 3
vols. (Paris: Plon, 1956-1959), vol 3, pp. 230-31;
Alain de Boissieu, Pour combattre avec
de Gaulle, 1940-1946 (Paris:
Plon, 1981), pp. 308-11,
333-36; L’ Institut Charles de Gaulle, Le
general de Gaulle et l'Indochine,
1940-1946 (Paris: Plon, 1982), pp. 174-80,
199-201; Vũ Ngự
Chiêu, Lá bài bí mật của de
Gaulle: Hoàng tử Vĩnh
Sang (Houston: Văn Hóa, 1992); Idem., Vua Cuối
Nhà
Nguyễn 2002, tập III:ch.
12.
14. Tiểu Thuyết Thứ Bảy [TTTB] (Hà
Nội),
5/5/1945.
15.
CAOM (Aix), AP, hộp 3448. Hà Ðông do Pháp đặt
ra năm 1888; hai huyện Thọ Xương
và Vĩnh Thuận đổi làm huyện Hoàn Long. tỉnh lị đặt
tại Cầu Ðơ. Năm 1890, tách
phủ Lí Nhân ra thành tỉnh Hà Nam. Năm 1909,
tách châu Lục Thủy của Hoà Bình, đặt
vào Hà Nam. Ðại Nam Nhất Thống
Chí
[ÐNNTC], q. XIII, “Hà Nội,” bản dịch Phạm
Trọng
Ðiềm và Ðào Duy Anh, 5 tập
(Thuận Hóa: 1997), 3:162n1. Hiện nay, lãnh thổ Hà
Ðông chia vào Hà Nội và Hà
Tây.
16.
“Những điều kiện để xây dựng nền độc lập;” Thanh
Nghị (Hà Nội), 5/5/1945; Vũ Ðình Hoè, Hồi
ký, 2004, tr. 173-76.
17.
Tân Á, số 53;
Ðoàn Thêm, Hai Mươi Năm Qua, tr. 4.
18. Dân Mới, 6/6/1945; TTTB,
12/5-23/6/1945; France, DGER, BR, 10 Sept 1945, p. 12;
CAOM (Aix), INF, c. 121, d. 1102; Phạm Văn
Liễu, Trả Ta Sông Núi, 3 tập
(Houston: Văn Hóa, 2002-2004), I:58-63.
19. Về
nguồn gốc tên Mặt trận
Việt Minh, xem Hoàng Văn Hoan, “Một bước ngoặt lịch
sư quan
trọng;” trong
Nguyễn Lương Bằng, et al. Ðầu
Nguồn: Hồi ký về Bác Hồ (Hanoi:
Van Hoc, 1977), tr. 97,
109-10; Nguyễn Lương Bằng, Ibid.,
1977:34; VKÐTT, 6, 2000:484-506. Về
Nguyễn Sanh Huy, xem “Biographie de Ho Chi Minh
(1949);” CAOM (Aix),
GGI, 19
PA, c. 4, d. 62;
Trần Văn Giàu & Trần Bạch Ðằng, Vàng
Trong Lửa (TP/HCM: Ban KHXH Thành
Uy, 1990), tr. I-30. Các tác giả đã lầm lẫn cho
Nguyễn Sinh Côn (mà họ ghi là
Cung) vào trường Quốc Học trước khi xảy ra cuộc biểu
tình
chống sưu thuế ở Huế
(9-15/4/1908), Ibid. I-29. Côn
được nhận vào trường Quốc Học Huế ngày
7/8/1908. CAOM
(Aix), Annam, R-1 ; Hợp Lưu
(Fountain Valley, CA, No. 109,
Tháng 8-9/2005, tr. 193; Chính
Ðạo,
“Chuyến Cầu Viện Bí Mật 1950 của Hồ Chí Minh;”
Ibid., No.
109, Tháng 3-4/2010,
tr. [5-25]; Idem., Hồ Chí Minh, 3
tập
(1993-1997) tập I; Vũ Ngự Chiêu, “Political and
Social Change;”
1984, ch. 9;
William Duiker, Ho Chi Minh (NY:
2000);
“Notice... 2/1940;” CAOM [Aix], 7F 27.
20.
Huỳnh Văn Tiểng, “Cổ vũ nhân
dân và binh địch vận;” Huỳnh Văn Tiểng et al., Làm
đẹp
cuộc
đời: Huỳnh Tấn Phát: con người và sự nghiệp (Hà
Nội:
XBCTQG,
1995),
tr.
113-14 [111-14].
21.
Commandant Supérieur des Forces Francaises en
Extrême-Orient [FFEO], 2è Bureau,
No. 2849/2, “Rapport sur les
activités de
la résistance francaise en Indochine, au profit de
la cause
Alliée; SHAT
(Vincennes), 10H xxx [78, c. 1] (13 pages) [80]
Patti 1980: 75-80;
Spector
1983: 39-40; Hong Thuy & H. N., “L’Ancien Hué:
Dès
origines à 1945; Etudes vietnamiennes
(Ha Noi): Huê, Passé et Présent,
No.
37, 1973, pp.
57-8 [25-62]. Mission Militaire en Chine [MMC], BR
No. 1055/50/R,
ngày
1/2/1945; CAOM (Aix), AP 3448, d. 4.
22. Báo cáo
ngày 22/8/1945, William J.
Donovan gửi Byrnes; Bộ Quốc Phòng, US-Vietnam
Relations,
1947-1967 (Washington, DC: GPO, 1971), Bk I, C
58-9, 67; The Pentagon Papers
(Gravel), vol. I,
pp. 17, 20, 50, 51; Charles Fenn, Ho
Chi
Minh: A Biographical Introduction (New York:
1973), 71-5, 76-7,
78, 81;
Robert Shaplen, The Lost Revolution (NY:
Harper
& Row, 1965), tr. 30; US Congress, Senate. Causes,
Origins,
and
Lessons of the Vietnam War, Hearings before the
Committee on Foreign Relations, 92nd Congress, 2nd
Session, May 1972 (Washington:
GPO,
1973),
tr. 249; Archimedes L. A.
Patti, Why Viet-Nam? Prelude
to America's
Albatros (Berkeley, Cal.:
Univ of California
Press, 1980),
tr. 29-30, 31,
46, 50, 51; Chính Ðạo, Hồ
Chí Minh: 1993, II :356; Marr, Vietnam
1945,
1995: 209n189, 227-29, 241, 282-85, 288-91, 304n33,
476-79, 482-90, 498-501, 538-39; Lê Tùng Sơn,
1978:110-12
[Mỹ thả 2 đợt, gần
80,000 truyền đơn của Việt Minh xuống Hà Nội, Huế và
Việt
Bắc]; Ðàm Quang Trung
[Ðàm Ngọc Lựu, 1921-1985], “Từng có một đội
quân hỗn hợp Việt-Mỹ tiến vào Hà
Nội;” Tuổi Trẻ (Saigon), vol. 11,
no. 34-93 (514), 29/8/1993, tr. 5; Phùng Thế Tài, Bác Hồ những kỷ niệm không quên
(Hà Nội:
QÐND, 2002), tr. 57-63,
82-7; Lê Giản, “The Story of An Exile;” Vietnam
Courrier, 1980:17-20;
23. Ðộc Lập (Hà Nội), 4/9/1945;
Vũ Ðình Hoè, 2004:718, 795, 797-98. Ðầu năm
1946, Long bị Việt Cách
giết; Lê Tùng Sơn, 1978:186; Sokolov, Quốc
Tế
Cộng Sản, 1999:269-70. Xem thêm “Báo cáo của
LHP tại Ðại Hội VII QTCS
(15/1/1935);” Lê Hồng Phong (Hà
Nội:
2002), tr. 685 [685-697], & “Thư ngày 7/2/1932,
Vera I.
Vasilyeva gửi
Litvinov [LHP];” LHP, 2002:742-43.
24.
SHAT [Vincennes], Indochine, 10H xxx; CAOM (Aix),
INF, hộp 133, hồ sơ
1120;
GOUGAL, 7F 27 (báo cáo tháng 1/1940, và
HCFI, CP, hộp 125, 161. Nhóm La Lutte
(Tạ Thu
Thâu, Phan Văn Chánh,
Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường và Trần Văn Thạch (thực
ra chỉ
tả khuynh), cùng vài nhóm
thợ thuyền “Trốt-kít” xuất hiện cuối năm 1939, đầu
1940, thời
gian này đã bị
Pháp dùng tòa án để bắt giữ, cô lập,
hay tập trung cải tạo. Ðầu năm 1941, do sự
tố cáo của các nhóm Stalinist, Pháp bắt giữ
một nhóm Trốt-kít mới thuộc Việt Nam
Nhơn
Dân Cách mạng Ðảng, qui tụ
nhiều trí thức miền nam như Võ Oanh, Phan Khắc Sửu,
Dương
Văn Giáo, Nguyễn Văn
Nhã, Trần Văn Ân, Trần Quốc Bửu, v.. v.. Sau khi
được
phóng thích vào tháng
7/1941, một số tìm sự che chở của Nhật. Xem CAOM
(Aix), 7F 27,
và CP 161. Ða tạ
Y sĩ/Giáo sư Trần Nguơn Phiêu đã tặng tác
phẩm về Phan Văn Hùm, và hồi ký/ biên
khảo của Ngô Văn về các nhóm Trốt kít. Theo
Ngô Văn, ông ta từng gặp Trần Văn
Giàu năm 1936 tại Khám Lớn Sài Gòn. Nhưng
theo tài liệu Mật thám Pháp, Giàu bi
kết án đầy Côn Ðảo từ năm 1935, và năm 1940,
sau khi mãn hạn tù, bị đưa thẳng
vào trại Tà Lài (Biên Hòa).
Tháng 3/1941, Giàu cùng môt số cán bộ
“trốn thoát”
khỏi Tà Lài, tái tổ chức Xứ ủy Nam Kỳ.
25.
CAOM (Aix), INF, hộp 133, hồ sơ 1210; AP, 366;
GOUGAL, 7F 29 và
63, và HCFI, CP,
hộp 125, 161.
26.
CAOM (Aix), INF, hộp 133, hồ
sơ 1199; Murakami, “Japan's Thrust,” p. 511. Cựu Cố
vấn Tối cao
Yokoyama tiết
lộ Bảo Ðại được chọn vì “ông ta đang ở đó;” [he
is there]; Huynh Kim Khanh, Vietnamese
Communism, p.
295 n8.
27.
CAOM (Aix), PA 14, hộp I; Nguyễn Xuân Chữ, Hồi
ký, (Houston: Văn Hoá, 1996), tr 243-49;
Shiraishi
1982: 226-27.
Phần
II
II. CHÍNH PHỦ TRẦN
TRỌNG KIM (17/4 -
25/8/1945)
Mặc
dù chính phủ Trần Trọng Kim chỉ là một thứ “tai
nạn lịch sử,” được khai sinh do
nhu cầu quân sự của Nhật, chính phủ được Nhật bảo
trợ
này soi sáng mặt trái của
đồng tiền cách mạng 1945 tại Việt Nam, mà cho tới
năm
2011 còn bị che phủ bởi đủ
loại tài liệu tuyên truyền. Ðể có thể hiểu
rõ tình trạng phức tạp tại Việt Nam
trong giai đoạn từ tháng 3 tới tháng 8 năm 1945, ta
cần
khảo sát lai lịch các
thành viên chính phủ Kim, các kế hoạch lớn
và sự hiện thực chúng của chính phủ
này—và đồng thời, tầm mức quan trọng của chúng ở thời điểm nghiên cứu.
A.
Những
Người Tài Ðức:

Trần Trọng Kim (1883-1953)
(chân
dung trong Việt Nam Sử Lược)
Trần
Trọng Kim sinh năm 1883 tại Hà Tĩnh (An Nam). (28)
Sau một thời
gian ngắn làm
thông ngôn ở Ninh Bình (Bắc), năm 1905 Kim theo chủ
qua Pháp làm việc cho một
hãng tư. Ba năm sau, Kim được học bổng của Trường
Thuộc Ðịa
để theo học trường
Sư Phạm Melun (Seine-et-Marne). Hồi hương vào tháng
9/1911, Kim khởi đầu nghề
giáo tại An Nam và leo dần nấc thang công chức. Năm
1942, Kim đã là một thanh
tra tiểu học miền Bắc.
Trái
ngược với sự thăng tiến chậm chạp trong ngành Sư
Phạm, Kim nổi
danh toàn quốc
như một học giả qua một số sách giáo khoa tiểu học
bằng
quốc ngữ và, đặc biệt,
những biên khảo về Nho Giáo, Phật Giáo, và
lịch sử phổ thông Việt Nam. Nhờ danh
tiếng trong làng văn, Kim trở thành một nhân sĩ,
trong các hội Phật Giáo và
Khổng Giáo, và năm 1939, được bổ nhiệm làm
Dân biểu miền Bắc. Sau khi Nhật ép
Ðông Dương gia nhập Khối Thịnh Vượng Chung Ðại
Ðông Á trong hai năm 1940-1941,
vài ba học giả Nhật tiếp xúc với Kim. Những cuộc
tiếp
xúc này, cùng việc gia
nhập một tổ chức “tiến bộ” ở Hà Nội, khiến Kim bị
chính
phủ Decoux nghi ngờ.
Khi Decoux khởi đầu cuộc thanh trừng những người
Việt thân Nhật
trong mùa Thu
1943, Kim có tên danh sách sở Liêm
Phóng (Mật Thám). Ngày 28/10/1943, để đề
phòng bất trắc, người Nhật đưa Kim tới Sở Hiến Binh
Hà
Nội để bảo vệ an ninh.
Tại đây, Kim gặp Dương Bá Trạc, một đồng tác giả
cuốn tự điển đang hoàn tất.
Theo Kim, Trạc thuyết phục Kim ký một thỉnh nguyện
thư xin được
qua Chiêu Nam
Ðảo (Singapore) tị nạn. Ðầu tháng 11/1943, người
Nhật
đưa Kim vào Sài Gòn. Sau
một thời gian ngắn tạm trú trong sở Hiến Binh, Kim
và
Trạc trở thành khách quí
của Ðại Nam Công Ty [Dainan Koosi], một hãng
buôn Nhật, mà chủ nhân là
Matsushita Mitsuhiro [Tùng Hạ], nổi danh với những
hoạt động
tình báo từ thập
niên 1930.
Ngày
1/1/1944, Kim và Trạc xuống tàu Nhật qua Chiêu Nam
Ðảo. Sau hơn một năm sống
tại đảo cảng này và sau khi Trạc chết vì ung thư
phổi vào tháng 12/1944, Kim được
đưa lên Bangkok. Ba tháng sau, ngày 30/3/1945,
người Nhật đột ngột mời Kim về
Sài Gòn tham khảo “lịch sử.” Người phụ trách hộ
tống Kim cũng là viên Trung úy
Kempeitai từng đưa Diệm rời Huế ngày 12/7/1944. Kim
được yết
kiến Tướng
Kawamura (Saburo?), Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn 38
Nhật,
và Trung tá Hayashi
Hidezumi, Trưởng phòng Chính trị vụ. Kawamura cho
biết
Kim có tên trong danh
sách nhân sĩ được Bảo Ðại mời ra Huế tham khảo về
việc
thành lập chính phủ.
(29)
Theo
Kim, danh sách Nhật đưa ra có Hoàng Trọng Phu, Vũ
Ngọc Hoành, Trịnh Bá Bích,
Cao Xuân Cẩm và Hoàng Xuân Hãn. Kim
nhận lời vì danh sách có Hãn, một bạn trẻ
đồng
hương, đồng nghiệp và đồng tác giả cuốn tự điển Khoa
học. (Kim,
1969:42-3, 48)
Ngày
2/4/1945, Kim rời Sài Gòn, và tới Huế ba
ngày sau. Ngày 7/4, Bảo Ðại tiếp kiến
Kim và, trong sự ngạc nhiên của Kim, Bảo Ðại
“có vẻ trang nghiêm và nói những điều
rất đúng đắn.” Bảo Ðại cũng tiết lộ
đã mời
cả Diệm. (Kim 1969:49-50) Yokoyama còn chu
đáo
đón vợ con Kim vào Huế
cho gia đình đoàn tụ. Bởi thế, Kim quyết định ở lại
Huế
lâu hơn, và cuối cùng
ngày 16/4 đồng ý lập chính phủ. Hôm sau, Kim
đệ trình Bảo Ðại một danh sách 10
Thượng thư (Bộ trưởng) mà theo ông là những người
tài đức. (30)
Danh
sách chính phủ Trần Trọng Kim
(17/4/1945)
Trần
Trọng Kim (1883), Trung;
Sư phạm, Pháp. Giáo
chức (Tổng lý);
Trần
Văn Chương (1898), Nam,
Pháp. Luật
sư; (Ngoại Giao/Phó Tlý);
Trần
Ðình Nam (1896), Trung,
Hà Nội. Y sĩ; (Nội vụ)
Trịnh
Ðình Thảo (1901), Bắc,
Pháp. Luật
sư. (Tư pháp);
Vũ
Văn Hiền (1910), Bắc,
Pháp. Luật
sư, (Tài chính);
Hoàng
Xuân Hãn (1908), Trung,
Pháp. Giáo
sư, (Giáo dục & Mỹ thuật);
Vũ
Ngọc Ánh (1901), Bắc,
Pháp. Y
sĩ, (Y tế & Cứu tế);
Hồ
Tá Khanh (1908), Trung,
Pháp. Y
sĩ, (Kinh tế);
Phan
Anh (1912), Trung,
Hà Nội. Luật
sư (Thanh Niên);
Nguyễn
Hữu Thí (1899) Trung,
Y sĩ Ðông Dương. Thương
gia. (Tiếp tế);
Lưu
Văn Lang (1880), Nam,
Kỹ sư; (Giao thông-Công chánh)
(không nhận)
(L'Action, 19/4
& 2/5/1945).
Ngoại
trừ Lưu Văn Lang, quốc tịch Pháp, từ chối chức Bộ
trưởng, những
người còn lại
tới Huế trong tháng 4 và tháng 5/1945. Một tuần
sau ngày lập chính phủ, Kim
chọn Trần Văn Chương, Chánh thẩm Tòa Kháng
án Hà Nội, làm Phó Thủ tướng. (31)
Kim
cũng lập nên Phủ Khâm Sai Bắc
Bộ. Ngày 27/4/1945, Phan Kế Toại, một cựu học sinh
Trường Thuộc
Ðịa và đương
kim Tổng đốc Thái Bình, được đưa lên chức vụ
Khâm sai đại thần Bắc bộ mới tái
lập này. (32) Trừ trường hợp Bộ trưởng bộ Nghi Lễ,
Tôn
Thất Toại, con Tôn Thất
Hân, được cử lên hai tháng sau (33), nhóm
“người mới” này gồm toàn những chuyên
gia tân học—hai giáo viên trung học, bốn luật sư,
và bốn y sĩ. Hầu hết đã là ký
giả hay văn sĩ. Ða số—ngoại trừ Anh, Nam và Thí—đều
tốt nghiệp ở Pháp; và, tất
cả còn tương đối trẻ, từ 33 tới 49 tuổi, ngoại trừ
Kim, năm ấy
đã 62. Tất cả đều
đã tiếp xúc với Nhật, cách này hay
cách khác. Anh và Hãn còn được coi
như tín
cẩn của Tướng Mordant, đại biểu de Gaulle tại Ðông
Dương. Tất
cả đều thiếu kinh
nghiệm chính trị, dù có đôi chút uy
tín qua liên hệ huyết thống và giáo dục.
Ba
người
có khuynh hướng làm chính trị là Chương,
Nam và Khanh. Vì liên hệ gia đình, Chương
đã chuẩn bị bước vào phe hợp tác với Pháp
trước ngày Nhật chiếm Ðông Dương, nhưng
dần đần trở thành thân Nhật trong thập niên 1940.
(34) Nam thuộc nhóm Tiếng Dân của
Huỳnh
Thúc Kháng ở Huế—tàn
dư phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh thập
niên 1900 và Tân Việt Cách Mạng
Ðảng trong thập niên
1920. (35) Khanh—con một chủ hãng nước mắm ở Phan
Thiết
mà theo truyền thuyết đã
chăm sóc Phó bảng Trinh năm 1906 khi Trinh ghé
tỉnh này, rồi cho Nguyễn Sinh
Côn (Tất Thành) một chỗ dạy tại Dục Thanh “nghĩa
thục” từ
“tháng 1 tới tháng 9
hay 10” năm 1911 [sic] (36) —thường tự nhận là “vô
chính phủ.” Trong thập niên
1920, khi đang du học Pháp, Khanh (số nhập cảnh
Marseille 2124)
có những hành
vi nghiêng về Ðệ Tam QTCS. Tháng 3/1930, từng hai
lần
xuất hiện bên Nguyễn
Khánh Toàn, một giảng viên Viện Thợ Thuyền Phương
Ðông [KUTV], và đề nghị Công đoàn
thủy thủ gốc Việt ở Hâvre và Marseille sửa đổi điều
lệ để
đón nhận các sinh
viên thành một hội duy nhất, dưới sự che chở của
Ðảng
Cộng Sản Pháp, theo ý
muốn của “Nguyễn Ái Quốc” (nhập cảnh số Marseille
2330) “đang ở
Nga” [điều này
không đúng. Côn đang ở Xiêm và
Singapore]. (37) Về
nước,
Khanh thuộc nhóm báo Văn Lang, gồm
một số thanh niên trí thức ở Sài Gòn như
Nguyễn Văn Nhã, Kha Vạng Cân và Phạm
Ngọc Thạch (một cán bộ Ðệ tam).( 38)
Trong thời
Nhật chiếm đóng, tình báo Pháp ghi nhận
nhóm Văn Lang có liên hệ với tổ chức
thân Nhật Việt Nam Tân Chính Ðảng, một
điều
sau
này
Khanh
phủ nhận. (CAOM
(Aix), PA 14, hộp 2; phỏng vấn Hồ
Tá Khanh, Ðông 1982-1983) Tuy
nhiên, liên hệ giữa Khanh với các
nhóm thân Nhật là điều khó phủ nhận.
Mùa Xuân 1943, Khanh tham dự ít nhất hai
buổi họp của Phục Quốc tại Sài Gòn.
(CAOM
(Aix), CP, hộp 161). Sau
khi Nhật thanh trừng Pháp, Khanh lập
nên Hiệp Hội Công Chức và Kỹ Thuật,
đòi hỏi
thay thế ngay các viên chức Pháp bằng người Việt.
Một trong những người ủng hộ
Khanh là Ðỗ Dư Ánh, anh vợ Khanh. Khanh cũng được
Trần Văn Giàu móc nối, khuyến
khích nên tham gia chính phủ Kim “để có
người mình tại đó.” (Phỏng
vấn, Ðông 1982-1983)
Chính
phủ Kim, tưởng cần ghi nhận, có đủ đại diện ba miền.
Phó
Thủ tướng Chương gốc
miền Nam; hai Bộ trưởng Khanh và Thảo, sinh tại
Trung và
Bắc, nhưng sống tại
Sài Gòn khi được mời tham gia chính phủ. (39)
Khuynh hướng ý thức hệ của họ
không đồng nhất, phân trải từ danh lợi cá nhân
của Chương tới vô chính phủ của
Khanh. Nhưng ai nấy đều muốn lãnh đạo.
Tại
miền nam, các giáo phái và phe nhóm
chính trị—từ đệ tam tới đệ tứ CS, quân
phiệt tới giáo phiệt—đều xuất hiện trên sân khấu hội
trường và đường phố. Hoạt động
mạnh nhất là nhóm Phục Quốc. (CAOM
(aix), GOUGAL, 7F 29 (1) Hội
đoàn lan mọc như nấm. Năm ba, vài
chục người cũng có thể lập nên một đảng hay mặt
trận. Bảng
hiệu quốc cấm “hội
kín,” “cách mạng,” hay “làm chính trị” trở
thành một thứ thời trang. Trong khi đó,
Xứ ủy CSÐD chia hai. Giàu, Bùi
Công Trừng, Hoành, Lý
Chính Thắng các
công đoàn, hiệp hội nông dân, Thanh
Niên
Tiền
Phong, và các nhóm thân Nhật xung
danh Ðông
Dương Cộng
Sản Ðảng, cờ vàng sao đỏ, có báo Tiền Phong. Từ
tháng 4-5/1945, nhóm
Phạm Văn Vi [Di], (mới ở
Bà Rá
trốn về), Nguyễn
Thị Thập lập nên một xứ ủy CSÐD và mặt trận Việt
Minh
với kỳ hiệu Cờ Ðỏ Sao
Vàng, có báo Giải Phóng chống
lại Giàu. (40)
B.
Các
Kế Hoạch Của Trần Trọng Kim
Tài
liệu chính thức của Cộng sản Việt Nam và các học
giả thường hạ thấp giá trị
những kế hoạch của chính phủ Kim như “cải cách
giấy,” hay
độ lượng hơn, chỉ
thuần là những tuyên cáo về ý định của
chính phủ. Từ thời điểm này của lịch sử
nhìn lại, trong bốn [4] tháng cầm quyền, chính phủ
Kim chỉ có thì giờ ban hành
hết dụ này qua sắc luật khác, và những cuộc cải
cách ấy có rất ít ảnh hưởng đến
đám đông. Tuy nhiên, các kế hoạch của Kim
xứng đáng được nghiên cứu đầy đủ hơn
những nhận định sơ sài trên. Các kế hoạch của
chính phủ Kim phản ảnh quan điểm
tổng quát của giới thượng lưu và trí thức Việt về
một nước Việt Nam không-ảnh-hưởng
Pháp, ở cao điểm của chủ thuyết Ðại Á và tinh
thần quốc gia Việt Nam. Hơn nữa,
trái ngược với niềm tin phổ quát, Kim và
các cộng sự viên phần nào thực hiện
những chương trình trên. Bởi thế các kế hoạch của
Kim xứng đáng được nghiên cứu
vào sâu chi tiết, và trên vị thế lịch sử của
chúng.
1.
Vấn Ðề Hiến Chương:
Kim
và các Bộ trưởng dành khá nhiều thì
giờ cho vấn đề Hiến Chương khi hội đồng
chính phủ họp lần đầu tiên ngày 4/5/1945. Một trong
những quyết định là đổi
quốc hiệu thành Việt Nam. Vào thời điểm này,
đây là một vấn đề quan trọng và,
khẩn cấp. Nó hàm ý sự thống nhất lãnh thổ;
“Việt Nam” là quốc hiệu do Jaqing
[Gia Khánh] nhà Thanh đặt ra từ năm 1804, sau khi
Gia
Long (1802-1820) thống
nhất ba miền vào năm 1802 và xin cầu phong. Hơn nữa,
đây là lần đầu tiên lãnh đạo
ba miền đồng ý chọn quốc hiệu này. Trong tháng
3/1945, chẳng hạn, giới lãnh đạo
miền Bắc chỉ sử dụng “Ðại Việt,” trong khi ở miền
Nam sính
dụng tiếng “Việt
Nam,” và tại miền Trung thì “An Nam” hay “Ðại Nam.”
Tưởng nên ghi nhớ là từ năm
1925, Nguyễn Sinh Côn mới được Việt-Nam-hóa, đặt tên
cho hội Thanh Niên của
mình là Việt Nam Thanh Niên
Kách Mệnh
Ðồng Chí Hội. Trước đó, trong thỉnh nguyện
thư 8
điều năm 1919, và tên gọi
của đảng chính trị đầu tiên do Côn đặt ra, An
Nam Quốc Dân Hội, chỉ dùng tên An Nam. Năm
1930,
Côn bị thất sủng với Ban
Phương Ðông QTCS vì tự động thống nhất các chi
phái Thanh Niên thành Việt Nam Cộng
Sản Ðảng! Mat-scơ-va phải
gửi Trần Phú về triệu tập Hội nghị Trung Ương thứ
nhất ở Ma Cao
để cải danh
thành Ðông Dương Cộng Sản Ðảng.
Kim
cũng cải danh ba miền trong nước—miền Bắc (tức Bắc
Kỳ) trở thành
Bắc Bộ, miền
Trung (Trung Kỳ hay An Nam) thành Trung Bộ, và miền
Nam
(Nam Kỳ) thành Nam Bộ—dù
lúc này Kim mới chỉ có thẩm quyền tại miền Trung
và Bắc. Thuận Hoá, tên cũ của
Huế, được dùng lại. Các cộng sự viên của Kim cũng
thay từ Annamite, dùng để chỉ người
Việt
và đặc tính người Việt trong văn
chương và giấy tờ, công văn thời Pháp, bằng Vietnamien.
Những từ mới này, ngoại trừ tên Thuận Hoá, từ
đó được cả thế giới công nhận.
Nếu lưu ý đến việc người Pháp đã cố tình
phân biệt ba xứ “Tonkin,” “Annam” và
“Cochinchine”—với
hàm ý là thiếu nền văn hóa và
chính trị quốc dân—những việc làm đầu tiên
của Kim
không chỉ có tính cách biểu trưng mà
là hậu quả đương nhiên của nhiều thập niên
dài khủng hoảng của giới trí thức và cách
mạng.
Ngày
2/6/1945, Kim còn chọn quốc kỳ mới—nền vàng, ba sọc
đỏ
theo hình quẻ ly [một
gạch đứt quãng nằm giữa hai gạch liền] trong Zhou I
hay I Ching [Kinh Dịch]—và
tạm lấy bài Ðăng Ðàn Cung làm quốc thiều. (L'Action, 30/6/1945). Quyết
định của Kim chấm dứt cuộc tranh luận kéo dài 3
tháng về vấn đề cờ. (L’Action (Hanoi), 7/5 &
30/6/1945;
Kim, 1969:60-1)
2.
Ðoàn Kết:
Mặc
dù đoàn kết quốc gia là một hiện tượng ngoại lệ
hơn thông thường của một xã
hội, người Việt thường lên án Pháp cố tình
chia rẽ đất nước và dân chúng để dễ
cai trị—một lời cáo buộc hợp lý. Nước Việt Nam mới,
độc
lập, như thế cần chất
xi-măng “đoàn kết quốc gia,” trên cả hai lãnh vực
“tinh thần và chính trị” (L'Action,
21/7/1945), để nối kết các đảng
phái và giai tầng xã hội. Cay đắng là sự
kêu gọi đoàn kết mang lại nhiều nguy
hại hơn lợi ích cho chính phủ Kim.
Thời
gian này, xã hội Việt Nam đang ở vào tình
trạng tiền-cách-mạng. Việc loại bỏ người
Pháp khỏi đỉnh tháp xã hội—sau một thời gian
dài, từ 1940 tới 1945, mà uy tín
và quyền lực người Pháp bị suy giảm—tạo nên khuynh
hướng vượt tiến của giới thượng
lưu và trí thức Việt. Chiến tranh và nạn
đói khiến tình trạng hỗn loạn ngày một
gia tăng và tạo nên sự sụp đổ thế quân bình
biểu kiến mà người Pháp khôn khéo
duy trì được nhờ sức mạnh quân sự và hành
chính. Bởi thế, Việt Nam cần nhiều hơn
những chuyên viên để chuyển hướng những lực cách
mạng đó. Ðất nước cần sự lãnh đạo
nhiệt thành, thuyết lý chính trị tốt và sức
mạnh quân sự cũng như hành chính mà
chính phủ Kim không có.
Sự
thiếu lãnh đạo là điều quá hiển lộ. Bảo Ðại
đã được huấn luyện thành một ông
vua ở ngôi mà không cai trị, không thể
lôi cuốn sự ủng hộ của đám đông. Kim là
một nhà giáo dục được quí trọng, từng huấn luyện
nhiều trí thức Việt cũng như
có ảnh hưởng đạo đức với nhiều thị dân, nhưng không
thích nghi với tình trạng
chính trị lúc đó. Thực ra, như trong một tai nạn,
Kim chỉ bị đẩy vào sinh hoạt
chính trị từ cuối năm 1943; trước đó Kim đứng
ngoài chính trị. Ông đã được giao
chức Thủ Tướng vì là một người được nể trọng, nhưng
không có đảng phái hay người
ủng hộ. Trong số những người dưới quyền Kim, có
những người trẻ
tài năng như
Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh và Vũ Ngọc
Ánh; tuy nhiên, họ chỉ là các chuyên
gia hơn
những nhà chính trị hay tổ chức; chính sách
của Pháp đã ngăn chặn không cho
những cá nhân này thu thập được kinh nghiệm
hành chính.
Lớn
khôn lên trong quĩ đạo văn hóa Pháp,
và đã thu học kiến thức chính trị từ những
tác phẩm đặc thù Pháp cùng những ý
niệm bình dân về các anh hùng kháng
Pháp,
Kim và cộng sự viên không đủ khả năng sơ thảo một
lý thuyết thực dụng. Mặc dù
họ thấy chủ nghĩa Mác-Lênin quá thiên tả,
và độc tài, tàn nhẫn, quan điểm chính
trị của họ chỉ là sản phẩm của kinh nghiệm riêng
giai tầng
xã hội họ, chẳng đủ để
cai trị một xã hội hỗn loạn. Họ quan niệm một mẫu
quốc dân
lý tưởng là người
tổng hợp đầu óc “khoa học” với đức hạnh “cổ
truyền”—một
thí dụ của cuộc tổng
hợp văn hóa Ðông-Tây. (L'Action,
4/7/1945). Thật
bất hạnh là sự tổng hợp văn hóa ấy chỉ đơn thuần
là ước muốn, quá mơ hồ trong
tình huống lúc đó. Ðồng thời, và vượt
trên khả năng họ, Nhật đã quyết định trước
loại học thuyết chính trị nào mà “Tân”
Ðế quốc Việt Nam phải theo—tức “hỗ tương”
hay độc lập “vệ tinh.”
Cả
người
Nhật lẫn Kim đều không muốn thấy sự thay đổi quá
nhanh
trong guồng máy hành
chính, nên cơ cấu thư lại do Pháp dựng lên
được duy trì gần như trọn vẹn. Tuy
nhiên, trong những ngày đầu sau cuộc thanh trừng của
Nhật,
một tình trạng hoang
mang hiện hữu. Vài quan lại và công chức bỏ nhiệm
sở, tị nạn tại các thị trấn
hay thành phố lớn. (L'Action,
27/6/1945). Trong
hoàn cảnh này, cần nhiều tháng mới có thể
trở lại bình thường. Nhưng thời gian
không ở về phía Kim. 4 tháng sau ngày
ông ta lên cầm quyền, Nhật sụp đổ, mang
theo chính phủ Kim.
Trong
những khu vực mà Kim có thể kiểm soát—tức
các thành phố và thị trấn tại miền
Bắc và miền Trung cùng các trục lộ nối liền
chúng với nhau—Kim thực hiện được
một số cải cách nhỏ. Vài quan viên bị mang tiếng bị
cách chức, và vài người bị
truy tố. (L'Action, 2/5/1945; Chữ 1996:264-65).
Cuộc
thanh lọc này không thỏa mãn những người quá
khích, vì họ đòi hỏi phải đổi thay
toàn bộ và nhanh chóng trên mọi lãnh
vực.
Tuy
nhiên, cho dù Kim muốn thực hiện điều này, cũng
không đủ nhân sự có khả năng.
Như thế, chính cái lý do khiến Kim được giao chức
Thủ Tướng—một người không đảng
phái—đã tạo khó khăn cho ông ta.
Kim
chỉ còn biết hy vọng cải thiện hệ thống quan lại
hiện hữu bằng
cách kêu gọi
tinh thần đạo đức và yêu nước trong giới này.
Ông tổ chức quan lại thành Công
chức Tổng Hội, hy vọng biến họ thành một sức mạnh
chính
trị. (L'Action, 25/5/1945). Thoạt
tiên, giới công chức nhiệt thành đáp ứng.
Nhưng niềm khích động vì mới thu hồi độc
lập không đủ cải thiện thực trạng kinh tế. Trong khi
đó
phe Ðồng Minh, cán bộ
của De Gaulle và đặc biệt là Mặt Trận Việt Minh do
OSS
bảo trợ tiếp tục thách đố
tính cách hợp pháp và uy quyền của
chính phủ. (Marr,
1995:145-48) Sự tổng hợp các yếu tố trên khiến nhiệt
tình giới công chức suy
giảm dần. Họ
hững hờ đến độ vào tháng 7/1945, Bộ trưởng Thanh
Niên Phan Anh công khai chỉ
trích thái độ bình chân như vại, và
quyết định tập hợp các công chức trẻ thành
một nhóm “thanh niên công chức.” (Tinh
Tiến, 7/8/1945).
Sức
mạnh quân sự–một yếu tố có thể giúp Kim ngăn chặn
được sự thách thức của các
phe nhóm khác thì hoàn toàn vượt
ngoài sự kiểm soát của Kim. Chính phủ Kim
không có Bộ trưởng Quốc Phòng. Một số lính
khố đỏ, thời Pháp thuộc được tổ chức
thành Việt Nam Nghĩa Dõng Quân,
nhưng
trực thuộc người Nhật. Cảnh sát được tái tổ chức,
và cũng do người Nhật chỉ
huy. Phải tới tháng 6, tháng 7, khi người Nhật đồng
ý trên nguyên tắc trả lại
Nam Bộ cho chính phủ Kim, Kim mới được quyền tổ chức
một lực
lượng Bảo An [khố
xanh], nhưng lúc này tình thế đã bất khả
phục hồi. (IMTFE,
Exhibit
663; Hải Phòng, 16/7/1945; L'Action,
3 & 9/8/1945). Như
thế, quân đội Nhật là sức mạnh quân sự duy nhất của
Kim. Chính phủ Kim chỉ có
thể hiện hữu khi quân Nhật còn hiện diện ở Việt Nam.
Tất
cả những yếu tố trên hợp lại khiến chính sách
đoàn kết quốc gia của Kim chỉ là
con cọp không móng. Kim và các cộng sự
viên không đủ phương tiện mang lại sự đoàn
kết quốc gia hữu hiệu. Ðã hẳn, để yểm trợ chính phủ
Kim, Nhật bảo trợ việc
thành lập Tân Việt Nam Hội—qui tụ
nhiều nhân vật trí thức tên tuổi, được dự trù
là chính đảng duy nhất của Việt
Nam. Linh hồn của tổ chức này, theo tư liệu Pháp,
là Luật sư Vũ Văn Hiền. Sau
ngày được cử vào nội các, Hiền triệu tập một buổi
họp nhóm Thanh Nghị và yêu cầu yểm
trợ chính phủ với điều kiện “độc lập thực
sự,” “dân chủ thực sự.” (Vũ
Ðình Hoè, 2004:166-67) Vũ
Ðình Hoè và mọi người đồng ý vận động
cho Tân
Việt Nam Hội. Ngày
5/5/1945, báo Thanh Nghị
tái bản sau hai tháng đóng cửa. Ngay trong số
báo này
công bố thành lập Tân Việt Nam Hội,
trụ sở 24 phố Hàng Da, Hà Nội. 19 trong số UVTƯ Lâm
thời thuộc nhóm Thanh Nghị. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:168-72) Ðồng
thời báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới
của
Nguyễn Tường Bách, Tiểu Thuyết Thứ Bảy
của Phùng Bảo Thạch, (Hoè, 2004:169n2) và Hải
Phòng Nhật Báo của Nguyễn Thế Nghiệp cũng tái
bản và có đại diện tham gia Tân Việt
Nam Hội. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:192n2)
Ngày
16/5, Tân Việt Nam Hội chính thức
ra
mắt. Trần Trọng Kim tuyên bố Tân Việt Nam sẽ là đảng
chính trị duy nhất của nước
Việt Nam, và đã cho lệnh thành lập tại mỗi tỉnh
một chi bộ để đoàn kết dân tộc
và củng cố nền độc lập của Tổ quốc. Nhiều trí thức
ba
miền đều tham gia. Ngày
2/6, chi bộ thứ nhất là chi bộ Thuận Hóa được
thành lập, với Tôn Quang Phiệt
làm Tổng thư ký. Phiệt hùng dũng tuyên bố
“Phục hưng tổ quốc, Ủng hộ chính
phủ.”(41)
(L'Action, 9/6/1945; Tin
Mới,
9/6/1945; Sài Gòn, 12/6/1945).
Tuy
nhiên vừa tròn một tháng sau ngày
thành lập, Tân Việt Nam bắt đầu bị phân hoá.
Dương Ðức Hiền thuyết phục Vũ Ðình Hoè gia nhập
Dân Chủ Ðảng do Việt Minh bảo
trợ. Ngày 6/7/1945, Hoè vào Huế gặp Phan Anh
và Vũ Văn Hiền để chuyển chỉ thị
VM cho Anh và Hiền từ chức. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:188-89). Anh
và Hiền hẹn sẽ ra Hà Nội hôm sau. Hoè được
gặp Tôn Quang Phiệt và Phạm Khắc
Hoè, nói rõ mục đích chuyến đi của
mình. Ít ngày sau, Vũ Ðình Hoè
cùng Nghiêm
Xuân Yêm, Ðỗ Dức Dục gặp Anh và Hiền ở Hà
Nội. Vũ Văn Hiền cương quyết không đồng
ý. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:189-92) Ngày 22/7/1945,
Tân Việt Nam Hội tuyên bố tự giải tán. (Tin
Mới, 30/7/1945; Hải Phòng,
31/7/1945; L’Opinion-Impartial,
1/8/1945). Cuối
tháng 7/1945, Hoè bí mật đi chiến khu, nhưng chỉ
gặp Phạm Văn Ðồng. Ðồng hứa sẽ
thêm tên Hoè vào chính phủ lâm
thời. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:198-206) Ngày
11/8/1945, Thanh Nghị đình bản. (Vũ
Ðình Hoè, 2004:206)
Dĩ
nhiên, không phải tất cả những nhóm thân Nhật
đều đứng sau lưng Kim. Thù nghịch
nhất có nhóm Ki-tô giáo ở Thuận Hóa,
do Khôi và Diệm cầm đầu. (42) Phe Diệm
giải truyền đơn và phao tin đồn Cường Ðể và Diệm sẽ
nắm quyền khi Nhật chính
thức trao trả độc lập cho Việt Nam. (Kim
1969:64-5). Cuộc
chiến
tranh tin đồn và bôi bác này khó thể
kiểm soát hay phản ứng vì con cả Khôi được
Cố Vấn Yokoyama dùng làm bí thư.
Thông
điệp đề ngày 11/1/1945 của Cường Ðể được đăng trên
ruần báo Nước Nam ở Hà Nội ngày
28/4 đến
12/5/1945 (số 264, 266-268). Ðại diện VN tham dự Hội
Thảo Ðại
Ðông Á tại Kudan
(Nhật) vào tháng 5/1945, do Nha Phát Triển
Á Châu của Hội Trợ Giúp Hoàng triều
của Tướng Matsui bảo trợ.
Ngày
21/5, Kỹ sư Vũ Văn An, người ủng hộ Cường Ðể, từ
Tokyo trở lai
Sài Gòn. Tuyên
bố sẽ có thay đổi lớn trong tương lai gần. (Hải Phòng, 1/6/1945). Ít
ngày sau, báo Thông Tin ở
Hà Nội đăng
hình năm [5] thành viên Ủy Ban Kiến Quốc (Ngô
Ðình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Vũ Văn
An, Vũ Ðình Dy và Lê Toàn). (Thông
Tin,
10/6/1945) Ngày
28/5, Trần
Văn Ân, lãnh tụ Phục Quốc miền Nam, rời Singapore về
Sài Gòn. Ngày
20/7/1945,
Matsui tuyên bố Cường Ðể sẽ về nước giúp Bảo Ðại,
coi Cơ Mật Viện. Ngày
25/7/1945, Cường Ðể cảm tạ những người bạn Nhật. Hứa là khi
về nước sẽ hợp tác trung
thành với Nhật. Ngày 30/7/1945, làm
tiệc chia tay. (Nippon Times,
30/7/1945). Tuy nhiên,
không có phi cơ, và rồi
Nhật đầu hàng.
Ðáng
sợ hơn cả là Việt Minh. Vào mùa Hè 1945, cơ
quan OSS đã hết sức ủng hộ Việt
Minh. Một toán OSS do Thiếu tá Allison K. Thomas chỉ
huy,
nhảy dù xuống mật khu
tại Tuyên Quang, Bắc Bộ; đoàn OSS này giúp
huấn luyện 100 du kích Việt Minh và
trang bị cho họ các vũ khí hiện đại. Nhân
viên OSS, và đặc biệt là những tin
tức về tình hình chính trị mà họ cung cấp
chẳng những gia tăng thế lực và uy
tín của Việt Minh mà còn giúp Hồ kịp thời
khai thác sự đầu hàng của Nhật.
Thomas thủ diễn vai đặc sứ của Hồ, gửi ra ngoài tất
cả những tin
tức về Việt
Minh, nhất là mục đích đòi độc lập, tự do trong
vòng từ 5 tới 15 năm. (Vũ
Ngự Chiêu, 1984: chương 9; US Congress, Senate. Causes,
Origins,
and
Lessons of the Vietnam War. Hearings before the
Committee on Foreign Relations, 92nd Congress, 2nd
Session, May 1972 (Washington:
GPO,
1973),
tr.
243, 249, 266-67, 270-80; Fenn, 1973:80-2, Shaplen,
1965:18-29;
Patti 1980:129; Marr, 1995:284).
Kế
hoạch đoàn kết quốc gia của Kim còn mở rộng cửa
nhiều văn
phòng chính phủ cho
cán bộ Cộng sản nằm vùng hay cảm tình viên
của Việt Minh. Nguyễn Mạnh Hà, người
sẽ trở thành Bộ trưởng Kinh Tế đầu tiên của Hồ Chí
Minh, từng là trưởng phòng
Kinh Tế Hải Phòng và sau đó là Trưởng Nha
Kinh Tế Bắc Bộ. (L'Action, 9/6/1945; CAOM (Aix), 7F
29-1). Vũ
Trọng Khánh, đốc lý Hải Phòng, bàn giao cho
Ðệ Tứ Quân Khu Việt Minh, về Hà Nội
gặp Võ Giáp để nhận chức Bộ trưởng Tư Pháp, rồi
gán ghép cho đảng viên Ðại Việt
những tội thường phạm như trộm cắp, hiếp dâm. Hoàng
Minh
Giám, Ngoại Trưởng tương
lai, huấn luyện tại chỗ với chức Trưởng ban Liên Lạc
Nhật-Việt
Bắc Bộ. (Tin Mới, 3/8/1945).
Tôn
Quang Phiệt, chủ tịch tương lai của Ủy ban Khởi
nghĩa thành phố
Nguyễn Tri Phương
(Huế), là cố vấn của Hội Ðồng Thanh Niên Quốc Gia,
Tổng Thư ký Tân Việt Nam, và đồng
thời trở thành cố
vấn của nhiều viên chức cao cấp, kể cả Tổng lý Ngự
tiền
của Bảo Ðại, và Bộ trưởng
Kinh Tế Hồ Tá Khanh (Études Vietnamienes
1973: 58 & 60; Phạm Khắc Hoè 1982: 60-3; phỏng
vấn Hồ
Tá Khanh, Ðông
1982-1983). Tại Nam Bộ Phạm Ngọc Thạch tiếp tục dấu
kỹ đảng tịch Cộng
Sản, liên
hệ với Nhật để cầm đầu Thanh Niên Tiền Phong. (43)
Phạm Văn Bạch,
chủ tịch tương
lai của Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, đi
xin ý kiến của “tổ chức” (Ðảng
CSÐD) trước khi nhận chức Chánh án Bến Tre (Bạch
1982).
Sự
xâm nhập của các cán bộ CS nằm vùng
và cảm tình viên của Việt Minh này,
cùng
với thủ thuật chiến tranh tâm lý, là những yếu tố
quan trọng đưa đến sự sụp đổ đột
ngột của chính phủ Kim trong hạ tuần tháng 8/1945.
Tệ
hại hơn, nền kinh tế và ngân quĩ đều trống rỗng.
Kiểm
soát Ngân Hàng Ðông Dương,
Nhật tự do phát hành giấy bạc theo nhu cầu. Từ
tháng 3 tới tháng 8/1945, người
Nhật lấy ra 787 triệu yen (khoảng
800
triệu đồng) nhiều hơn tổng số tiền mà Pháp đã giao
cho Nhật để trả quân phí từ
1940 tới 1945 (720 triệu đồng) hay hơn 1/3 tổng số
tiền lưu
hành. (CAOM
(Aix), SE, hộp 182 và 289; Decoux 1949:446 n1; JOFI,
22/11/1945:14-5). Trong
khi đó, giá sinh hoạt các thành phố tăng
ngoài sức chịu đựng của mọi người. Vào
tháng 5/1945, người ta phải trả 800 đồng 1 tạ gạo,
20 đồng 1
ký mỡ, hay 1 đồng
1 quả trứng, đắt gấp 40 lần năm 1942 (Thông
Tin, 10/6/1945; CAOM (Aix), RST 70-77)( 44) Nạn
đói tiếp
tục hoành hành ở Bắc và Bắc Trung Bộ. Tại
nhiều nơi, trật tự xã hội bị đổ
vỡ, và tình trạng an ninh suy giảm tại hầu hết các
thành phố. Nhiều làng trống
không. Trộm cướp—dù chuyên nghiệp hay do cách
mạng lãnh đạo—gia tăng hoạt động.
Tình trạng hỗn loạn lan tràn từ nông thôn về
các thị trấn và thành phố. Kế
hoạch “đoàn kết quốc gia” của Kim thiếu hấp dẫn hơn
tư lợi
và tinh thần cầu an.
3.
Chống Ðói:
Mặc
dù phạm vi hoạt động rất hạn hẹp, chính phủ Kim dồn
nhiều
nỗ lực chống lại nạn đói.
Một mặt, Kim yêu cầu và được Nhật cho phép bỏ lệ
bắt buộc bán thóc ở Trung bộ,
và tại Bắc bộ, miễn cho bất cứ ai sở hữu dưới ba mẫu
ruộng (L'Action, 19/5/1945; Hải Phòng,
16/7/1945). Bộ trưởng Tiếp tế
Nguyễn Hữu Thí vào Sài Gòn dàn xếp
việc chuyên chở gạo từ Nam ra Trung và Bắc.
Ðể tránh bị phi cơ Mỹ oanh tạc, các hải cảng xa
Sài Gòn được dùng làm điểm khởi
hành cho các đoàn thuyền buồm. Tư nhân được
phép tự do chuyên chở và mua bán
gạo. Tuy nhiên, để ngăn chặn các tệ nạn, Kim ra lệnh
kiểm
soát gắt gao giá cả
và việc tồn kho lúa gạo. Người vi phạm có thể bị
tử hình hay tịch biên tài sản (Tin Mới,
17/7/1945). Tại Bắc bộ, Kim
thành lập Ty Liêm Phóng Kinh Tế, giao cho Nguyễn
Duy Quế điều khiển, để ngăn
chặn việc buôn lậu (Tin Mới, 10/7 và
3/8/1945). Một số chủ cửa hàng gạo bị bắt giữ hoặc
phạt nặng.
Mặt khác, Kim tập
trung những người sống sót sau nạn đói cùng những
người vô gia cư vào các trại đặc
biệt. Một chiến dịch báo chí giúp rộ nở phong
trào thành lập nạn cứu đói trên
toàn quốc. Vào cuối tháng 3, tất cả các hội
cứu tế miền Bắc tập hợp lại thành
Tổng Hội Cứu Tế Nạn Ðói do Nguyễn Văn Tố cầm đầu, và
đẩy mạnh hơn các nỗ lực
lạc quyên cũng như chẩn tế. Từ tháng 3 tới tháng
5/1945, tổ chức của Tố quyên được
783,403 đồng (L'Action, 21/3, 27/4
và
30/5/1945). Tại Nam bộ, chỉ nội tháng 5 hơn 20 hội
chẩn tế ra
đời, và trong
vòng một tháng các tổ chức trên quyên
được 1,677,886 đồng, kể cả 481,570 đồng để
mua và chuyên chở 1,592 tạ gạo cho nạn nhân vụ
đói (L'Action, 24/5 và 22/6/1945; Hải
Phòng, 23/6/1945). Vì tất cả thuyền buồm trên
30 tấn đều bị Nhật trưng
dụng, và hải cảng Hải Phòng bị Mỹ đặt mìn phong
tỏa, việc chở gạo từ Nam ra Bắc
bị chậm trễ. Dẫu vậy, các chương trình chống đói
của Kim chẳng những giảm thiểu
sự khổ sở của dân chúng mà còn tạo cơ hội
cho đám đông, đặc biệt là giới trẻ,
tham gia các sinh hoạt xã hội.
Những
nỗ lực của Kim không hoàn toàn tiến triển tốt đẹp:
Ngoài việc bị Việt Minh cản
trở (như xúi dục dân chúng đánh phá
các vựa lúa công cộng, hay lăng nhục các
viên chức trách nhiệm và người cầm đầu các
hội chẩn tế), tin tức tình báo do
Việt Minh cung cấp khiến các phi vụ oanh tạc của Mỹ
phá
hoại thêm nữa các trục
giao thông (CAOM [Aix], SE, hộp 578). Sự giao thông
khó khăn đến độ Kim phải
dùng xe đạp để chuyển công văn (Tin Mới,
15/6/1945). Ngày 23/7, một Bộ trưởng của Kim là Vũ
Ngọc
Ánh [Anh?] tử thương
trong một cuộc oanh kích ở Bắc bộ. Dẫu vậy, nhờ
trúng
mùa Chiêm vào tháng 5 và
6/1945, và nhờ nhu cầu tiêu thụ giảm hẳn xuống sau
khi hơn
1 triệu người chết đói,
cuộc khủng hoảng thực phẩm giảm dần. Qua tháng
6/1945, nạn
đói hầu như đã qua.
Tại Hà Nội và các tỉnh, giá gạo giảm từ 850
đồng một tạ (100 kg) xuống khoảng
300 đồng (Thông Tin, 10/6/1945). Tại
vài tỉnh, vấn nạn trở thành thiếu hụt số người gặt
lúa (Dân Mới, 6/6/1945). Khi những
tàu chở gạo từ Nam cặp bến miền Bắc,
nạn đói cuối cùng cũng qua.
4.
Cải Cách Thuế:
Giống
như đối thủ là Cộng Sản, chính phủ Kim muốn giải
quyết
vấn đề thuế, đặc biệt là
thuế thân, một loại thuế gây nhiều ta thán. Dưới
thời Pháp, có 13 loại thuế, từ
750 đồng một năm (hạng 1) tới 3 đồng rưỡi (hạng thứ
13). Ngoài
ra, mỗi xuất đinh
phải trả thêm khoảng 60% số tiền trên như thuế chính
phủ xứ (kỳ), và từ 45% tới
60% cho ngân quĩ tỉnh; điều này có nghĩa khoảng
2,300,000 xuất đinh thuộc hạng
13 phải trả tổng cộng 7.70 đồng thuế thân hàng năm.
Kim
thuyết phục được người
Nhật giảm thuế đáng kể cho hạng thứ 13 này. Ngoài
ra, họ còn được chia thành 2
hạng thuế khác nhau. Khoảng 1.8 triệu người qui định
thuộc hạng
13 mới chỉ phải
trả tổng số 3 đồng mỗi năm, và 500,000 người còn lại
chỉ
phải trả 1 đồng. Tất
cả những khoản phụ thu cho xứ và tỉnh được miễn.
Thực tế, việc
cải cách thuế
chỉ thực hiện tại miền Bắc. Tại Trung bộ, Kim miễn
thuế thân cho
tất cả các
bạch đinh hoặc những người có lợi tức thấp. Riêng
tại Nam
Bộ, Nhật tiếp tục áp
dụng luật thuế năm 1944 của Pháp. (Nước Nam, 3/3/1945; L'Action,
19 và 30/5/1945).
5.
Cải Cách Giáo Dục:
Chính
phủ Kim đặt nặng vấn đề cải cách giáo dục, với trọng
tâm là việc phát triển
giáo dục kỹ thuật và sử dụng chữ Việt mới (quốc ngữ)
làm ngôn ngữ giảng dạy (Tinh Tiến,
5/7/1945; L'Action, 4 và
13/7/1945). Lên
cầm quyền
chưa đầy hai tháng, Kim tổ chức khoá thi tiểu học
đầu
tiên bằng chữ Việt mới và
dự định dùng Việt ngữ trong các kỳ thi cao hơn (Tin Mới, 13,14,23, 25/6, và
18/7/1945). Bộ trưởng
Giáo dục Hoàng
Xuân Hãn cũng hết sức làm việc để
Việt-nam-hoá nền giáo dục trung học công cộng.
Những kế hoạch này hẳn cần một thời gian dài hơn 4
tháng mới thấy rõ kết quả;
nhưng chúng đủ mở đường cho Bộ trưởng Giáo Dục Vũ
Ðình Hoè của Việt Minh phát động
chiến dịch bình dân giáo dục trong tương lai gần.
Vào tháng 7/1945, khi Nhật
quyết định trao trả độc lập và thống nhất lãnh thổ,
chính phủ Kim đang chuẩn bị
thực hiện một cuộc cải cách rộng lớn hơn, khởi đầu
bằng việc
thành lập một Ủy
Ban quốc gia chịu trách nhiệm thành lập một nền quốc
học. (45)
6.
Cải Cách Tư Pháp:
Với
phương vị Bộ trưởng Tư pháp, Trịnh Dình Thảo cũng
khởi
đầu chiến dịch cải cách
hệ thống tư pháp. Tháng 5/1945, thành lập tại Huế
một Ủy Ban Cải Cách và Thống
Nhất Tư Pháp, do Thảo cầm đầu (L'Action,
2/6/1945). Ngoài ra, chính Thảo xét lại các
vụ án chính trị, trả tự do nhiều người
hoạt động chống Pháp và phục hồi quyền công
dân cho những người khác. Nhân dịp
này, một số cán bộ Cộng sản trở lại với tổ chức cũ,
và tích cực làm việc để phá
hủy quyền lực của Kim. (L'Action,
4/7/1945)
7.
Ðám Ðông Tham Gia Chính
Trị:
Sự đóng
góp không thể từ chối được của chính phủ Kim
là sự tham gia sinh hoạt chính trị
của đám đông. Trong những buổi lễ, Kim vinh danh mọi
anh
hùng quốc dân, từ
những quốc tổ huyền thoại, tức vua Hùng (2879-258
TTL), tới
những anh hùng
kháng Pháp như Nguyễn Thái Học, lãnh tụ
VNQDÐ đã bị xử chém cùng 12 đồng chí
năm
1930. Một Ủy Ban được thành lập để lựa chọn danh
sách
các anh hùng sẽ được đưa
vào Nghĩa Liệt Từ (L'Action,
26/6/1945). Tên đường phố được đặt lại. Tại Thuận
Hoá
(Huế), Lê Thái Tổ
(1428-1433) vị vua đã giành lại độc lập từ tay nhà
Minh năm 1427, thay thế
Jules Ferry trên bảng tên đại lộ chính của
thành phố. Tướng Trần Hưng Ðạo, người
hai lần chặn đứng sự xâm lăng của Mông Cổ năm 1278
và 1288, thay cho Paul Bert.
Ngày 1/8, tân Ðốc lý Hà Nội Trần Văn Lai
còn đi xa hơn nữa khi cho lệnh phá bỏ
những tượng đài do Pháp dựng lên tại các
công viên trong chiến dịch xoá bỏ
những tàn tích ô nhục (Tin Mới,
2/8/1945). Trong khi đó, báo chí Việt tự do xuất
bản những bài viết về các
phong trào chống Pháp và những lời đả kích
các cộng sự viên của Pháp. Những lời
chỉ trích còn hướng vào cả “ông ngoại” của
Bảo Ðại, tức Nguyễn Hữu Ðộ—người đã đóng
vai trò quan trọng trong cuộc chinh phục của Pháp
trong
thập niên 1880 và bán
rẻ cho Giám mục Paul Puginier chùa Báo Thiên
và huyện Thọ Xương với giá tiền
100 quan, tức khu nhà Chung tại Hà Nội hiện nay. (Dân Mới, 5-7/1945; Hải
Phòng, 28/7/1945).
Kế
hoạch đáng kể nhất là việc đoàn ngũ hoá
tuổi trẻ. Bộ trưởng Thanh niên Anh cố
gắng tập trung và kiểm soát chặt chẽ các tổ chức
tuổi trẻ đã bùng nở từ sau
ngày 9/3/1945. Ngày 25/5, một Dụ ra đời đặt xuống cơ
cấu
tổ chức các hội thanh
niên. Trên thượng tầng là một Hội Ðồng Quốc Gia
Thanh Niên, một tổ chức tư vấn,
để cố vấn Bộ trưởng Thanh niên. Những cơ cấu tương
tự được
thành lập xuống tới
cấp huyện (L'Action, 16/6/1945).
Trong khi đó, thanh niên được mời tham gia các tổ,
đoàn địa phương từ tỉnh tới
xã. Mỗi tỉnh lị có một trung tâm huấn luyện, ở
đó họ có thể tham dự những khoá
huấn luyện kéo dài một tháng (Tinh
Tiến,
30/6 và 7/7/1945; Ðàn Bà,
26/7-7/8/1945; L'Action,
26/6/1945). Chính phủ
cũng
thành lập một trung tâm quốc gia cho Thanh
Niên
Tiền Tuyến tại Thuận Hoá. Khai giảng ngày
2/6, trung tâm này dự trù là
tiền thân trường huấn luyện sĩ quan trong tương lai
(Kim
1969:92). Vào cuối
tháng 7, các trung tâm cấp bộ cho thanh niên
xã hội được thành lập tại Hà Nội,
Thuận Hoá và Sài Gòn. Trong khi đó,
tại Hà Nội, Tổng Hội Sinh Viên và Thanh
Niên bị cơn sốt độc lập chi phối. “Sinh viên”—có lẽ
với sự trợ giúp của chính
phủ—tự xuất bản tuần báo Tự Trị (Tự
Trị, 21/4-26/6/1945). Cư xá Sinh viên
Hà Nội trở thành một trung tâm hoạt động
chính trị. Vào tháng 5, tháng 6, có
dấu hiệu cán bộ Cộng sản, dưới danh nghĩa Việt Minh,
đã
xâm nhập sâu vào Cư xá
Sinh viên, và các hiệp hội thanh niên
cùng cứu đói. Ðối diện sự bành trướng của
Mặt Trận Việt Minh, Nhật nỗ lực tiếp xúc các lãnh
tụ của tổ chức này, nhưng các
sứ giả của Nhật đều bị giết. Hiến Binh Nhật bèn phản
công,
bắt giữ hàng trăm
thanh niên Việt tại miền Bắc vào hạ tuần tháng 6
(Kim 1969:82-3).
8.
Thống Nhất Lãnh Thổ:
Thành
quả đáng kể nhất của chính phủ Kim là việc thương
thuyết thống nhất lãnh thổ.
Ngay sau khi chấm dứt chế độ Pháp, người Nhật chẳng
sốt sắng
gì với việc thống
nhất lãnh thổ của Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi
chính phủ Kim thành lập, Nhật đồng
ý trao trả Bắc Bộ, dù còn giữ quyền kiểm
soát các thành phố Hà Nội, Hải
Phòng,
và Ðà Nẵng. Trong khi đó, Nam bộ hoàn
toàn đặt dưới sự cai trị trực tiếp của
Nhật, chẳng khác gì thời Pháp thuộc.
Bắt đầu
từ tháng 5/1945, Ngoại trưởng Chương thương thuyết
với Nhật tại
Hà Nội, xin
hoàn trả ba thị xã Hà Nội, Hải Phòng
và Ðà Nẵng, nhưng Nhật thoái thác
vì Hà
Nội và Hải Phòng là hai điểm then chốt của kế
hoạch phòng thủ Ðông Dương. Mãi
tới tháng 6 và tháng 7/1945, Nhật mới đồng
ý thực hiện những bước sơ khởi hướng
về sự thống nhất lãnh thổ Việt Nam. Ngày 16/6, Bảo
Ðại công bố Việt Nam sẽ được
thống nhất trong tương lai (L'Action,
27/6/1945). Ngày 29/6, Tướng Tsuchihashi ký một loạt
nghị
định bàn giao một
phần những trách nhiệm của chính phủ Liên bang
Ðông Dương—kể cả quan thuế,
thông tin, và thanh niên, thể thao—cho ba
chính phủ Việt, Cam Bot và Lào (L'Action,
12/7/1945). Tiếp đó, Bảo Ðại
ban hành 4 đạo Dụ: thành lập Hội Ðồng Tư Vấn Quốc
Gia; một ủy ban soạn thảo
Hiến pháp gồm 15 người; một Ủy Ban 15 người khác
nghiên cứu việc cải cách hành
chính, pháp luật, và tài chính;
và một Ủy Ban Cải cách Giáo dục, gồm hai [2]
phụ nữ trong tổng số 18 ủy viên (L'Action,
13, và 17/7/1945; Tinh Tiến,
3/7/1945). Lần đầu tiên, các lãnh tụ miền Nam (như
Trần Văn Ân và Hồ Văn Ngà) được
mời tham gia các ủy ban trên.
Trong
khi đó, những biến chuyển khác tại Nam bộ từ đầu
tháng 7/1945 có thể coi như
những bước chuẩn bị cho Việt Nam thống nhất lãnh
thổ. Thượng
tuần tháng 7, khi
Nam bộ bừng bừng khí thế độc lập và đám đông
tham gia hoạt động chính trị qua
việc thành lập các tổ chức Thanh Niên Tiền Phong ở
Sài Gòn cùng nhiều tỉnh lị,
Thống đốc Minoda tuyên bố sẽ thành lập Hội Nghị Nam
Bộ để
giúp đỡ người Nhật
cai trị. Hội nghị này có nhiệm vụ tư vấn về những
vấn đề
do Nhật đệ xét và
thanh tra các tỉnh. Mục đích chính của Hội nghị,
Minoda nhấn mạnh, nhằm giúp người
Việt hiểu được rằng họ cần phải hợp tác chặt chẽ với
Nhật,
vì “nếu Nhật bại
trận, nền độc lập của Ðông Dương sẽ lỡ dở.” (L'Action,
16 & 23/7/1945) Sự hiện diện của Trần Văn Ân
cùng
những
nhân vật theo phò Cường Ðể trong Hội nghị này
phản ảnh sự thay đổi quan trọng
trong thái độ của Minoda đối với vấn đề độc lập của
Việt Nam,
vì cho tới thời điểm
này, viên Thống đốc Nhật nắm trọn mọi việc ở Nam Bộ
trong
tay. Tại buổi khai
mạc Hội nghị Nam bộ ngày 21/7, Minoda gián tiếp
nói đến sự thống nhất lãnh thổ
của Việt Nam (L'Action, 24/7/1945).
Sau đó, Trần Văn Ân được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội
nghị, và Kha Vạng Cân, một
lãnh tụ Thanh Niên Tiền Phong, Phó Chủ tịch.
Ngày
13/7, Trần Trọng Kim đến Hà Nội để thương thuyết với
Toàn
quyền Tsuchihashi.
Tsuchihashi đồng ý trao trả ba thành phố Hà Nội,
Hải Phòng và Ðà Nẵng cho chính
phủ Kim, hiệu lực từ ngày 20/7. Kim bèn cử Y sĩ Trần
Văn
Lai làm đốc lý Hà Nội,
Luật sư Vũ Trọng Khánh, đốc lý Hải Phòng,
và Nguyễn Khoa Phong đốc lý Ðà Nẵng.
Sau những cuộc thương thuyết kéo dài, hai bên
còn đồng ý hoàn trả Nam bộ cho
Việt Nam, và Kim sẽ lên đường vào Sài
Gòn dự lễ thống nhất ngày 8/8. (46)
Sự
thành đạt lịch sử của Kim lập tức bị che phủ bởi áp
lực
bên ngoài và sự chia rẽ
nội bộ. Ngày 26/7, từ Potsdam gần một Berlin điêu
tàn, đổ nát, lãnh đạo các nước
Mỹ, Trung Hoa và Bri-tên ra tuyên cáo
đòi Nhật đầu hàng không điều kiện. Stalin
không ký tên vì Nga Sô chưa tham chiến
vói Nhật. Nhật thì lúc này chẳng còn
mong chiến thắng, mà chỉ muốn đạt được ngưng bắn
trong danh dự.
Tệ hại hơn,
viễn ảnh bị Ðồng Minh trừng trị vì hợp tác với Nhật
khiến nhiều người có thể
hợp tác với Kim giữ thái độ xa cách. Các Bộ
trưởng và những cộng sự viên phân
tán dần. Khâm sai Bắc bộ là Phan Kế Toại—vây
quanh bởi chính con trai và những
người có cảm tình với Việt Minh hay cán bộ Cộng
sản nằm vùng hoặc khuynh tả như
Nguyễn Mạnh Hà và Hoàng Minh Giám—nạp đơn
xin từ chức. Nguyễn Xuân Chữ, một
lãnh tụ Việt Nam Ái Quốc Ðảng và
một
trong
năm
thành viên của Ủy Ban Kiến Quốc, không
đồng ý thay thế Toại (Thông Tin,
10/6/1945; Kim 1969:84, 91;
Chữ 1996:280). Trở lại Thuận Hoá, Kim cũng đối diện
sự chống đối
ngày một gia tăng
giữa các Bộ trưởng. Trần Văn Chương (người đã khởi
đầu
thương thuyết với Nhật
từ tháng 5) muốn được hưởng công về việc thâu hồi ba
thành phố và Nam bộ, và có
thể cả chức Thủ tướng (Kim 1969:88-9).
Phiên
họp Hội đồng Bộ trưởng trong hai ngày 5 và 6/8 được
đánh dấu bằng những cuộc
cãi vã cá nhân và việc ba Bộ trưởng
Nội vụ, Kinh tế và Tiếp tế từ chức. Hồ Tá
Khanh, Bộ trưởng Kinh tế, còn đòi toàn
chính phủ từ chức, nhường cho Việt Minh
lên cầm quyền vì có thực lực (Kim 1969:166).
Ngày 7/8, chính phủ Kim từ chức.
Bảo Ðại yêu cầu Kim lập chính phủ mới, nhưng việc
thế
chiến đột ngột chấm dứt xen
vào.
Ngày
8/8/1945, Liên Sô xua quân vào Manchuria
(Mãn Châu) và tuyên chiến với Nhật.
Hôm sau, trái bom nguyên tử thứ hai trút
xuống Nagasaki, và Nhật không thể tiếp
tục cuộc chiến. Thương thuyết được tiến hành, và
Nhật
quyết định cho Kim cùng
những người Việt yêu nước những gì họ trông chờ bao
năm dài—độc lập quốc gia và
thống nhất lãnh thổ. Kim nhiều lần được thúc dục
vào Sài Gòn chủ tọa lễ thâu
hồi miền Nam (Kim 1969:90). Nhưng nhiều yếu tố ngăn
cản Kim rời kinh
đô. Từ
ngày 8/8, Phạm Khắc Hoè được Tôn Quang Phiệt cho
lệnh xúi dục Bảo Ðại thoái vị.
Ðể thực hiện sứ mệnh này, Hoè tìm cách
hạ uy tín Kim, đặc biệt là dèm pha việc
Kim không thể mời những nhân vật nổi danh tham gia
chính phủ mới ở Thuận Hoá (Phạm
Khắc Hoè 1982:62-3). Trong khi đó Bộ trưởng Nội vụ
Nam,
nêu lý do những cuộc
nổi dạy ở Thanh Hoá và Quảng Ngãi tại Trung bộ để
ngăn cản Kim lên đường vào
Sài Gòn (Phạm Khắc Hoè 1982:62-3; Kim 1969:89).
Việc đón nhận chủ quyền ở Nam
Bộ bởi thế phải ủy cho Hội Nghị Nam Bộ. Rồi, ngày
14/8, Bảo
Ðại bổ nhiệm Nguyễn
Văn Sâm, cựu Chủ tịch Hội Ái Hữu Ký Giả Nam Kỳ,
làm Khâm sai Nam Bộ (L'Action,
17/8/1945).
Sâm lập tức rời
Thuận Hoá vào Sài Gòn. Trong khi đó,
Việt Minh đã lợi dụng thời cơ, tổng nổi
dạy.
III.
ÐOẠN
KẾT KHỦNG HOẢNG
Trong
tháng 8, Việt Nam trải qua một giai đoạn đầy biến
động,
trên bối cảnh chính trị
quốc tế. Một mặt, phe Ðồng Minh bắt đầu thực thi các
kế
hoạch hậu chiến đối với
Việt Nam, từ giải giới quân Nhật tới chia chác vùng
ảnh hưởng; mặt khác, ngay
tại Ðông Dương, người Nhật bị tê liệt không những
chỉ vì lệnh đầu hàng đột ngột
vô điều kiện mà còn vì viễn ảnh bị Ðồng
Minh trừng phạt. Với người Việt, các
quan tướng Nhật bị phân chia theo yếu tố tâm lý
và ý thức hệ. Một số viên chức
Nhật ngả về phía Việt Minh, thả một số tù nhân Cộng
Sản, cung cấp vũ khí cho
Việt Minh, và một số còn phục vụ các lực lượng
Việt Minh địa phương (Lieu et al
1960:I:43-4). Những người khác, kể các Tư lệnh quân
đội, muốn dùng vũ lực yểm
trợ chính phủ Kim và đánh dẹp Việt Minh (Etsumei)
(Kim 1969:93; Dân Chủ, 12/9/1945;
Chữ
1996:277-78,
288-89). Cả đất nước chìm vào cảnh hỗn loạn, mở
đường cho
các phe nhóm chính
trị Việt chạy đua quyền lực.
Buổi
tối trước ngày Nhật chính thức đầu hàng, Kim
và các cộng sự viên muốn nắm lấy
thời cơ để kiểm soát tình thế. Ngày 12/8,
chính phủ đã từ chức của Kim được cải
danh thành chính phủ lâm thời. Kim yêu cầu
Bảo Ðại ra một Dụ vào ngày 14/8 để
hủy bỏ hòa ước 5/6/1862, và 15/3/1874, và như thế
vô hiệu hoá mọi đòi hỏi chủ
quyền của Pháp tại Việt Nam (Bao Dai 1980:114-15).
Kim
còn gửi đại diện ra Bắc,
vào Nam để thống nhất các phe nhóm dưới quyền
chính phủ trung ương ở Thuận Hoá,
nhưng tất cả đều bị Việt Minh bắt giữ dọc đường—Hồ
Tá Khanh tại
Quảng Nam và
Phan Anh tại Hà Tĩnh. (Kim
1969:91).
Trong
khi đó, các lãnh tụ không Cộng sản tại Bắc
bộ và Nam bộ cũng cố chống lại Việt
Minh. Tại Bắc bộ, Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ yêu cầu thành
lập một Ủy ban Cứu quốc;
Kim chấp thuận và ngày 16/8 bổ nhiệm Chữ làm Chủ
tịch Ủy Ban Giám Ðốc Chính trị
Miền Bắc. Ủy Ban này gồm 5 người—Chữ, Toại, Thị
trưởng Lai,
Ðặng Thái Mai, và
Nguyễn Tường Long—nhưng thực tế chỉ có mình Chữ ở
vào vị thế không uy quyền: Từ
ngày 30/7/1945, Bảo An Binh của Ðai úy Vũ Văn Thu,
Giám đốc, và Thiếu úy Nguyễn
Văn Yên, Phó Giám đốc, đã ngả theo Việt Minh
do sự vận động của Y sĩ Trương Ðình
Tri. (Hưng Việt,
2/8/1945). Chánh
văn phòng Khâm Sai cưỡng lại lệnh triệt hạ cờ Việt
Minh
mới xuất hiện ở nhà Thờ
lớn [nhà Chung]. (47)
Thị
trưởng Lai đồng ý cho biểu tình ngày
17/8—mà trên thực tế là cuộc tổng diễn tập
cho cuộc đoạt chính quyền hai ngày sau của Việt
Minh,
dưới sự chỉ đạo của
Pezneff Long, thành ủy Ðảng CSÐD, và Ðảng
Dân Chủ, một giả túc mới của Việt
Minh nhằm qui nạp những trí thức ngoài đảng, tức
“thành phần trung gian.”
Tại
Nam bộ, ngày 17/8, có thông báo tất cả những
phe nhóm và đảng, kể cả các nhóm
Trốt-kít và giáo phái Cao Ðài,
Hòa Hảo, tập họp thành Mặt Trận Quốc
Gia
Thống Nhứt (Sài Gòn, 15/8/1945). Trần Quang
Vinh,
một lãnh tụ Cao Ðài, và Huỳnh Phú Sổ,
người khai đạo Hòa Hảo, cũng ra một tuyên
cáo chung thành lập liên minh để đối phó kịp
thời với tình thế.( 48)
Ngày
19/8, tại Sài Gòn, Thanh Niên Tiền Phong tổ chức
buổi tuyên thệ thứ hai, thề sẽ
bảo vệ nền độc lập của Việt Nam bằng mọi giá. Hôm
sau, Hồ
Văn Ngà trở thành
Quyền Khâm Sai Nam bộ, và cử Kha Vạng Cân, một
lãnh tụ TNTP, làm Ðô trưởng Sài
Gòn/Chợ Lớn. Việc Khâm sai Nguyễn Văn Sâm về đến
Sài Gòn ngày 22/8 mang lại cho Mặt
Trận Quốc Gia Thống Nhứt một kích
thích, đó là bản tuyên cáo độc lập
và thống nhất lãnh thổ.
Tuy
nhiên, Việt Minh vẫn chiến thắng. Tại Hà Nội, ngày
17/8, cán bộ Việt Minh thành
công trong việc nắm quyền chủ động cuộc biểu tình cổ
võ độc lập và thống nhất
lãnh thổ, ủng hộ chính phủ Kim, của Tổng hội Công
chức. Hai ngày sau, Nguyễn
Xuân Chữ phải trao quyền cho Việt Minh. Chiến thắng
rúng
động này, cộng với
việc quân Nhật chính thức buông súng
ngày 21/8, khiến các cộng sự viên của Kim
thêm hoảng hốt. Chính phủ Kim tự tan vỡ. Chiều 23/8,
Việt
Minh thực sự nắm quyền
Huế. Hai ngày sau, Bảo Ðại ra tuyên cáo
thoái vị, và Nguyễn Văn Sâm trao chính
quyền cho Việt Minh tại Sài Gòn. Ðế Quốc Việt Nam
tàn lụn theo Khối Thịnh Vượng
Chung Ðông Á của Nhật.