Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com



  Nguyễn Ái Quốc (1894-1932, 1941-1945):

Người Việt Ðầu Tiên Ðến Mỹ?

Vũ Ngự Chiêu

Hợp Lưu, số 93 (2-3/2007), Tân Niên Ðinh Hợi [pp.5-38]

© 2007, 2010, Chieu N. Vu. All Rights Reserved.

 

Lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam là lãnh vực còn cần nhiều công trình tìm hiểu. Ngay quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa, Nhật Bản, Pháp, Nga mới chỉ được nghiên cứu rất giới hạn–trên căn bản của cơn sốt thuộc địa và phong trào giải thực (decolonialization) trong thế kỷ XIX-XX. Liên hệ Việt-Mỹ còn giới hạn hơn, và bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản (1947-1991). Thí dụ như cho tới đầu thế kỷ XXI, các chuyên viên còn khá nhức đầu với câu hỏi “Ai là người Việt đầu tiên đã đến Mỹ?” Và, dĩ nhiên, là một câu hỏi phụ khác, không kém quan trọng: “Ai là người Việt đầu tiên tiếp cận với hệ thống chính trị Mỹ?”

Trở ngại thứ nhất là vấn đề tư liệu–hoặc đúng hơn là thiếu tư liệu khả tín. Trước Thế chiến thứ hai (1939-1945), đa số nghiên cứu về lịch sử Việt do các viên chức thuộc địa, giáo sĩ hoặc giáo dân Việt thực hiện–nhờ được tiếp cận tài liệu văn khố Hội truyền giáo Pháp, và có điều kiện hơn. Bởi vậy, mục tiêu văn minh hóa (mission civilisatrice) và truyền đạo (propagation de la foi) thường che khuất sự thực sử học. Ngoài ra, còn có chính sách văn hóa/thông tin thuộc địa. Vì người Pháp muốn giữ Việt Nam như một thuộc địa đóng kín, người ta chỉ biết đại cương–do nỗ lực từ một chuyên viên Mỹ tại tòa lãnh sự Sài Gòn–về những nhân vật như hạm trưởng John White, hay hai sứ đoàn của Edmund Roberts, v.. v...

Sau năm 1945, nhờ tài liệu văn khố nhà Nguyễn được công bố và phiên dịch–đối chiếu với các văn khố Pháp, Mỹ, Bri-tên, Espania, Portugal, Trung Hoa, Thái Lan, Nga, v.. v...– lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam nói chung, và liên hệ với Liên bang Mỹ nói riêng, bắt đầu có những y cứ vững chãi, gần sự thực hơn là những cảm nhận đại chúng.

Trong dân gian, một trong những huyền thoại được truyền tụng là việc Bùi Viện (1837-1878) từng qua Mỹ vào khoảng năm 1873. (1) Vì nhiều lý do khác nhau, rất ít người đề cập đến việc Nguyễn Sinh Côn (1892-1969), tức Paul Thành, có mặt ở Mỹ trong khoảng Thế chiến thứ nhất (1914-1918), làm quen với Bản tuyên ngôn độc lập 4/7/1776 của Liên bang Mỹ, và nhiều lần lập lại một câu bất hủ của văn kiện lịch sử này: từ những bài huấn luyện hội viên Việt Nam Kách Mệnh Thanh Niên Ðồng Chí Hội trong giai đoạn 1925-1927, tới bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại Hà Nội. (2)

Trong thời Ðệ nhị Thế chiến, có ít nhất 4 người Việt từ Pháp qua làm việc cho đài phát thanh Mỹ tại San Francisco, như Tào Kim Hải, v.. v... Mùa Thu 1944, đã có đề nghị đưa Hồ Chí Minh (1890-1969) qua San Francisco làm xướng ngôn viên, nhưng không thành. Cuối thập niên 1940, đến một số du học sinh như Nguyễn Ðình Hòa, Huỳnh Sanh Thông, cùng những nhân vật Phan Huy [Quang] Ðán, Ngô Ðình Diệm (1897-1963), v.. v.... Ngoài ra, số lượng nữ sinh viên và phụ nữ Việt kết hôn với người Mỹ cũng ngày một gia tăng, nhưng chưa có thống kê chính xác.

Bài viết này–dựa trên tài liệu nguyên bản của nhiều văn khố quốc gia, và nghiên cứu của học giả thế giới–cố gắng truy tìm người Việt đầu tiên đã đến Mỹ, đồng thời phác họa quan hệ Mỹ-Việt trong giai đoạn từ 1787 tới 1919, phân tích những dị biệt về văn hoá-chính trị-kinh tế giữa hai quốc gia, khiến nỗ lực quan hệ của cả hai bên đều thất bại.

 I. NHỮNG NỖ LỰC KHÔNG THÀNH CÔNG TRƯỚC THỜI PHÁP THUỘC:

Những nỗ lực mở quan hệ giữa Liên bang Mỹ và Việt Nam thoạt tiên chỉ có tính cách thương mại, và do Mỹ chủ động.

A. NỖ LỰC TỪ PHÍA MỸ:

 1. Chính khách Mỹ đầu tiên chú tâm đến “Cochin China” [tức Ðại Việt] là Thomas Jefferson (1743-1826), khi còn giữ chức Ðại sứ tại Paris. Chuyến qua Pháp xin cầu viện của Giám mục Pedro [Pierre] Pigneau de Béhaine (Bá Ða Lộc) và Hoàng tử Nguyễn Cảnh vào mùa Xuân 1787 khiến Jefferson chú ý đến lúa gạo của Ðại Việt. Ngày 28/11/1787, Jefferson tỏ ý muốn có một số lúa mẫu của “Cochin China,” và đề nghị nên tìm cách giao thương. Jefferson cũng muốn nhờ Hoàng tử Cảnh và một số chuyên viên Pháp cung cấp một số mẫu lúa trồng trên cao (dry rice), hy vọng sẽ thí nghiệm ở Carolina, nhưng không thành công.( 3)

Tuy nhiên, suốt hai nhiệm kỳ Tổng thống từ 1801 tới 1809, Jefferson không có chính sách cụ thể nào đối với Việt Nam.

 2. Trong nhiệm kỳ đầu của Jefferson, Jeremiah Briggs, hạm trưởng tàu Fame, giương buồm đến Việt Nam. Ngày 21/5/1803, Briggs hạ neo ở “Turon,” tức Vũng Thùng (Ðà Nẵng). Ðây là thương thuyền đầu tiên tiếp cận với Việt Nam ghi trong lịch sử hàng hải Mỹ.

Tàu rời Boston ngày 17/1/1803; thấy Côn Sơn ngày 15/5/1803; Vũng Tàu ngày 16/5/1803. Tại Ðà Nẵng, Briggs lên một trong hai tàu của thủy sư Nguyễn, do một người Pháp chỉ huy. Ðược khuyên nên đến “Cowe” (Huế?) mới có hy vọng buôn bán (vì vua nắm độc quyền ngoại thương, và không có giai tầng thương gia bản xứ). Ngày 23/5, Briggs cùng năm [5] thuộc hạ và một lái tàu người Portuguese sống ở Macao lên Huế bằng thuyền nhỏ. Nghỉ đêm ở Haifoo, nơi dân chúng sống bằng nghề đánh cá, nhà cửa tồi tàn. Hôm sau, ngược sông Haifoo lên Huế. Thấy thuyền và tàu xuôi ngược. Tới Huế, lên tàu buồm do một người Pháp chỉ huy. Theo nhật ký (logs) của Briggs, vua Nguyễn sai một linh mục Pháp tới gặp để hiểu thêm về nước Mỹ. Briggs ở lại Huế ba ngày. Hạm trưởng người Pháp giới thiệu cho Briggs được phép buôn bán. Trong 10 ngày, Briggs giong tàu dài theo bờ biển, và không cặp bờ nữa. Ngày 10/6/1803, Briggs hướng về Manila. (4)

Ðại Nam Thực Lục triều Gia Long (1802-1820) không nhắc đến Briggs hay nước Mỹ. Nhưng tháng 6 Quí Hợi [19/7-16/8/1803], ghi:

Hồng Mao sai sứ đến hiến phương vật, dâng biểu xin lập phố buôn ở Trà Sơn, dinh Quảng Nam. Vua nói rằng hải cương là nơi quan yếu sao cho người ngoài được. Không cho. Trả vật lại mà bảo về. (5)

Khoảng một năm sau, khi John W. Roberts thuộc công ty Ðông Ấn [East India Company] của Bri-tên hai lần đưa tàu Gunjava tới Ðà Nẵng với nhiệm vụ thiết lập buôn bán và loại ảnh hưởng Pháp khỏi Việt Nam, Gia Long cũng không chấp thuận. Vua nói với các đình thần:

“Tiên vương kinh dinh việc nước, không để người Hạ lẫn với người Di, đó thực là cái ý đề phòng việc từ lúc còn nhỏ. Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại.” (6)

 Quyết định trên phản ánh chính sách đối ngoại mới của Gia Long: Ðó là đồng ý buôn bán–hiểu theo nghĩa thông thường, trả tiền bạc cho các hóa vật, hoặc trao đổi sản vật trong nước lấy vật dụng cần thiết, nhưng không thuận cho công ty ngoại quốc đặt trụ sở trên đất liền, với lý do an ninh quốc gia. Ðúng hơn là mối đe dọa mà một thành ngữ Malay diễn tả một cách thâm thúy: “Kim xuyên qua rồi, chỉ chắc sẽ vào theo.” Vì vậy sau này sử quan Nguyễn đã ca tụng “khước đồ hiếu của Tây di” như công lao để đời hàng đầu của vua, trên cả những việc “cẩn thận phòng nước Xiêm, yêu nuôi nước Chân Lạp, vỗ về nước Vạn Tượng, uy danh lừng phương xa, nhân đức trùm nước nhỏ. . . .” (7)

Ðây là một thay đổi quan trọng, cắt đứt dần quan hệ với phương Tây mà Gia Long từng tiếp cận nhiều thập niên–sự tiếp cận có lẽ quá gần với những “tên tôi tớ” đủ quốc tịch, các lái súng mà sự lương thiện là những dấu hỏi lớn, và các nhà truyền giáo tham vọng. Bởi thế từ đầu năm 1790, Nguyễn Chủng (tên thật Gia Long trước ngày lên ngôi) đã chính thức hủy bỏ Hiệp ước 1787, yêu cầu đích thân Giám Mục Pigneau de Béhaine dịch qua tiếng Pháp, gửi về Paris–một trong những lý do khiến Pigneau đã có lần muốn bỏ đi, trong khi một số lính đánh thuê rời Gia Ðịnh.( 8)

Dẫu vậy, Nguyễn Chủng–phần nào vì ảnh hưởng Pigneau (vốn không ưa đạo Tin Lành), phần vì lực lượng đánh thuê người Pháp, muốn bảo vệ Ðường Trong cho Pháp–cũng chẳng có thiện cảm gì với Bri-tên, một đại cuờng quốc và nguồn cung cấp vũ khí quan trọng trong thời gian này. Năm 1797, Nguyễn Chủng đề nghị với Rama I (1782-1809) hợp binh đánh nếu “Hồng Mao” tiếp tay Miến Ðiện (Burma, Myanmar hiện nay) tấn công Xiêm.( 9) Tuy nhiên Nguyễn Chủng–với quan niệm “chín đời báo thù mới là đại nghĩa”–đủ khôn ngoan để duy trì những quan hệ cần thiết với Tây phương cho mục tiêu cuối cùng của mình. Vương chấp nhận nhượng bộ một số yêu cầu của Pigneau, như cho tự do truyền đạo, sử dụng giáo dân Ki-tô, và cho Ðông cung Cảnh tôn Pigneau làm phụ đạo. Ðạo quân Lê dương được tận dụng trong mọi lãnh vực, kể cả việc mua vũ khí ở các thuộc địa Bri-tên, Portugal, Dutch. Một “đầy tớ” người Bri-tên–Laurent Barizy, thực ra là dân Pháp–trách nhiệm mua bán vũ khí và hành xử như đại diện không chính thức cho các công ty Bri-tên, đặc biệt là công ty Abbott & Maitland [Áp bột miệt lăng] tại Madras (Pondichéry). (10)

Các thuyền buôn ngoại quốc đến làm ăn từ đó phải theo luật lệ mới. Nguyễn Ðức Xuyên, Jean Baptiste Chaigneau, và Philippe Vannier đặc trách công tác tế nhị này. Số tàu ngoại quốc thường xuyên ghé Ðà Nẵng và Sài Gòn là tàu Bri-tên, Portuguese (Macao), Xiêm, và nhất là từ Quảng Châu, Trung Hoa–trung tâm thương mại với “di địch” của nhà Thanh.

Vua rất nghiêm ngặt trong việc xuất cảng sản phẩm nội địa và kiểm soát tàu buôn ngoại quốc. Tháng 7/1804, cấm dân không được lấy bán các thứ gỗ cấm (gỗ tàu, gỗ lim, gỗ giáng hương); thuyền nước ngoài mua lậu sẽ bị tội nặng như người bán. Ðã lỡ mua trước khi có lệnh cấm, nạp lại, trả tiền cao. Dân chúng cũng không được buôn bán đường biển. Ai vi phạm, thuyền và hàng hóa bị tịch thu, phạt 100 trượng, đồ [đầy] 3,000 dặm. Trong khi đó, thuế cảng (nhập bến), thuế đánh trên hàng hóa và tiền “ba lễ” [dâng hoàng thái hậu, dâng vua, dâng hoàng thái tử] khiến các hạm trưởng ngoại quốc rất bất bình. Ðó là chưa nói đến khoảng cách biệt giữa luật pháp và việc thi hành, cùng tục lệ hiện nay thường biết như “cải thiện” cho các viên chức và môi giới.( 11)

Sự thay đổi thái độ với những nguồn cung cấp vũ khí và đạn dược trong thời nội chiến này phần nào do dịch vụ của họ không còn cấp thiết nữa. Trong khi đó, vua không khỏi nhức đầu vì những chủ nợ cũ. Ít nhất có hai [2] tàu Bri-tên ghé Ðà Nẵng đòi tiền bán khí giới. Tháng 10/1807, Kê-lê-mân tới Kinh, nói với bọn Chaigneau, Vannier và de Forcanz là công ty Abbott & Maitland [Áp bột miệt lăng] trước đây bán nhiều súng đạn cho vua, nay “túng tiền xin vua trả thêm.” Gia Long cấp cho 24,000 đồng, rồi bảo đi. Năm năm sau, tháng 7/1812, Ốc Luân ghé tàu ở Trà Sơn, đòi tiền mua khí giới còn thiếu. Nguyễn Ðức Xuyên tâu lên, vua nói:

“Người Di địch chỉ biết có lợi, khó nói nhân nghĩa được. Giá hàng mua năm trước còn ở sổ kia. Gần đây Kê Lê Mân đến xin thêm giá ta cũng không thèm so đo, đã cho đủ số rồi. Nay lại tham lam không chán sở dục biết làm sao cho no được?” Sai Xuyên trả lời. Ốc Luân xấu hổ bỏ đi (12)

 Tưởng nên lập lại và nhấn mạnh thêm, việc ngoại thương dưới triều Gia Long–giống như các quốc gia láng giềng–do triều đình độc quyền. Vua nhập cảng những gì cần thiết cho chế độ như vũ khí, vải vóc, cùng vật dụng dành riêng cho giới quí tộc và quan lại. Ðồng thời độc quyền thu mua và xuất cảng những mặt hàng mà thị trường ngoài nước ưa chuộng. Ðại đa số dân chúng phải sử dụng hàng nội hóa, ngoại trừ một số nhu yếu phẩm như thuốc “Bắc,” trà, sâm, sách, giấy mực, v.. v... Việc ngoại thương cũng chỉ được diễn ra tại các hải cảng chọn lọc: Nam Ðịnh, Hà Nội, Ðà Nẵng, Huế, Sài Gòn và Hà Tiên. Sau này, do sự xuống cấp của ngoại thương và lý do an ninh, Ðà Nẵng trở thành cảng duy nhất các tàu Tây phương được cặp bến làm ăn với Huế. Mọi giao tiếp với dân chúng đều bị tuyệt cấm. Bởi thế, gần cuối đời Gia Long, việc ngoại thương giảm hẳn.

Ðể điền vào chỗ trống, vua sử dụng “Thanh nhân” làm giai tầng trung gian (“lãnh trưng” [farming]) trong mọi lĩnh vực–từ khai mỏ, thầu thuế chợ, chuyên chở, tới buôn bán với nhà Thanh về những nhu yếu phẩm như thuốc Bắc, vải vóc, v.. v... Ảnh hưởng kinh tế của láng giềng phía bắc này thường không được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức. Việc Minh Mạng bắt chước cách tổ chức chính quyền, đơn vị hành chính, hay thi cử chỉ là lẽ đương nhiên khi không có một hệ thống kiểu mẫu nào khác. Trong khi đó, những liên hệ văn hoá–do việc sử dụng chữ Nho như ngôn ngữ chính thức và kinh điển Trung Hoa từ thời Hán–che khuất đi thứ gông xiềng kinh tế có nhiều thế kỷ lịch sử, và được kết đan chặt chẽ hơn do hệ thống tài chính của Hoa Kiều tại Ðông Nam Á–từ Philippines tới Dutch East Indies, Singapore, Malaya, và ngay cả Xiêm La. Nên chảng có gì ngạc nhiên khi anh em Ngô Ðình Diệm (1897-1963)–từng ban hành những biện pháp kinh tế bắt ép Hoa Kiều nhập tịch, nhìn nhận đất nước cư ngụ như quê hương–cuối cùng đã chạy tới nhà một lãnh chúa không ngôi Hoa Kiều ở Chợ Lớn, rồi chết cái chết khó nhắm mắt sáng ngày 2/11/1963, thay vì trú ẩn trong các giáo xứ đồng đạo quanh Sài Gòn mà tam đầu chế Thục-Diệm-Nhu đã ban phát nhiều ân sủng.

3. Năm 1819, hai trong số bốn tàu Mỹ được cặp bến Sài Gòn là tàu Marmion của Oliver Blanchard, và chiến hạm Franklin của Thiếu tá John White (1782-1840).

Theo White, rời Salem ngày Thứ Bảy 2/1/1819, hơn 5 tháng sau tàu Franklin buông neo ở Vũng Tàu. Hôm sau nữa, 8/6, tới “Canjeo” (Cần Giờ), nằm về phía tây nam Vũng Tàu. Vì không được phép vào Sài Gòn, ngày 12/6 nhổ neo ra Huế. Ngày 18/6, tới Turon (Ðà Nẵng). Trở ngại nhất là ngôn ngữ; nhưng White hiểu đại khái rằng vua hiện không ở kinh đô [không đúng], Việt Nam mới qua cơn binh lửa nên không có nhiều hàng xuất cảng. Tháng 7/1819, White giương buồm qua Manila, nhân tiện tìm thông ngôn. Ở đây hai tháng, White gặp hạm trưởng John Brown của tàu Marmion. Tàu Marmion đã đến Vũng Tàu vài ngày sau khi White rời nơi này, nhưng được phép vào Sài Gòn nhờ sự dễ dãi của “Phó vương” (tức Tổng trấn Gia Ðịnh thành). Chẳng may thuyền trưởng Blanchard chết bệnh ở gần hải phận Vũng Tàu; và Brown lên thay, đưa tàu về Manila.

Ngày 6/9, Brown và White cùng giương buồm trở lại Việt Nam. Tới Vũng Tàu ngày 25/9. Rồi lại dời xuống Cần Giờ, cử người vào Sài Gòn xin phép nhập cảnh. Ngày 9/10, hai tàu Franklin Marmion buông neo ở Sài Gòn.

Qua những “linguists” (thông ngôn) và giáo sĩ trung gian biết tiếng Portuguese [Bồ đào nha]–như Joachim, người Portuguese đã ở Sài Gòn một thời gian; Pasqual, một người Tagal, có vợ Việt; Linh mục Antonio và Joseph, người Italia; Mariano, một giáo dân Ki-tô bản xứá; Polonio, người từng hầu cận Pigneau de Béhaine (dẫn White đi thăm thú nhiều nơi, kể cả một ngôi chùa lớn có lẽ là chùa Barbé)–White tiếp xúc với các viên chức cao cấp, kể cả quyền Phó vương. Ðồng thời, tìm hiểu sinh hoạt chính trị, kinh tế và xã hội miền Nam.

White gặp nhiều rắc rối với quan chức bản xứ vì thuế đánh quá nặng, và hủ tục công khai ăn hối lộ. Không phân biệt Pháp, Mỹ, Anh, gọi chung người Tây phương là “Olan” (Hoà Lan). Từ ngày 10/10, White phải đương đầu với toán kiểm tra tàu. Tiền thuế chính thức 2816 quan; thuế phụ trội, 113 quan, 4 tiền [maces], 61 đồng [sapèque]; tương đương 1697 đô-la [dollars] Espania. (1 quan ăn 10 tiền, 1 tiền, 60 đồng) Quà tặng lên tới 2700 đô-la Espania. (13)

Thời gian này, thương mại với Macao đã bị cắt đứt. Tàu buôn Trung Hoa cũng rất hiếm.

Ngày 11/10/1819, White gặp Quyền Tổng trấn. Ông này là quan văn, lo hình tào. Tổng trấn là võ quan, đang ra Huế để trình bày về trường hợp White. Vợ Pasqual lo việc quà biếu Quyền Tổng trấn: 4 cái đèn tròn, 4 bình thủy tinh, ly uống vang và ly không chân, rượu vang, vài chai rhum, 1 hộp đựng trầu, v.. v.... Ngày 12/10, viết thư cho “Ðô đốc” Vannier, kèm theo một cây kiếm và 12 chai moutarde tặng vua. Ngày 24/10, thăm quyền Tổng trấn tại nhà riêng. Sau này Tổng trấn mượn một khẩu súng của White, nhưng không trả lại. Ngày 31/10, White dọa xuống tàu bỏ đi.

Ngày 6/12/1819, Tổng trấn trở về nhiệm sở. Hôm sau, 7/12, White vào thăm. Sau đó, được thư ngày 20/11/1819 của Vannier, báo tin thuế cảng đã giảm; và không phải tặng quà cho các quan. Vua đang bị bệnh, nên Vannier không có dịp gặp vua. Ðã trao thanh đoản kiếm White tặng vua. Người trao thư của Vannier–có biệt danh Aqua Ardiente–đòi tiền công đưa thư một chai rượu rhum và một yard [gần một thước Pháp] vải đỏ. Aqua Ardiente là nhân vật quỉ quyệt nhất.

Vài ngày sau buổi sơ kiến, Tổng trấn lại gặp White. Không có quan chức Việt, chỉ có 4 thông ngôn Antonio, Mariano, LM Joseph và Vincente, tất cả đều là giáo dân Ki-tô. Tổng trấn thăm hỏi kỹ về tình hình Âu châu. Nói ngưỡng mộ dân “Olan;” buồn vì tình trạng man rợ [sauvage] của dân Việt.

Ngày 16/1/1820, bắt đầu chất đường xuống tàu. Ngày 29/1, xuống được 1700 picul (đơn vị đo lường Xiêm, khoảng 62.5 kilogram) đường. Tàu Marmion phải trả tổng cộng 2,708.70 đô-la Espania tiền thuế và dịch vụ khác, gần bằng 50% trị giá số đường mang đi.

Trước ngày White rời Sài Gòn, Tổng trấn trao cho White danh sách các vật liệu vua muốn mua: đại bác, bản đồ, sách vở Tây phương, v.. v... Vua sẽ trả bằng thổ sản. White không nhận lời vì những mặt hàng vua cần không có nhu cầu ở những nơi khác. Hơn nữa, có tin vua sẽ dùng khí giới đánh Xiêm.

Linh mục Joseph thì xin rượu vang và bột mì để làm lễ. Theo Joseph, vua sắp chết; thái tử sẽ lên ngôi. Tín đồ Ki-tô sắp đối diện hiểm họa bị bách hại. White khuyên Joseph ra đi, nhưng ông ta không muốn phản bội thượng cấp.

Khi White chào từ biệt, Tổng đốc áy náy không giúp gì được White. Ngày 30/1/1820, White nhổ neo. Franklin mang theo vơi nửa sức chứa đường và tơ. Tới Cần Giờ ngày 1/2. Ngày 3/2, tàu Marmion cũng tới nơi.( 14)

 Báo cáo của White, bên cạnh những chi tiết đầy hấp dẫn, có vài ba thiếu sót quan trọng. Thí dụ như White không nhắc gì đến cái chết của Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Ðức, và Hữu quân Nguyễn Văn Nhân lên thay trong dịp White ở Sài Gòn. (15)

Theo White, Quyền Tổng trấn là quan văn; Tổng trấn là quan võ. Cả Chưởng Tiền quân Ðức lẫn Chưởng Hữu quân Nhân đều là quan võ. Hoàng Công Lý, Phó Tổng trấn từ tháng 9/1818 là Tả thống chế thị trung, coi việc đào sông An Thông, vận dụng tới 10,000 nhân công mà White nhắc đến trong báo cáo. Ngoài ra, còn Hiệp trấn Trịnh Hoài Ðức, thày dạy cũ của vua Minh Mạng–được Gia Long và Minh Mạng đặc biệt quí mến. Lý và Ðức đều là văn quan. (16)

Lại có tác giả cho rằng Tổng trấn Gia Ðịnh mà White được gặp là Lê Văn Duyệt. Ðiều này khó xảy ra. Tả quân Duyệt giữ chức Tổng trấn Gia Ðịnh hai lần, một vào giữa triều Gia Long (1812-1815), một đầu đời Minh Mạng (1820-1841). Ngày 26/1/1820, Chưởng Tả quân Duyệt có mặt bên giường bệnh Gia Long cùng Phạm Ðăng Hưng để nghe di chiếu lập Thái tử Ðảm; và kiêm giám năm [5] kinh doanh Thần sách tại kinh đô. Sau đó ra Nghệ An. Duyệt chỉ được cử làm Tổng trấn nhiệm kỳ hai (1820-1832) và tới Gia Ðịnh khoảng ngày 28/8/1820, khoảng nửa năm sau ngày White rời Sài Gòn. (17)

Ngày 13/4/1820, Minh Mạng mới triệu Tổng trấn Nhân về kinh bái yết; đồng thời cử Hiệp tổng trấn Ðức và Phó Tổng trấn Lý tạm thụ lý ấn tổng trấn. Hai tháng sau, ngày 10/6, Ðức về kinh. Lý quyền lãnh ấn Tổng trấn trong khi chờ Khâm sai Tổng trấn [Duyệt] nhận nhiệm sở. Hữu tham tri bộ Hộ Nguyễn Xuân Thục quản lý tào Hộ và Hình. (18)

Phải chăng nhóm thông ngôn của White không nói hết sự thực? (White cũng ghi nhận là bọn linguists rất tham lam, giảo hoạt, chỉ lo kiếm lợi–một đặc tính của giới đổi chác với ngoại nhân ở các hải cảng năm châu. Linh mục Antonio gốc Italia chỉ là một thí dụ. Hay bà vợ người Việt và Domingo, con rể tương lai, của Pasqual). Ðáng tiếc là bản Thực lục Việt ngữ chúng tôi tham khảo không nhắc gì đến các tàu Mỹ ở Gia Ðịnh, dù thời gian bỏ neo của hai tàu khá lâu (gần 4 tháng).

Nhiều dấu hiệu cho thấy nhóm cố vấn Pháp của Gia Long–tức các giáo sĩ và hai thông dịch viên Chaigneau, Vannier ở Huế–có phần thiên vị, muốn giữ ưu quyền thương mại cho Pháp. Vannier có lẽ không trình lên Gia Long chuyến đi của White, nêu lý do vua bị ốm. Về thổ sản tàu Mỹ muốn mua–tức đường và tơ đũi–kho triều đình đã cạn vì mới dồn hàng cho hai tàu Pháp. Mùa đường năm sau thì triều đình có kế hoạch thu mua hết. Thực ra, Vannier đang chờ đợi chuyến trở lại của tàu La Rosse [Rose] với quốc thư của vua Pháp. Sự thiên vị này dễ hiểu. Từ năm 1815, sau cuộc đại bại của Napoléon Bonaparte, triều đình Bourbons bắt đầu muốn đòi Gia Long thực thi Hiệp ước 1787 mà Pigneau đại diện ký kết (nhưng Gia Long đã từ khước năm 1790). Năm 1817, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Richelieu cử Hải quân Ðại tá Achille de Kergariou đưa chiến hạm Cybèle [Phi Giác] qua viếng thăm thân hữu Việt Nam. Mang theo thư Richelieu gửi Chaigneau, yêu cầu báo cáo tình hình, đồng thời kiểm kê lại bản đồ do Jean-Marie D’Ayot vẽ. Ngày 6/1/1818, de Kergariou tới Ðà Nẵng. Vannier xuống chiến hạm Cybèle gặp. Chaigneau dịch hai lá thư của de Kergariou, nhưng Gia Long từ chối tiếp kiến. Nêu lý do không có quốc thư. (19)

Từ 1817 tới 1819, một số tàu Pháp tới buôn bán ở Ðà Nẵng và Sài Gòn. Ðó là các tàu Henry của công ty Philippon et Cie. (tới Ðà Nẵng tháng 12/1817), La Rose của hãng Balguerie, Sarget et Cie., Courrier de la Paix, v.. v... Các tàu này đều được Chaigneau và Vannier tiếp. Tháng 11/1819, Chaigneau và gia đình lên tàu Henry về Pháp nghỉ hai năm. (20)

Phần các nhà truyền giáo Pháp không ngừng oán trách vua Nguyễn quên công ơn khối Ki-tô. Sự bất mãn của các giáo sĩ khởi nguồn từ quyết định kiểm soát tôn giáo năm 1803–đặt Ki-tô giáo ngang hàng với Phật Giáo. Tiếp đến sự thăng tiến của Khổng giáo lên hàng chính giáo. Một Văn Miếu nguy nga được khai trương ở Huế, trong khi vua mở những cuộc thi Hương chọn người ra làm quan. Tên Khổng Khâu trở thành một thứ quốc húy, phải đọc thành “Kỳ.” Gia Long còn muốn tìm hiểu về Nghiêu, Thuấn và thuật trị nước “vô vi nhi trị.” (21)

Một trong những cao điểm của sự xa cách giữa Ki-tô giáo và triều đình là việc kế vị. Năm 1816–sau cái chết của mẹ ruột Hoàng tử Cảnh–Gia Long loại Hoàng tôn Ðán (con thái tử Cảnh), chọn Hoàng tử Ðảm làm Thái tử. Ðảm và phe phục hưng chính giáo (như Ðặng Ðức Siêu, Trịnh Hoài Ðức, v.. v...) trở thành đối tượng đánh phá của Hội truyền giáo qua các chiến dịch tin đồn và những lời dèm xiểm với dư luận quốc tế. Mặc dù mãi tới mùa Hè 1826, Giám mục Jean Taberd mới chính thức tuyên chiến với Minh Mạng, cuộc đương đầu sắt máu giữa Ki-tô giáo và triều Nguyễn đã âm ỉ từ trước ngày White tới Sài Gòn. (22)

Những nỗ lực của Pháp trong việc ký thương ước với Việt Nam–trên bối cảnh bành trướng ảnh hưởng của Bri-tên (qua công ty East India Company) tại Burma [Myanmar hay Miến Ðiện], Xiêm, Malaya [Mã Lai] và Hoa Nam–được tiếp tục trong những năm đầu triều Minh Mạng. Tuy nhiên, Minh Mạng không thay đổi lập trường. Khi Chaigneau trở lại Huế ngày 17/5/1821, với thư của vua Louis XVIII đề nghị giao thương, và cử Chaigneau làm Lãnh sự, Minh Mạng chỉ trả lời sau khi Vannier và Chaigneau đe dọa sẽ từ chức, hồi hương. (23) Năm 1822, Minh Mạng cũng từ chối ký thương ước với sứ đoàn Bri-tên, dù John Crawfurd [Cả-la-khoa-thắc] được Lê Văn Duyệt tiếp tại Gia Ðịnh, và gặp một thượng thư tại Huế. Nêu lý do không có thư của Quốc vương Bri-tên. (24)

Chính sách tự cô lập [self-isolationism] của Minh Mạng khiến mùa Thu 1824 cả Chaigneau lẫn Vannier đều từ chức về nước.

Những nỗ lực ngoại giao ôn hòa cuối cùng của Pháp từ 1825 tới 1830 cũng đều thất bại, vì Hoàng đế của “Trung Quốc” Việt Nam không thích ở lẫn với “Di địch.” (25)

3. Hơn một thập niên sau chuyến đi của White, ngày 3/7/1831, John Shillaber, Lãnh sự Mỹ tại Batavia (Ðông Ấn thuộc Dutch hay Hòa Lan), lại báo cáo về tiềm năng thương mại của Cochin China. Ngày 27/1/1832, Ngoại trưởng Edward Livingston chỉ thị cho Ðặc sứ Edmund Roberts tìm cách ký thương ước, và chuyển thư Tổng thống Andrew Jackson (1829-1837) cho Minh Mạng.

Rời Boston tháng 3/1832, tàu Peacock vượt qua Rio de Janeiro. Sau khi thăm Philippines và Trung Hoa, dù thời tiết xấu, ngày 1/1/1833 đến được Ðà Nẵng. Bốn ngày sau tàu Peacock bị cuốn trôi về phía Nam, tới Vụng Lấm (Phú Yên), giữa Poulo Cambir và Cape Averella, phía nam Thị Nại (Qui Nhơn).

Chuyến đi của Roberts được ghi nhận trong Thực Lục:

Quốc trưởng nước Nhã di lí (nước này ở Tây dương, hoặc gọi là Hoa Kỳ, hoặc gọi là Ma-ly-căn, hoặc gọi là Tân Anh-cát-lị) . . . sai bọn bề tôi là Nghĩa Ðức Môn La Bách Ðại, Úy Ðức Giai Tâm Gia (tên hai người) đem quốc thư xin thông thương, thuyền ở cửa Vụng Lấm thuộc Phú Yên. Vua sai Viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, tư vụ Lý Văn Phức đi hội với quan tỉnh, lên trên thuyền thết tiệc, và hỏi ý họ đến đây làm gì. Họ nói: “Chỉ muốn thông hiếu và giao thương,” nói năng rất cung kính. Ðến lúc dịch thơ ra, có nhiều chỗ không hợp thể thức.

Vua bảo không cần đệ trình thư ấy. Rồi cho quan quyền [thương] bạc làm tờ trả lời. Ðại lược nói: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật qui định. Từ nay nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Ðà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt qua kỷ luật. Rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi.” (26)

 Báo cáo của Roberts nhiều chi tiết hơn. Thoạt tiên, sứ bộ Mỹ tiếp xúc với một lý trưởng, và viên chức này trình bày sơ lược tổ chức chính quyền cũng như thể lệ đệ trình văn thư. Tiếp đó, quan tỉnh Phú Yên tới. Họ cho Roberts xem một bảng liệt kê quốc kỳ các nước, yêu cầu sứ đoàn Mỹ xác định quốc kỳ của mình. Sau đó, hai bên thảo luận về cách thức đạo đạt thư Tổng thống Mỹ tới Minh Mạng: Trước hết, Roberts phải viết thư cho Thương bạc (ty Ngoại thương), trình bày mục đích của sứ đoàn. Quan Việt nhiều lần bắt bẻ đòi sửa lại thư cho hợp với phong tục Việt Nam. Ngày 17/1/1833, một phái đoàn Huế tới nơi gặp Roberts. Hai bên lại qua một chu trình hỏi/đáp về mục đích của sứ đoàn, rồi bắt bẻ hình thức cũng như nội dung bản dịch quốc thư. Cuối cùng, ngày 26/1, kết quả từ Huế xuống–thay vì có văn thư trả lời chính thức, hai quan lớn Việt thết tiệc sứ đoàn, rồi hôm sau lên tàu nói chuyện. Họ yêu cầu được xem trước bản dịch thư Tổng thống Mỹ để sửa chữa lại nếu cần hầu tránh vua nổi giận. [Giống như nhà Thanh, Minh Mạng bắt các quốc trưởng phải viết biểu hay sớ như con đối với cha. Sau cuộc chiến tranh nha phiến (1839-1842 và 1858-1860) nhà Thanh mới bỏ thể lệ bắt vua ngoại quốc dâng biểu]. Roberts cương quyết giữ lập trường Tổng thống Mỹ không thua kém hay đứng dưới bất cứ ai, và không thể làm nhục quốc thể. Ngày 7/2/1833, Roberts báo cho các quan Việt biết chiến hạm Mỹ sẽ lên đường, vì sứ mệnh thất bại; nhưng hy vọng hai bên không vì thế mà thiếu thân thiện. Quan Việt đề nghị tàu Mỹ cứ ghé cảng Ðà Nẵng buôn bán, càng thường xuyên càng tốt. Roberts đáp: tàu Mỹ khó thể cặp bến Việt Nam khi chẳng biết gì về điều lệ buôn bán hay thuế má. Khi đại diện Huế nói Mỹ sẽ được hưởng sự đãi ngộ bình đẳng như Bri-tên và Pháp, và những nước này chẳng bao giờ thắc mắc về luật lệ, chẳng ai dám đánh thuế họ cao hơn các nước khác, Roberts nói điều này không đúng, vì Việt Nam cho Trung Hoa nhiều ưu quyền hơn Pháp và Bri-tên. Hai bên nâng ly mừng chúc sức khoẻ Tổng thống Jackson, phái đoàn Việt chúc sứ Mỹ ra đi vui vẻ, sớm trở lại, rồi cáo từ.

Ngày 8/2/1833, tàu Peacock nhổ neo. Sự thất bại này khiến Roberts cay đắng nhận định:

Ở bề ngoài toàn diện của vịnh biển, quốc gia này đang ở vào điều kiện phát triển cao, nhưng nếu quan sát gần hơn, viễn tượng tốt đẹp ấy không thực hiện được. Dân chúng không một ngoại lệ là một dân tộc dơ bẩn nhất thế giới. . . . [Người Việt] không biết được . . . khoảng cách biệt giữa hai quốc gia; họ cũng chẳng biết gì về tình hình Bắc Mỹ, cho rằng Mỹ nằm ở Âu châu như sau này tôi được biết. (27)

Mặc dù năm 1835, Lãnh sự Balestier ở Singapore báo cáo rằng theo các giáo sĩ, Roberts đã rời Việt Nam quá sớm, nhưng ở thời điểm này, sứ đoàn khó tránh thất bại. Minh Mạng đang lên đến đỉnh cao uy quyền. Các đại thần già nua, khúm núm nhưng độc tài ngang ngạnh như Lê Chất, Lê Văn Duyệt đã chết hay thanh trừng xong. Giấc mơ Lê Thánh Tông tân thời–chấn hưng thánh giáo, cóp nhặt hệ thống hành chính nhà Thanh từ trung ương tới địa phương, thi hành lễ “ôm đầu gối,” sùng bái sự lễ quì (cho các quan gối đệm đầu gối vì phải quì lâu), rồi đến tục “tung hô vạn tuế” kiểu nhà Minh–khiến vua không dự đoán được những ngón đòn thù của Hội truyền giáo bắt đầu bùng phát. (28)

Sự hùng hổ đi tìm thuộc địa của các cường quốc Âu Châu–qua việc Bri-tên chiếm Miến Ðiện (Hiệp ước Yandabo vào tháng 2/1826, theo đó Bagyidaw cắt cho Bri-tên các tỉnh Assam và Manipur, trả chiến phí 5 triệu, ký Hiệp ước thương mại, và đặt đại diện ngoại giao), cùng một số đảo tại bán đảo Malaya, và hiệp ước với Xiêm La–không đủ thức tỉnh Minh Mạng khỏi cảm giác phiêu diêu của lời xưng tụng như “Văn thì thần, võ thì thánh, rực rỡ như trăng sao vận hành ở trên trời, cuồn cuộn như sông ngòi mông mênh ở mặt đất.” (29)

Ðiều khó thể chối cãi là sau Gia Long, Minh Mạng có khả năng nhất trong các vua Nguyễn. Nhận hiểu sức mạnh kỹ thuật và quân sự Tây phương, vua nuôi tham vọng bắt chước cách chế tạo tàu thuyền, vũ khí cùng máy móc của phương Tây–nhưng kiến thức khoa học hay kỹ thuật không thể mọc ra từ những bộ Luận ngữ, Mạnh tử hay Trung dung, hoặc tiểu quốc Ðào Ðường hay Ðông Chu đã chìm trong cát bụi vài ngàn năm trước.

Minh Mạng cũng không đủ kinh nghiệm ngoại giao quốc tế như Gia Long để thu dụng một số “cố vấn” Tây phương trong việc học hỏi và thu nhập kiến thức khoa học, kinh tế, chính trị–một cách thực nghiệm như Rama III (1824-1851), trong cuộc chơi cân bằng quyền lực và văn hóa. Trong khi đó, giới nho sĩ–dù trực hay gián tiếp–tự xiềng xích mình và đất nước dưới chiêu bài ý thức hệ Khổng giáo mà họ quen thuộc, từng giúp họ duy trì độc quyền chính trị, văn hóa nhiều thế kỷ. Những người Tây phương luôn luôn bị đánh giá là mọi rợ (di địch) xảo quyệt, “ở ngoài vòng giáo hóa” (hóa ngoại), dù vua cùng các đại thần, nói chi thường dân, chẳng biết rõ lịch sử, địa lý hay các tổ chức hành chính, quân sự, tôn giáo, kinh tế của Tây phương. Ngay Minh Mạng, người nắm được nhiều thông tin nhất về thế giới, cũng rất mơ hồ về nguồn gốc và tổ chức của Ki-tô giáo. Ảo vọng duy trì “văn hóa cổ truyền”–một nền văn hóa vay mượn, bì phu từ phương Bắc–trong khi hiện đại hóa đất nước không chỉ hiện hữu dưới triều Minh Mạng. Nó sẽ kéo dài, sâu xa tới thế kỷ XX, nếu chẳng phải lâu hơn. Nó cũng không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn phát triển ở các nước lân bang. (30)

Vua và các đình thần cũng không tri nghiệm được sự thay đổi cán cân quyền lực lục địa Ðông Nam Á–bình chân như vại trước việc Bri-tên chiếm Miến Ðiện (Burma), hay nỗ lực hiện đại hóa của Xiêm La (muang Thai), qua việc ký thương ước với Mỹ, Bri-tên, sử dụng người Hoa để phát triển kỹ nghệ đường trắng (từ năm 1816), và bắt đầu một chu trình tằm thực các tiểu vương láng giềng như Chân Lạp, hay Lào, v.. v... Với sự xúi dục của các nhà truyền giáo và lái buôn súng, chỉ một năm sau, chiến thuyền Xiêm sẽ ồ ạt tấn công Việt Nam theo lời yêu cầu của Bế Văn Cận–tức Nguyễn Hựu Khôi, nhưng bị Minh Mạng đổi thành “Lê Văn” Khôi, để xuống tay thanh trừng dư đảng Lê Văn Duyệt–buộc Minh Mạng phải quên đi lời trối trăng của Gia Long là “chớ nên gây hấn ngoài biên,” uổng phí bao tính mạng trai tráng Việt và ngân khố quốc gia trong những cuộc chiến bất tận tại Chân Lạp kéo dài tới gần cuối triều Thiệu Trị. (31)

4. Tháng 3/1835, Ngoại trưởng John Forsyth lại ủy thác Roberts tới Huế. Sau khi trao đổi hòa ước với Xiêm La, ngày 14/5/1836, “hạm đội nhỏ” của Roberts tới Ðà Nẵng, và ở lại đây tám [8] ngày.

Thực Lục ghi nhận sự kiện này vào tháng 4 năm Minh Mạng thứ 17 (5/1836). Theo sử Nguyễn, sau khi được báo về sứ đoàn Mỹ, vua hỏi ý đình thần. Thị lang bộ Hộ Ðào Trí Phú, người có nhiều kinh nghiệm mua bán với Tây phương, đề nghị cho lên Huế làm việc với Nha thương bạc. Thị lang Nội các Huỳnh Quýnh chủ trương chẳng nên giao thiệp, tránh phải lo ngại về sau. Chính sách tốt nhất là bắt chước Trung Hoa, “đóng cửa với các xứ Tây vực để ngừa sự xâm lược của bọn mọi rợ.” Minh Mạng sai Ðào Trí Phú và thị lang bộ Lại Lê Bá Tú vào Ðà Nẵng. Nhưng khi phái viên Huế tới nơi, Roberts bệnh nặng, không thể lên bờ. Ngày 22/5, Y sĩ W.S. W. Ruschenberger đại diện Roberts gặp phái viên Huế. Vì không có thông dịch, và Roberts bệnh trở nặng, ngay trong ngày đó tàu Peacock ra đi. Rồi Roberts chết ở Macao. Phú kết luận bản báo cáo của mình rằng phái đoàn Mỹ thiếu lịch sự. Vua phê vào tờ trình một bài thơ, đại ý nói: Không chống khi chúng đến; không chạy theo khi chúng đi. Cần theo đúng sự nhã nhặn của một dân tộc văn minh. Chẳng ích lợi gì khi than phiền về những kẻ Di địch. Hơn bốn năm sau, vào tháng 10-11/1840, Minh Mạng giải thích chính sách ngoại thương một cách rõ ràng hơn:

“Bản triều ta, đối với người Tây dương: họ đến cũng không cự, họ đi cũng không theo, chỉ đối đãi coi như người di địch thôi. Thuyền Tây phương đến, không cho tiếp xúc với dân địa phương, bán hàng xong thì đi. Kiểm soát chặt chẽ, không để sơ hở, họ có lòng xảo quyệt cũng không làm được gì.”  (32)

 Vào thời điểm này, tưởng nên ghi nhận, thái độ Minh Mạng với Tây phương phần nào thay đổi. Vua đã gần tuổi 50, và dày dạn kinh nghiệm chính trị thực dụng (Realpolitik) hơn. Cuộc tấn công của Xiêm đầu năm 1834 và việc chiếm đóng Chân Lạp tiếp đó cũng khiến nhu cầu quân sự gia tăng. Vua đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển hải quân (hải sư), đóng nhiều tàu và mua một số tàu “đại hiệu” bọc đồng, chạy bằng “máy đốt lửa” (hơi nước). Các tàu buôn và thuyền chiến được cung cấp địa bàn, ống viễn kính, đồng hồ cát, cùng các loại đại bác mới bán trên thị trường. Sách báo Trung Hoa do thương thuyền đi Quảng Ðông mang về càng giúp mở mang kiến thức. Năm 1839, chẳng hạn, vua chê các đại thần chẳng biết gì về hiện tượng nguyệt thực. Những cuộc trao đổi ý kiến quanh việc sét đánh cháy Văn Miếu, hay chôn tượng Khổng Khâu, chỉ thờ bài vị, phản ánh những đổi thay đáng kể. (33)

Tuy nhiên, vì lý do nào đó, vua vẫn tin những lời huyễn truyền về Ðạo Gia tô “từ Tây dương đến, thác việc cầu hồn để lừa khoét con ngươi người [chết], mượn danh đồng trinh để dâm ô vợ con người ta, thương tổn phong hoá....”– hay, “tục Man” “lấy mật người làm vải hoa;” mỗi năm Chân Lạp cúng Xiêm hai chục [20] bộ mật người; “người lấy mật đi rồi vẫn sống, nhưng chỉ ngớ ngẩn như điên cuồng, không nhớ việc đời nữa.” (34)

Gần cuối đời Minh Mạng, tàu buôn “Hồng Mao” được chép thành tàu “Anh Cát Lợi” trong Thực Lục. Triều đình cho lệnh quan tuần hải Quảng Nam đối xử hòa nhã, thân thiện hơn với tàu Bri-tên ghé Ðà Nẵng, kể cả việc miễn thuế. (35)

Vua cũng tiếp tục gửi thương đoàn tới lân bang. Từ 1825 tới 1840, hơn 10 đoàn thuyền Nguyễn giương buồm đến Batavia (Indonesia hiện nay) và “Hạ châu” tức Singapore và các hải cảng gọi chung là Straits Settlements của Bri-tên như Riau, Penang (Tân Lang hay Ðảo Cau). Thoạt tiên, các quan thủy sư cầm đầu (Cai cơ Hồ Văn Khuê, 1825; Vệ úy Nguyễn Văn Phong, 1826); sau đến văn quan như Ðào Trí Phú, Trần Tú Dĩnh, Lê Bá Tú, Nguyễn Tri Phương, v.. v... làm Chánh, Phó biện. Nhiệm vụ chính nhằm thực nghiệm đường biển, đồng thời mua bán vũ khí, tàu máy đốt lửa, và thăm thú tình hình. Với 14-15 năm kinh nghiệm ngoại thương, Ðào Trí Phú sau lên tới Tả Tham tri bộ Binh rồi bộ Hộ, trước khi nhận chức quan cai trị ở Quảng Nam-Quảng Ngãi. Trần Tú Dĩnh lênh đênh từ cảng này sang cảng khác suốt 9 năm. Quan to bị phạm tội tháp tùng làm việc trong thương đoàn có Ðặng Vũ Khải. Nguyễn Ðình Tân (1830), Phan Thanh Giản (1831), Hoàng Văn Ðản, Phan Huy Chú, Trương Hảo Hợp, Nguyễn Trọng Tính (1832), v.. v... Trung bình mỗi thương đoàn có từ 3 tới 5 thuyền. Thông ngôn đa số là giáo dân Ki-tô đã bỏ đạo.( 36) Khi Vũ Ðức Khuê dâng sớ can ngăn, Minh Mạng đóng vai một Khổng tử tân thời giảng cho Khuê một bài học quân sự, kinh tế và bang giao trong thời đại mới. (37)

Sau ngày chiến tranh nha phiến (1839-1842) bộc phát ở Trung Hoa–trước hiểm họa thực dân Tây phương–vua cử sứ đoàn qua Âu châu, tìm cách cải thiện liên hệ. Do áp lực của Hội truyền giáo và Vatican, Thủ tướng Pháp không tiếp.( 38)

Lên ngôi vào đầu năm 1841, mối quan tâm lớn nhất của Thiệu Trị (1841-1847) là “Trấn Tây Thành” (Chân Lạp) và Xiêm La. Tháng 9/1841, vua quyết định triệt thoái khỏi Chân Lạp để ổn định tình hình sáu tỉnh miền Nam. Rồi sau cuộc chiến ngắn hạn với liên quân Xiêm-Chân Lạp, từ 1845 tới 1846, vua gác giấc mộng thôn tính phần đất còn lại của “Cao Miên;” cho Chân Lạp và một số tiểu vương Lào nằm trong vùng ảnh hưởng Xiêm.

Với Tây phương, Thiệu Trị (1841-1847) nối tiếp chính sách không cho người ngoại quốc đặt cơ sở thương mại trên lãnh thổ Việt. Thương thuyền tiếp tục đi Batavia, Singapore và Quảng Ðông trao đổi thổ sản lấy hàng hóa. Có ít nhất bốn chuyến buôn bán với Batavia và Hạ Châu vào năm 1841, 1843 và 1844. Tiêu biểu là thương đoàn rời Ðà Nẵng vào tháng Giêng Quí Mão (2-3/1844), do Ðào Trí Phú, Lê Mậu Hạnh, Nguyễn Công Nghĩa cầm đầu. Ngoài số quan kinh nghiệm như Trần Tú Dĩnh, Lê Bá Ðĩnh, có các “hiệu lực” [tức người bị cách chức đi làm việc chuộc tội] Hà Văn Trung, Cao Bá Quát, Nguyễn Hưng, Cung Văn Nghị, Phan Nhạ, thị vệ Tống Phúc Trí, lệ thuộc vào. (39)

Vua cũng giữ những chuyến đi Quảng Ðông thường xuyên, vừa ngoại giao, vừa buôn bán. Ðáng ghi nhận nhất là chuyến tàu Thanh Loan giải giao tù phạm cuối năm 1843, do Trương Hảo Hợp cầm đầu. Trên tàu có nhóm “hiệu lực” Nguyễn Cư Sĩ, Lê Chí Tín, Hoàng Tế Mỹ, Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Cứu Trường. Khi đang đậu trên bến, thùng chứa thuốc đạn nổ. Vệ úy thủy sư Trần Văn Ðôn cùng hơn 40 quan chức, biền binh chết. Hay, việc năm 1846, Ðỗ Tuấn Ðại và quan thần trên tàu Linh Phượng bị phạt vì quên không dán những chữ kị húy trên tờ “Nhật trình nhà Thanh.”( 40)

Tưởng nên nhấn mạnh, Thiệu Trị đặc biệt nhẹ tay với các nhà truyền giáo Ki-tô. Vua ngưng hành hình các giáo sĩ, chỉ trục xuất họ khỏi vương quốc. Tuy nhiên, các giáo sĩ chưa thỏa mãn. Họ đòi chính phủ Pháp phải biểu dương lực lượng, bắt cho tự do truyền đạo. Nhân vật tiêu biểu nhất giai đoạn này là Dominique Lefèbvre (1810-1865), Giám mục Tây Ðàng Trong (bao gồm Chân Lạp). Từ 1841 tới 1846, Lefèbvre ba lần bị bắt, kết án tử hình, rồi trục xuất nhưng vẫn lẻn vào Việt Nam–khích động các sĩ quan Hải quân Pháp can thiệp bằng võ lực.

Mùa Xuân 1847, sau khi nhà Thanh đã đồng ý cho dân Trung Hoa được tự do hút thuốc phiện và đi đạo, đúng như các nhà truyền giáo Ki-tô mong muốn, hai chiến hạm VictorieuseGloire tới Quảng Nam, mở đầu chính sách ngoại giao pháo hạm, đòi tự do giảng đạo và phóng thích ngay Lefèbvre. Dù Lefèbvre đã bị trục xuất qua Singapore từ năm 1846, trưa ngày 15/4/1847, Ðại tá Augustin Lapierre [Lập Biệt Nhĩ] pháo kích Ðà Nẵng và đánh đắm năm [5] thuyền bọc đồng Nguyễn. Gây tử thương cho hơn 40 người (kể cả Lãnh binh Nguyễn Ðức Chung, Hiệp quản Lý Ðiền), hơn 90 người bị thương, 104 người chết đuối. Hôm sau, hai chiến thuyền Pháp bỏ đi. Pháo đài Phòng Hải và Ðịnh Hải không bắn được phát nào, vì thuốc súng chôn quá kỹ. Sau này, các nhà truyền giáo cho rằng quan lại Nguyễn âm mưu đầu độc thủy thủ đoàn Pháp, nhưng giáo dân ngoan đạo đã tố cáo với Pháp, nên Lapierre ra tay trước.

Sau biến cố này, Thiệu Trị cực kỳ giận dữ, tự tay đập phá mọi vật dụng do phương Tây chế tạo. Họp bàn với các đại thần, vua hỏi: “Thuyền Tây dương đến đây, chỉ cần có hai việc: bỏ cấm [đạo Ki-tô] và thông thương mà thôi. Thông thương thì được, cấm đạo có thể bỏ được không?” Sau khi Trương Ðăng Quế nói không thể bỏ, vua nói:

“Ðạo Gia tô là tà giáo, cái hại rồi đến bởi chuyện ngoài biên, mở đường cho chinh chiến. Thuốc phiện là thứ thuốc mê, cái hại rồi đến khuynh gia bại sản, hại tính mệnh người.” (Buôn bán thì mở đường cho thuốc phiện) (42)

Ngày 3/5/1847, Thiệu Trị nhắc lại lệnh cấm đạo. Một tháng sau hứa ban thưởng 30 lạng bạc cho ai có công tố giác một cố đạo; và xử tử tất cả những người ngoại quốc. Tháng Chín Ðinh Mùi [9/10-7/11/1847], cho lệnh điều tra các quan viên, lập danh sách những người theo đạo Ki-tô, để trừng trị. (43)

5. Nỗ lực thứ tư từ phía Mỹ là sứ đoàn Joseph Balestier, cựu Lãnh sự Singapore. Từ thập niên 1830, Balestier không ngừng yêu cầu Oat-shinh-tân mở quan hệ với Ðại Nam. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh nha phiến, và phong trào bài đạo Ki-tô của nhà Nguyễn (từ năm 1833) khiến hai bên không đạt được bước tiến nào. Ngày 14/5/1845 lại xảy ra biến cố Quảng Nam: Trung tá John Percival, hạm trưởng chiến thuyền [frigate] USS Constitution, bắn phá tàu Việt và bắt ba [3] quan chức để áp lực thả Giám mục Lefèbvre–người sẽ trở thành cố vấn cho quan Tướng Pháp đánh chiếm Sài Gòn trong giai đoạn 1859-1862.

Chi tiết cuộc bắn phá này không rõ ràng. Trong thư gửi Bộ trưởng Hải Quân, Percival báo cáo rằng ngày 10/5/1845, chiến thuyền Constitution cặp bến Ðà Rằng. Vài ngày sau, ba quan Việt xuống tàu xem xét. Trước khi ra về, một người trao cho Percival lá thư bằng tiếng Pháp, ra dấu là nếu bị tiết lộ sẽ bị mất đầu. Khi dịch thư, được biết thư định gửi cho Ðề đốc Pháp, xin cứu các giáo sĩ đang bị giam cầm, đặc biệt là Lefèbre. Hai ngày sau, Percival bắt ba quan Việt. Hôm sau nữa, bắt ba tàu Việt và cho chiến hạm Constitution tới gần bờ hơn mức qui định. (44)

ÐNTL ghi việc này xảy ra vào tháng 5 Ất Tị [6-7/1845]:

Người Phú lãng sa [Pháp] sai sứ sang ta. Trước kia người bọn nước ấy là bọn tên Ðoan, tên Vọng lén đến, lừa dối dụ dỗ nhân dân bị bắt, phải giam cầm. Vua cho là không biết mà lầm phạm, đều tha cho. Ðến đây quốc trưởng nước ấy ủy đầu mục là Ðô rắp lăng đến cửa biển Ðà Nẵng dâng thơ trình tạ, lại nài xin thảm thiết cho người nươc ấy là Ðô mi ni cô [Dominico Lefèbvre] hiện đương phải giam. Thự phủ Quảng Nam-Quảng Ngãi là Ngụy Khắc Tuần nói rằng trong thư đưa có ý cung kính hòa thuận. Vua cũng cho.

. . . .

Chưa bao lâu, thuyền Man của nước Hoa căn [Mỹ] cũng đến cửa biển. Trong kinh phái viên ngoại lang Nguyễn Long, cùng thuộc viên ở tỉnh là kinh lịch Nguyễn Dung Giai đi đến thăm hỏi, bị người Man dọa nạt, mang xuống thuyền. Bọn Long không biết cự lại. Người Man bỗng nhổ neo đi. Khi bọn Long về, đều phải cách lưu. (45)

 Theo vài quan Việt than phiền với Balestier tại Singapore vào năm 1846, lính Mỹ còn đổ bộ và giết chết 17 người. Trong khi đó, pháo hạm đánh đắm một số thuyền chở gạo, khiến nhiều người chết hoặc chết đuối.

Bất bình vì việc này, Tổng thống Zachary Taylor (1849-1850) quyết định gửi Balestier tới làm hòa, mở lại thương thuyết, đồng thời khuyến khích Xiêm La thi hành Hiệp ước đã ký với Roberts năm 1833, và tìm cách ký hiệp ước với một số tiểu vương vùng Ðông Nam Á.( 46) Do nhiều trở ngại nội bộ, hơn bốn năm sau, ngày 16/8/1849, Ngoại trưởng John Clayton mới bổ nhiệm Balestier làm đại diện đặc biệt thương mại [Special Commercial Agent] để liên hệ với Ðại Nam. Tới Hong Kong, Balestier cũng phải đợi chờ khá lâu nên chỉ tới Vũng Thùng ngày 25/2/1850 trên chiến hạm USS Plymouth, với Mục sư William Dean làm thông ngôn.

Thời gian này, Tự Ðức (1847-1883) đã lên ngôi hơn hai năm. Ngày 7/3/1850, Án sát Ngô Bá Hy và Lãnh binh Giáp Văn Tâm báo cáo có tàu nước Ma ly căn [Mỹ], tới xin lỗi về việc một thuyền trưởng của họ, 4 năm trước, đã làm bị thương người Việt. Ngày 13/3, phái viên của Tự Ðức là Ðô thống Tôn Thất Bật, lãnh Tổng đốc Nam-Ngãi, sai thông ngôn trả lời rằng “thuyền nước ấy từ trước đến nay không có việc trái phép giết người nào cả.” Hơn nữa, dân Việt “chuyên nghề làm ruộng, trồng dâu, không thích chơi của lạ, nếu có lại buôn không lợi gì, thư này không dám đề đạt lên.” Ngoài ra, Bật cũng không hài lòng việc thư của Tổng thống Mỹ có vẻ đe dọa. Balestier [Ba li chi] nói nếu không đề đạt lên, thì không dám trở về. Bật bèn xin tạm nhận thư, tùy cơ biện bác bắt bẻ, nhưng Tự Ðức không thuận. Ngày 16/3/1850, Balestier lên thăm núi Non Nước rồi bỏ đi. Trong báo cáo về Bộ Ngoại Giao, Balestier nhận định:

Người Cochin China . . . , trong ý niệm vô giới hạn về sự vĩ đại của họ, khoan khoái nghĩ rằng bất cứ một nỗ lực nào của người Tây phương để mở quan hệ thân hữu với họ đều do muốn hiếu kính họ. (47)

 Khác với chuyến đi năm 1836 của Roberts–mà sự thất bại có thể khiến nhiều người hối tiếc–Belestier rơi vào tình cảnh giống như Thống đốc Hongkong gần 3 năm trước. Tự Ðức nhận được di chiếu là phải theo đúng đường lối của tổ tiên và lắng nghe lời khuyên bảo của bốn Phụ chính đại thần Trương Ðăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Thiếp [Hiệp], nên việc làm đầu tiên là nghiêm chỉnh thi hành chính sách “phòng ngự” và cấm đạo.

Việc 5 thuyền đồng bị chiến hạm Pháp đánh đắm vào mùa Xuân 1847, tiếp nối bằng vụ án tham nhũng ở Quảng Nam tháng 7/1848–trong đó Ðào Trí Phú bị mất chức, phạt trượng, đồ; nhiều quan viên bị liên hệ–và cuộc tranh chấp ngôi báu giữa Hoàng tử trưởng Hường Bảo (1825-1854) với Hường Nhiệm [Tự Ðức], càng hạn chế tối đa việc giao thương với Tây phương. (48)

Năm 1848, nhân dịp một tàu buôn đến giao hàng với giá trên 166,000 thuẫn (florins, tiền Dutch), các đại thần đã khúm núm, nhưng cương quyết phản đối việc bỏ ra món tiền khổng lồ để mua sắm những vật dụng chẳng có lợi ích thiết thực, trong khi kho tàng Nội vụ phủ và Vũ khố còn tràn đầy. Ðó là chưa kể mối nhục bị pháo kích năm trước, khiến dư luận lân bang coi thường nếu tiếp tục mua hàng Tây. Tự Ðức đành phải chịu nhận lỗi. (49)

Dẫu vậy, ba năm sau, nhân dịp đưa một quan Thanh bị đắm tàu về nước, tháng 3/1851, Tự Ðức sai bọn Lê Bá Ðĩnh chất thổ sản lên thuyền Thụy Hồng để trao đổi hàng hóa Tây phương. Khi Các thần Mai Anh Tuấn–Thám Hoa, người Nga Sơn, Thanh Hoá–can ngăn, vua giận, đòi đánh đòn. Trương Ðăng Quế và Lâm Duy Thiếp can không được. Tuấn bị cách chức; bổ làm án sát Lạng Sơn, rồi ít tháng sau bị thổ phỉ bắn chết. (50) Quế và Thiếp bèn xin từ chức phụ chính. Việc này khiến vua tạm hoãn các chuyến thương thuyền, sử dụng tàu người Thanh lĩờnh trưng việc mua bán với ngoại quốc.

Lý do nào đi nữa, nỗ lực của Balestier suốt gần ba thập niên trở thành công dã tràng. Trong khi đó, cơn sốt thuộc địa ngày một dâng cao khắp Á Châu. Mỹ cũng bắt đầu dàn xếp với các cường quốc Âu châu trong nỗ lực phân chia quyền tài phán ở Trung Hoa cùng những quốc gia mà chiến thuyền Mỹ có thể tiếp cận như Nhật Bản, Ðài Loan, v.. v... Năm 1858, Mỹ ký với nhà Thanh một hiệp ước thân hữu, trong đó có điều khoản Mỹ chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của Yên Kinh. Tuy nhiên, cuộc nội chiến, rồi đến nhu cầu tái thiết và Tây tiến ngay trong nội địa Mỹ khiến Oat-shinh-tân bỏ lỡ cơ hội tại Á Châu, phó mặc liên quân Bri-tên và Pháp xâu xé Trung Hoa–chẳng những chính thức xoá bỏ hệ thống thông hiếu qui tâm về sân chầu các “Thiên tử,” mà còn thiết lập thêm nhượng địa, và cướp đoạt món tiền bồi thường chiến tranh không lồ, tám [8] triệu lạng bạc. qua hòa ước 24/10/1860 (Ngoài những điều khoản cũ trong Hiệp ước Tianjin [Thiên Tân] 25/6/1858, nhà Thanh đồng ý cắt nhượng thêm vùng Cửu Long ti cho Bri-tên; mở thêm cửa biển Tianjin). Mãi tới năm 1898, Mỹ mới chiếm được quần đảo Philippines từ một đế quốc đang suy tàn là Espania.

6. Trong thập niên 1870, sau khi Pháp đã chiếm xong Nam Kỳ lục tỉnh, mở cảng Sài Gòn cho Tây phương vào buôn bán, giới ngoại giao Mỹ tại Ðông Nam Á lại vận động Bộ Ngoại Giao chú ý đến hành lang duyên hải giữa Hongkong và Sài Gòn. Cuộc chiến tranh Pháp-Prussia [Phổ] tại Âu châu và nỗ lực “hé cửa” của Tự Ðức trong giai đoạn này có thể ít nhiều ảnh hưởng.

Năm 1883-1884, do yêu cầu của nhà Thanh, Bộ Ngoại giao Mỹ đồng ý đứng làm trung gian trong cuộc tranh chấp chủ quyền của Trung Hoa và Pháp tại Ðại Nam, nhưng Pháp từ chối. (50b)

Mãi tới gần cuối thế kỷ XIX, Bộ Ngoại giao Mỹ mới chấp thuận bổ nhiệm một đại diện thương mại ở Sài Gòn–một cách nhìn nhận bán chính thức chủ quyền thuộc địa Pháp tại Ðại Nam.

B. NỖ LỰC TỪ PHÍA VIỆT NAM:

 Cuộc “biểu dương lực lượng” của Pháp từ 1856 tới 1862–với chiêu bài đòi tự do giảng đạo–khiến từ giữa thập niên 1860, Tự Ðức cùng các đình thần bắt đầu nhận hiểu nhu cầu canh tân, và có những kế hoạch mở rộng ngoại giao với Tây phương.

1. Những bước “toàn cầu hóa” đầu tiên khởi xuất từ nhóm Phan Thanh Giản, Trần Tiễn Thành, Phạm Phú Thứ. Nhưng các nhóm duy tân đối diện nhiều trở ngại, từ ngôn ngữ tới khoảng cách văn hóa, nên phải trông cậy vào giới giáo sĩ Pháp và giáo mục cùng thày kẻ giảng bỏ tu–những tử thù của Khổng giáo nói chung, và vương triều Tự Ðức nói riêng. Giám mục Retord, Pellerin, Miche, Lefèbvre, Puginier, Gauthier hay Sohier đều nghĩ Tự Ðức chỉ biết nghe tiếng đại bác, và mang nợ máu với Hội truyền giáo cùng giáo dân. Họ không từ nan bất cứ phương tiện nào, kể cả việc sử dụng những giáo dân bản xứ như Trần Lục, Tạ Văn Phụng, Hồ Ðình Hỷ, Petrus Key (Trương Vĩnh Ký), Huyện Sĩ, Huyện Thy, v.. v... trong công tác làm suy yếu triều Nguyễn và tiếp tay đẩy mạnh cuộc xâm lăng của Pháp. Lefèbvre, chẳng hạn, từng viết cho Paris:

“Hàng ngày chúng tôi đợi tin một hạm đội đến để đòi Tự Ðức nợ máu [Nous attendons chaque jour la nouvelle de l’envoi d’une flotte venant demander à Tu Duc raison du sang qu’il a versé].” (51)

 Khi Tự Ðức và các đại thần muốn hòa hoãn, liên minh với Ki-tô giáo, sự liên minh của các giáo sĩ chỉ giai đoạn, với mục đích tối hậu là đồng hóa và Ki-tô hoá toàn dân Việt, dưới quyền sở hữu thuộc địa của nước Pháp.

 2. Tuy nhiên, một thiểu số nhà duy tân Việt–qua kinh nghiệm Nhật Bản và nhà Thanh–muốn mở rộng bang giao với Espania, Bri-tên, Prussia, Nga La Tư và Mỹ.

Cuộc gặp gỡ chính thức giữa viên chức Việt và Mỹ xảy ra tại Paris. Tối 21/10/1863, trong dạ tiệc do Ngoại trưởng Pháp thết đãi sứ đoàn Nguyễn, Phan Thanh Giản gặp Ðại sứ “Y Ta Duy Nê.”

Trong không khí dạ tiệc, và dưới sự giám thị chặt chẽ của các viên chức Pháp sứ thần Nguyễn khó có cơ hội tiếp cận Ðại sứ Mỹ xin cầu viện. Ngoài ra, chánh thông ngôn Aubaret cùng tùy tùng, như Petrus Key (từng theo Tư lễ Nguyễn Văn Chất mang quà tặng tới điện Tuleries ngày 5/11/1863, rồi sau này qua Madrid), bám sát sứ đoàn từng giờ. Trở ngại ngôn ngữ cũng không nhỏ. Trong khi đó, nước Mỹ đang trong cơn nội chiến; đại sứ Mỹ có nhiều việc đáng quan tâm hơn một xứ cách xa nửa vòng địa cầu được coi như nằm trong quĩ đạo Pháp. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, có thể tạm kết luận rằng sứ đoàn Phan Thanh Giản không tạo được một liên hệ thiết thực nào với đại diện Mỹ tại Pháp hay Espania.

Sau ngày sứ đoàn Phan Thanh Giản về nước–với lời hứa của Napoléon III là cho sửa lại hòa ước 5/6/1862–phong trào duy tân mới có cơ hội lên cao. Hongkong, Macao, Singapore, và Bangkok trở thành những điểm tiếp cận với thế giới bên ngoài ảnh hưởng Pháp. Nhưng nỗ lực của các nhà duy tân chỉ có kết quả rất giới hạn. Một mặt, giai tầng văn thân bảo thủ hung hăng chống đối. Mặt khác, Pháp đã có chủ ý: Ðại Nam chỉ được duy tân theo khuôn khổ Pháp mong muốn–dù ở thời điểm này Pháp chưa có chính sách rõ ràng với Ðại Nam, ngoài giấc mơ biến bán đảo Ấn Hoa thành cửa ngõ vào thị trường lục địa Hoa Nam.

 31/3/1864: Phan Thanh Giản trình lên Tự Ðức “Nhu Tây sứ trình nhật ký.”

Tác giả của báo cáo này là Phạm Phú Thứ. Phan Thanh Giản và Ngụy Khắc Ðản chỉ đọc qua, và hiệu đính. Bản dịch của Ngô Ðình Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian (1863-1864);” BAVH, Bộ VI, Số 1bis và 2 (Avril-Juin 1919), tr. 161. Ở đầu bài, Diệm được giới thiệu là “học sinh trường Hậu bổ,” và bài này đã được đọc tại các buổi họp [hôi thảo] ngày 27/8 và 3/12/1918, và 4/3/1919. Ibid. Diệm chỉ dịch một phần tập tâu của Phan Thanh Giản và Phạm Phú ThứÔ, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Ðình Hòe. Phần còn lại (thiếu đoạn đi sứ Espania) do Trần Công Tạn dịch; BAVH, Bộ VIII, Số ? (1921), tr. 147-87.

Cử Phan Thanh Giản làm thượng thư bộ Lại; Phạm Phú Thứ làm tả tham tri bộ Lại; Ngụy Khắc Ðản, Quang lộc tự khanh, biện lý bộ Binh. (30:66) Tự Ðức giữ Giản ở kinh, để chờ sứ giả Pháp tới thương nghị hoà ước mới.

Nhân dịp Pháp và Prussia (Phổ) lâm chiến năm 1870-1871, một thày kẻ giảng là Nguyễn Trường Tộ mật tâu hai phương sách:

(a) sai người đến Gia Ðịnh do thám, dâng kế khiến Pháp trả lại 6 tỉnh miền Nam, đem quân về dẹp nạn trong nước, rồi lại sang buôn bán như người Bri-tên ở Hạ-châu; và

(b) chơi thân với Bri-tên, Pháp thấy Ðại Nam tìm đến người Bri-tên, mới dễ bàn định hòa ước. Lại đề nghị cử người qua Bri-tên thăm dò, tùy tiện bày kế.

Trần Tiễn Thành xin theo kế hoạch của Tộ: Hoà với Pháp, chờ thời cơ đòi lại 6 tỉnh, và buôn bán như trường hợp Bri-tên với Trung Hoa. Thành xin cho Nguyễn Hoằng và Tộ qua Pháp, tiếp xúc với Hội truyền giáo và lưỡng viện quốc hội, cùng các nước Bri-tên, Nga, Úc, Phổ. Vua mật triệu Tộ về kinh. (52)

Theo một nguồn tin, tháng 2/1871, Tộ còn đề nghị đánh úp Gia Ðịnh. Nếu vậy, Tộ không nhận hiểu khả năng quân đội Nguyễn, chính sách chủ hòa của Tự Ðức và Từ Dụ thái hậu, cùng âm mưu của Puginier và Gauthier (cha đỡ đầu Tộ) nhằm xúi dục soái phủ Sài Gòn chiếm Bắc Kỳ. [Tháng 8/1873, Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Triệt bắt được thư Dupuis gửi Gauthier về việc góp vốn làm ăn, chuyển cho Thống đốc Pháp; 32:306] Ðánh úp Sài Gòn hẳn sẽ biến thành một cái cớ toàn vẹn nhất cho Pháp mang quân ra Bắc, nơi “6,000” tay súng của Puginier sẵn sàng giúp vài chiến hạm và khoảng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đánh chiếm thành trì, tạo nên vương quốc Bắc Kỳ Ki-tô tự trị. Năm 1873, khi Francis Garnier mang quân đánh miền Bắc, số lính đánh thuê bản xứ lên tới 12,000 người, theo tài liệu Việt; và 14,000, theo tài liệu Pháp. [Xem infra]

3. Tự Ðức cũng có kế hoạch phái người đi do thám tình hình hầu có thể đối phó với cơn sốt thuộc địa Tây phương.

a. Tháng 11/1870, nhân dịp Napoléon III bị bắt, vua sai Nguyễn Hữu Lập đi sứ nhà Thanh cảm tạ việc Phùng Tử Tài đã mang 31 doanh quân qua đánh dẹp thổ phỉ tại Bắc Kỳ, với mật chỉ liên lạc các nước Cao Ly, Nhật Bản, Lưu Cầu [Ryukyus], gợi ý việc “các nước phương Tây chuyên dùng kế liên hợp với nhau để xâm chiếm các nước phương Ðông, ta phần nhiều bị nọc độc ấy, nước tôi và các quí quốc đều là chung một thứ văn tự, nhưng địa thế xa cách, về phương kế tự cường, tự trị, xin để bàn riêng với người có chuyên trách.” Vua còn dặn dò, trong khi bút đàm về nước Tây, nếu là chuyện bí mật, viết vào manh giấy nhỏ, rồi thu lại bỏ đi, không để truyền bá ra ngoài. (53)

 b. Tháng 6 Tân Mùi [18/7-15/8/1871], vua bảo bộ Hộ cần nghiên cứu sử dụng ba tàu Ðằng Huy, Mẫn Thỏa, và Thuận Tiệp đi công cán nước ngoài. Noi gương hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị [một năm hai, ba lần, không chỉ mua bán mà còn do thám tình hình]. Tháng 7/1875, vua định rõ lệ mỗi năm lấy một tàu thủy, một thuyền bọc đồng ra ngoài buôn bán. Hàng năm Nội vụ, vũ khố cùng các tỉnh chất sẵn hàng hóa ở cửa biển; tháng 12, thuyền sẽ tới lấy hàng. Nếu thừa chỗ, sẽ chở giúp hãng tư của Thanh. (54)

c. Tháng 5/1872, Lãnh sự Prussia ở Hương Cảng là Mang Cơ cùng 7 sĩ quan và 12 thủy thủ Ðồ Bà tới tiếp xúc Thương Bạc, muốn thông thương. Vua mừng lắm, sai Nguyễn Chính sang Hongkong bằng tàu Thuận Tiệp. Lãnh sự Prussia hứa chuyển thư về nước và thông báo quyết định của vua Prussia. Rồi cho tàu đưa Nguyễn Chính về nước, và bán tàu trên cho Việt Nam. (55)

 d. Năm 1878, tức hơn 4 năm sau ngày Francis Garnier đánh chiếm 4 tỉnh Bắc Kỳ để áp lực Huế phải ký Hiệp ước 15/3/1874 và hai hiệp ước phụ bổ thương mại–cắt 6 tỉnh miền Nam, cho Pháp đặt lãnh sự ở Hà Nội, Hải Phòng sứ Hải Dương, và Thị Nại (Bình Ðịnh), cùng tự do giao thương trên sông Hồng–Tự Ðức gửi phái đoàn Nguyễn Tăng Doãn và Nguyễn Thành Ý đi Pháp với ba mục đích: xin sửa đổi hòa ước 1874, mở rộng giao thiệp với các nước Espania, Phổ và Bri-tên, cùng tìm thuê chuyên viên Âu châu. Doãn về nước trước trên tàu L'Aveyron; Ý ở lại ít lâu, hy vọng qua Bri-tên nhưng thất bại.

Trong báo cáo ngày 11/9/1878, Doãn tâu Pháp đang mạnh; phải chờ đợi tự cường; và tin rằng thế nào Pháp cũng trả ba tỉnh Nam Kỳ. Ngày 20/12, Ý nhận xét Pháp mạnh nhất thế giới; nên thành tâm hòa với Pháp; cầu thân với các nước phương Tây; tự lực tự cường giống Nhật Bản. (56)

 Tự Ðức không dấu sự bất mãn. Cả ba mục đích chính đều chẳng được việc gì. Pháp không chấp thuận sửa đổi hòa ước; Espania nghi ngờ, không tiếp xúc được Bri-tên, cũng chẳng tìm được người tài. Báo cáo về chính trị (dân chủ, quốc hội), thương mại (15 sở), kỹ thuật (tàu lửa chạy giữa biển), tôn giáo (giáo chủ Vatican), phong tục (một vợ, một chồng; vợ chồng cha con đi cùng một xe, nhảy đầm) thì “đều nói hão.” (57)

4. Riêng với Mỹ, từ thập niên 1860 Huế đã có những khái niệm rõ ràng hơn về lược sử của cường quốc đang lên tại “Tây Châu” này. Năm 1868, Gauthier mang về nạp cho bộ Lễ một quả địa cầu. Khoảng năm 1864-1870, Nguyễn Trường Tộ đã bàn về việc Pháp và Bri-tên thù hận nhau vì Pháp mang quân đánh giúp nên Bri-tên mất Tây [Mỹ] Châu. “Thày Lân”–người tự hào trên thông thiên văn, dưới hiểu địa lý, giữa thấu đáo nhân tâm, thu tóm túi khôn của nhân loại suốt 500 năm qua–còn yêu cầu Tự Ðức nên nhờ Giáo hoàng và Giám mục Gauthier đứng ra vận động để ngăn chặn tham vọng đánh cướp của Pháp. (58)

Tự Ðức có vẻ tán thành đường lối này. Tuy nhiên, giữa lúc Gauthier cùng hai phái viên Nguyễn Tăng Doãn và Trần Hiếu Ðạo đang mua sắm sách vở và vật dụng tại Pháp để thành lập một trường Quốc Học ở Huế, và vận động các giới chính khách Pháp, Thống đốc Pierre de la Grandière đột ngột chiếm đóng ba [3] tỉnh miền Tây. Trước sự phẫn nộ của giới sĩ dân khắp ba miền, Huế phải tạm gác những nỗ lực dựa vào Pháp và Hội truyền giáo để canh tân.

Cuộc chiến Pháp-Phổ trong hai năm 1870-1871, và hòa ước Oat-shinh-tân giữa Mỹ và Bri-tên năm 1871 khiến Tự Ðức hé cửa ngoại giao với các nước Tây phương và Á Châu. Riêng với Liên bang Mỹ, Huế có những nỗ lực sau:

a. Giữa năm 1871, Bộ Hộ trình việc muốn thuê một số người Mỹ để sửa chữa và làm hoa tiêu cho tàu Mẫn Thỏa. (58)

 b. Mùa Thu 1873, nhân dịp tháp tùng sứ đoàn Lê Tuấn vào Sài Gòn, Linh mục Nguyễn Văn [Hữu] Thơ hay Cư–một trong hai giáo mục Ki-tô làm quan thông ngôn cho triều Nguyễn–ghi trong nhật ký là từng gặp Lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn. Theo Thơ, sứ đoàn tới Sài Gòn tối ngày 31/8/1873 với hai nhiệm vụ: thương nghị việc xin trả lại ba tỉnh miền Tây, đồng thời dàn xếp việc Jean Dupuis ở miền Bắc. Ngay tối đó, Paul Philastre [Hoắc Ðạo Sinh] (1837-1902), Giám đốc Bản xứ vụ Nam Kỳ, xuống tàu thăm. Ngày 2/9/1873, Ðô đốc Jules Dupré (1813-1881) tiếp sứ đoàn Việt. Có mặt lãnh sự Bri-tên, Ðức, Espania, Belgium, Denmark, Dutch và Mỹ, nhiều viên chức cao cấp và 4 nhà truyền giáo. (59) Tuy nhiên, đây chỉ là cuộc gặp xã giao, và vào thời điểm này, Mỹ chưa đặt lãnh sự tại Sài Gòn. (Mới chỉ có Lãnh sự Hong Kong, Singapore, Bangkok).

c. Ðầu năm 1874, Nguyễn Huy Hỗn báo cáo đã nói chuyện với một lãnh sự Mỹ trong chuyến thăm Hongkong, Macao và Quảng Ðông năm 1873. [Viên người Mỹ này có ý muốn đến VN buôn bán nhưng nước ta không quan hệ với bên ngoài]. Thực Lục không nhắc việc này, chỉ ghi vào tháng 5 Giáp Tuất [6-7/1874], vua trao 2000 lạng bạc cho Nguyễn Huy Côn [Hỗn], khâm phái tàu Ðằng Huy, qua Hongkong mua súng Tây. (60)

      d. Năm 1881–sau khi Pierre Rheinart cho nhà Nguyễn biết Pháp sẽ kiểm soát việc giao thiệp giữa Ðại Nam và các nước khác vì thể chế “bảo hộ” đã nằm trong Hiệp ước 1874–viện Cơ Mật bàn định việc nhờ Anh, Mỹ, Phổ, v.. v... can thiệp. Trong khi chờ đợi, chỉ thị khâm phái Phạm Bình, Hà Văn Trung ở Hương Cảng tìm thuê hoa tiêu và thợ máy người Tây để đưa sứ đoàn đi các nước bằng phương tiện riêng. Ðồng thời tìm cách liên lạc với lãnh sự ngoại quốc ở Yên Kinh. Có thể nhờ Lý Hồng Chương và Ðường Ðình Canh, “cũng nòi giống ta.” Vua nói đợi Nguyễn Thành Ý về sẽ bàn thêm. Hai tháng sau, Tự Ðức cử Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Thành Ý, Vũ Ngọc Tuân, Phạm Như Xương vào sứ đoàn qua Pháp, nhưng cuối cùng, “vì bận rộn, lại ngưng.”

Cách diễn tả “bận rộn” của sử Nguyễn hơi mơ hồ. Thực ra, cuối năm 1881, đầu 1882, chính sách của Tự Ðức hoàn toàn thay đổi. Chuyến đến Huế của Ðường Ðình Canh đầu năm 1882 đánh dấu sự thay đổi này: Sau khi được Canh (qua Nguyễn Văn Tường) mật báo kế hoạch chiếm Bắc Kỳ của Pháp, Tự Ðức chính thức yêu cầu nhà Thanh can thiệp. Không những xin làm thuộc quốc của nhà Thanh, vua còn yêu cầu đặt đại diện ở Yên Kinh và Quảng Ðông, và nhờ tàu Thanh đưa người Việt đi các nước Anh, Nga, Phổ, Pháp, Mỹ, Áo, Nhật Bản “xem xét và học.” Những đề nghị này được viết thành văn bản gửi Lý Hồng Chương và Trương Thụ Thanh. (61)

 Tuy nhiên, đã quá trễ. Tháng 3/1882, chính phủ Charles de Freycinet chấp thuận cho đưa quân ra Bắc Kỳ, và chỉ định Trung tá Henri Rivière làm Tư lệnh. Chuyến đi này khiến Tự Ðức và triều đình nhiều hơn là “bận rộn” trong những tháng ngày cuối đời vua.

Trong khi đó, mặc dù nhà Thanh có khả năng liên hệ với bộ Ngoại Giao Mỹ, trào lưu thế giới đã đổi thay–nên những bước ngoại giao rụt rè của Tự Ðức quá ngắn và quá chậm. Tàu chiến, binh lực và các nhà truyền giáo Pháp bắt đầu chấp nhận cuộc chơi biểu dương luật kẻ mạnh–tự xưng là “khai hóa” nếu chiến thắng, và sẽ bị sỉ nhục là “cướp nước” khi thất bại. Liên bang Mỹ, trên nguyên tắc, chẳng có căn bản pháp lý nào để trực tiếp can thiệp. Hơn nữa, chính sách ngoại giao Mỹ luôn luôn lấy Âu châu làm trọng điểm. Tại Á châu thì ngoài Nhật Bản và Xiêm La, thị trường Trung Hoa mới đủ sức quyến rũ các tài phiệt–kể cả việc tuyển dụng lao công rẻ tiền để phát triển hệ thống đường xe lửa tại nội địa Mỹ.

Việt Nam không là thánh địa của một tôn giáo hoàn cầu hay một ý thức hệ chính trị quyến rũ nào. Việt Nam cũng không rừng vàng, bể bạc như “người Hán” ở Huế ảo tưởng. Ngoài những thổ sản như đường cát, vỏ quế, lúa gạo và mỏ than, sự quyến rũ nhất của Ðại Nam ngày đó chỉ là khả năng mở cửa vào vùng Vân Nam–một thời được coi như cửa ngõ vào thiên đường hạ giới. Dù huyền thoại người da tím một mắt giữa trán, và những đô thị ở đó người ta có thể cúi xuống nhặt được vàng không còn lưu truyền, nhưng những mỏ tài nguyên thiên nhiên và thị trường tiêu dùng vũ khí, đạn dược, cùng các hàng hoá tại miền Tây Nam Trung Hoa thơm ngọt hơn mật ong. Vai trò phên dậu của Thiên triều này sẽ kéo dài thảm kịch Ðông Dương hàng thế kỷ.

Các nước Tây phương không hẳn “cùng giuộc với nhau” như đình thần nhà Nguyễn lên án–nhưng họ cũng không muốn trở thành lá bài của Tự Ðức trong kế sách gọi là “dĩ man trị man;” nếu không phải chính họ đã và đang hăng hái, hữu hiệu hơn trong cùng phương cách lấy người Việt trị người Việt, tằm thực hay “ăn dân.” Từ ngày 26/2/1862, Lãnh sự Mỹ Bangkok là Westervelt đã nghĩ rằng Cochin China có thể coi như một thuộc địa của Pháp. (62)

 Vũ Ngự Chiêu

(Xem tiếp phần II trong Hợp Lưu số 94)

© 2010, Chieu N. Vu. All Rights Reserved


Phụ Chú:

1. Trịnh Văn Thanh, Thành ngữ điển tích, Danh nhân từ điển, 2 tập (Sài Gòn: Khai Trí, 1965?), I:77; Lê Văn Ðức, Lê Ngọc Trụ et al, Việt Nam Tự Ðiển, 2 tập (Sài Gòn: Khai Trí, 1970), I, phần III:23; Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Từ Ðiển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam (TP/HCM: 1992), tr. 61-62. Chúng tôi đã ghi ngày sinh và ngày mất của Cử nhân Bùi Viện dựa trên các tư liệu Châu Bản Tự Ðức, hiện lưu trữ tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I (Hà Nội). Các tài liệu Châu bản về Bùi Viện và em là Bùi Bổng (hay Phụng) ước khoảng 200 tờ; tuy nhiên mã số đã thay đổi so với ngày còn bảo quản tại Trung Tâm Lưu TRữ Trung Ương II (TP/HCM). Ða tạ Giáo sư Nguyễn Phạm Hùng, Ðại học Hà Nội, và học giả Nguyễn Thu Hoài, chuyên viên Hán Nôm, về những thông tin trên. Khi in thành sách, chúng tôi sẽ nỗ lực thay mã số cũ tại TTLTTƯ II (TP/HCM) bằng mã số mới tại TTLTQG I (Hà Nội). Xem thêm đoạn II.

1. Về ngày sinh của cụ Bùi Viện : Tự Ðức quyển 231, văn bản 58, tờ số 167 (18/10/TÐ23).

2. Về ngày mất của cụ Bùi Viện : Tự Ðức quyển 311, văn bản 06, tờ số 14 (03/11/TÐ31).

3. Việc bổ Bùi Viện làm quản đốc Nha Tuần tải : Tự Ðức quyển 286, văn bản 72, tờ số 210 (09/9/TÐ30).

4. Việc Bùi Viện bị can tội hối lộ nên không được xét thưởng : Tự Ðức quyển 297, văn bản 101, tờ số 305 (18/8/TÐ31).

5. Việc Quản đốc Bùi Viện vay 100 lạng bạc bị xử tội : Tự Ðức quyển 333, văn bản 33, tờ số 89 (29/01/TÐ32).

6. Việc các tàu thuyền do Bùi Viện và em trai là Bùi Bổng (Bùi Phụng) thuê chở hàng hoá bị đâm phải đá ngầm làm đắm và để hàng hoá bị hư hỏng thiếu hụt phải đền bù : Tự Ðức quyển 330, văn bản 31, tờ số 84 (04/12/TÐ32); Tự Ðức quyển 318, văn bản 28, tờ số 73; Tự Ðức quyển 330, văn bản 88, tờ số 258; Tự Ðức quyển 307, văn bản 114, tờ số 265; Tự Ðức quyển 341, văn bản 120, tờ số 360.

7. Việc Bùi Viện được cử đi xem xét tình hình tiễu phỉ : Tự Ðức quyển 303, văn bản 29, tờ số 64.

8. Về hành trình của Nguyễn Huy Côn (Hỗn) sang Hồng kông và Quảng Ðông học hỏi tình hình và học đúc pháo, đóng thuyền: Tự Ðức quyển 254, văn bản 40, tờ số 94 (10/12/TÐ26); Tự Ðức quyển 254, văn bản số 89, tờ số 187 (28/12/TÐ26).

2. Xem, chẳng hạn, “Ðường Kách Mệnh;” in lại trong Ðảng Cộng Sản Việt Nam, Văn Kiện Ðảng Toàn Tập, tập I:1925-1930 (Hà Nội: 1999), tr. 26-27 [Trong lời tuyên ngôn của Mỹ [đoạn thứ hai] có câu rằng: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng.... Hễ chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đạp đổ chính phủ ấy đi, và gây lên chính phủ khác.” Nguyên văn: “We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unlienable Rights, that among these are Life, Liberty and the Pursuit of Happiness– . . . . –That whenever any Form of Government becomes destructive of these ends, it is the Right of the People to alter or abolish it, and to institute a new government] Marr, 1981:131n, 374-375 [Ðường Kách Mệnh]

3. The Papers of Thomas Jefferson (Princeton, NJ: Princeton Univ. Press, 1958), vol. 11, pp. 645, & 646, vol. 12, p. 508, and vol. 14, pp. 636-637, 641 & 647; cited by Robert H. Miller, The United States and Vietnam, 1787-1941 (Washington, DC: NDU, 1990), tr. xv-xvi.

4. Miller, 1990:3-5.

5. Ðại Nam Thực Lục Chính Biên [ÐNTLCB], 38 tập (Hà Nội: 1963-1978), Ðệ nhất kỷ [I], 3:134. “Hồng Mao” (lông, tóc đỏ) là tiếng miệt thị gọi người Bri-tên (tiếng lịch sự hơn là Anh cát lợi).

6. ÐNTLCB, I,3:193. Ðây là lần thứ hai Roberts ghé Ðà Nẵng. Hơn nửa năm trước, Roberts đã đến Ðà Nẵng, và ngày 16/12/1803, Philippe Vannier (1762-1842) cùng một người Việt có tên “Juan Babtiste” xuống tàu gặp Roberts, cho biết Gia Long chỉ trở lại Huế vào mùa Xuân 1804. Roberts bèn nhổ neo, hướng về Malacca. Giám mục Jean Labartette, cùng các Linh mục Jacques Liot và Francois-Joseph Guérard cũng ít nhiều liên hệ trong việc thảo luận. Xem L. Cadière, “Les francais au service de Gia Long: XI. Nguyễn Ánh et la Mission. Documents Inédits;” Bulletin des Amis de Vieux Hué [BAVH] (Hà Nội), XIIIè, no. 1 (Jan-Mars 1913), tr. 1-49. Những tư liệu này cũng nằm trong Châu Bản Tự Ðức. Vannier tháp tùng Giám mục Pedro Pigneau de Béhaine tới Sài Gòn năm 1789, cùng 13 người khác (kể cả anh em Félix và Jean-Marie d’Ayot [Dayot]) và 80 binh sĩ. Ngày 27/6/1790, được cử chỉ huy tàu Ðồng nai, dưới quyền J. M. d’Ayot. Ngày 12/11/1811, lập gia đình với Nguyễn Thị Sen hay Magdeleine Sen, thuộc một gia đình Ki-tô ở Phường Ðúc, hay Thợ Ðúc. Năm 1824, Vannier đưa vợ con về nước và chẳng bao giờ trở lại. Ngày 23/10/1863, Magdeleine Sen đến thăm Phan Thanh Giản tại Paris. Xem “Documents A. Salles, III: Philippe Vannier;” BAVH, XXII, No. 2 (Avril-Juin 1935), tr. 143-159; & Cadière, “Les francais au service de Gia Long: VII. Les diplômes et ordres de service de Vannier et de Chaigneau;”á Ibid., IX, no. 2, (4-6/1922), tr. 140-169.

7. ÐNTLCB, 4:400. Năm 1848, nhóm Nguyễn Tri Phương cũng khuyên Tự Ðức: “Chỉ nghe thấy tiếng là đem đến cống hiến; chớ chưa nghe thấy cùng nước người buôn bán bao giờ;” Ibid., 27:117-118.

8. Thư ngày 31/1/1790, Nguyễn Ánh gửi vua Pháp, bản dịch của Pigneau; Service historique de la Marine [SHM], (Vincennes), GG2-44, carton 3, d.1. 48á; và Archives du Ministère des Affaires Etrangères [AMAE] (Paris), Mémoires et Documents, Asie, vol 64, tờ 21. Về Hoà ước 1787, xem CAOM (Aix), GGI [Amiraux], 11704. Ðã có quá nhiều tài liệu về Pigneau de Béhaine. Về tài liệu nhà Nguyễn, xem Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, bản dịch Việt ngữ của Viện sử học Hà-nội (Huế: Thuận Hoá, 1993), tập II, tr. 476-477. [Sẽ dẫn ÐNCBLT]. Tài liệu này ghi rằng Pigneau qui phục Nguyễn Chủng từ năm Bính Tí (1780); II:476. Cần nhấn mạnh là sự đóng góp của Pigneau cho chiến thắng của Gia Long chỉ rất giới hạn. Xem thêm Cao Xuân Dục, Quốc triều chính biên toát yếu (Sài Gòn: Sử Ðịa, 1971), tr.12-13; Annales annamites [Sử Ký Ðại Nam Việt] (Sài-gòn: Nhóm Nghiên Cứu Sử Ðịa, 1974); H. Cosserat, “Notes biographiques sur les francais au service de Gia Long;”á Bulletin des Amis de Vieux Hué [BAVH], IV, no. 3 (7-9/1917), tr.165-206; Léonard Cadière, “Les Francais aux service de Gia Long: XI. Nguyen Anh et La Mission, Documents inédits;” Ibid. [Bulletin des Amis de Vieux Hue Ô[BAVH],] XIII, no. 1 (1-3/1926), tr.1-49. Cosserat sử dụng tài liệu văn khố Hội truyền giáo, và Cadière so sánh tài liệu truyền giáo với tư liệu Việt Nam.

9. ÐNTLCB, I, 2:269, 282; 3:134; thư ngày 11/4/1801, Barisy gửi Letondel; L. Cadière, “Les francais au service de Gia Long: XII. Leur correspondance;” BAVH, XIII, no. 4 (10-12/1926), tr. 359-437.

10. ÐNTLCB, I, 2:78 [Tháng Tám Mậu Thân [31/8-28/9/1788], nội viên Trịnh Tấn Tài, Chu Văn Quan đi Hạ châu mua súng đạn]; Sau khi chiếm lại Gia Ðịnh thành ngày 7/9/1788 [Ðinh Dậu, 8/8 Mậu Thân], Nguyễn Chủng đặc biệt quan tâm đến việc ngoại thương, để giải quyết nhu cầu vũ khí, đạn dược. 2:86-87 [Tháng Giêng Kỷ Dậu [26/1-24/2/1789], đặt ba loại thuế: thuế cảng, lễ cai tàu, tiền xem cơm cho các tàu Trung Hoa]; 2:95 [Tháng Năm Kỷ Dậu [25/5/1789], cho lệnh thu mua tất cả sắt, gang, kẽm, lưu hoàng trên các tàu Thanh. Chở được 10 vạn cân, bớt thuế cảng; cho chở 30 vạn cân gạo về]; 2á:106 [Tháng Một Kỷ Dậu [17/12/1789-14/1/1790], sai dinh Trấn Biên đặt mua đường cát. Mỗi năm 10 vạn cân. Cứ 100 cân, 10 quan. Ngày nộp, tính theo giá chợ. Ðổi lấy vũ khí Tây phương]á; 2:183 [Tháng Một Quí Sửu [3/12/1793-1/1/1794], sai cai đội Quang-nói-ve [Vannier], đội trưởng Pa-đơ-chê [Barizy], đều là người Tây, đi mua vũ khí ở thành Cô á [Goa, India] và xứ Mãợ La Kha [Malacca]. Cadière, “III. Leurs noms;” BAVH, VII, no.1 (1-3/1920): ngày 17/12/1793, Barizy đi Malacca và Penang).

5/7-3/8/1826 [Tháng Sáu Bính Tuất]: Sai cai đội Nguyễn Ðắc Súy, tư vụ Ðỗ Văn Trị đi Quảng Ðông, Tô Châu và Hàng Châu. (8:66)

11. ÐNTLCB, I, 3:193, 4:382; Alexander B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Nguyễn and Ch’ing Civil Government in the First Half of the Nineteenth Century (Cambridge, MA: Harvard Univ Press, 1971), p. 273. Từ năm 1791, tàu Portugal đã tới buôn bán; ÐNTLCB, I, 2:137. Năm 1805, tàu Portugal từ Macao tới kinh, xin vào Gia Ðịnh mua gạo. Vua đồng ý bán 1000 tạ. Mục lục châu bản triều Nguyễn, Tập I: Gia Long (Huế: Viện Ðại học Huế, 1960), tr. 27; dẫn trong Ðỗ Bang-Nguyễn Minh Tường, Chân dung các vua Nguyễn, tập I (HuếÔ: NXB Thuận Hóa, 1996), tr. 74. Mùa Xuân 1876, Tự Ðức mới bãi bỏ lệnh cấm xuống biển đi buôn. ÐNTLCB, IV, 33:281-282

12. ÐNTLCB, I, 3:348-9, 4:157.

13. Theo Thực Lục, từ tháng 7/1818 tàu ngoại quốc muốn nạp thuế cảng và thuế hàng hóa bằng loại tiền nào cũng được; ÐNTLCB, 4:352. Từ đầu năm 1819, tiền “ba lễÔ” và tiền cai tàu được giữ ở kho dinh Bắc thành và Gia Ðịnh thành, cuối năm chia cho các quan; Ibid., 4:364-365.

14. John White, History of a Voyage to the China Sea (Boston: Wells & Lilly, 1823); điểm sách trong The North American Review, vol. 18, no. 42 (Jan 1824), pp. 140-157; in lại dưới tựa A Voyage to Cochin China (London: A & B. Spottiswood, 1824, 1972); bản dịch Pháp ngữ của P. Midan, “Les Européans qui ont vu le vieux Hué: John White;” BAVH (Ha Noi), 24è année, no. 2-3 (Avril-Sept. 1937), tr. 93-322; Miller, 1990:6-14. [Ngày này, 3/2/1820 (tức 19/12 Kỷ Mão), Gia Long chết; ÐNTLCB, I, 4:398]

15. ÐNTLCB, I, 4:390-391. Về tiểu sử Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Huỳnh Ðức, xem ÐNCBLT, II, q. 7, vol. II, tr. 115-123 & 123-128.

16. ÐNTLCB, I, 4:356, 367. Về tiểu sử Trịnh Hoài Ðức (1760-1825), xem ÐNCBLT, II, q. 11, vol. II, tr. 186-192.

17. ÐNTLCB, I, 4:398; Mục lục Châu Bản triều Nguyễn, tập II: Minh Mạng [MLCBMM], Cheng ch’ing-ho [Trần Kính Hòa], Nguyễn Phương, et al. dịch (Huế: Ðại học Huế, 1962) CB 1:56; tr. 12. [Gia Long cử Duyệt thay làm Tổng trấn Gia Ðịnh lần thứ nhất từ năm 1812 tới 1815; ÐNTLCB, I, 4:160, 252. Trước năm 1808, chỉ có Lưu trấn, rồi trấn thủ Sài Gòn. Chức Tổng trấn Gia Ðịnh lập ra từ tháng 10-11/1808].

18. CBMM, 1/3 Canh Thìn; & 30/4 Canh Thìn; MLCBMM, II, 1962: 65, 112-113.

19. ÐNTLCB, I, 4:336-337; MLCBGL, tr. 196-197; Ðỗ Bang-Nguyễn Minh Tường, 1996:75. Theo Yoshiharu Tsuboi, nêu lý do vua bệnh; Idem., Nước Ðại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847-1885 [L'Empire vietnamien face à la France et à la Chine], bản dịch Nguyễn Ðình Ðầu (Sài Gòn: 1990), tr. 94-5. [Sẽ dẫn: Tsuboi 1990]. Alastair Lamb ghi de Kergariou tới Tourane ngày 30/12/1817; Idem., The Mandarin Road to Old Hue (London: Archon Books, 1970), Part V tr. 229. [sẽ dẫn Lamb 1970]; Có lẽ Lamb sử dụng tài liệu của Pierre de Joinville [1914] và Cordier [T'oung Pao, 1904 và 1908]). Ngày 22/1/1818, de Kergariou rời Tourane.

20. Thực lục cũng không nhắc gì đến hai tàu Pháp mang theo hơn 1,000 súng và thuốc đạn này. Chỉ ghi tháng 11/1819, vua cho Chưởng cơ Chaigneau về Pháp nghỉ hai năm; ÐNTLCB, I, 4:385. Chaigneau đã tới làm việc cho Nguyễn Chủng từ năm 1794. Chỉ huy tàu Long Phi, rồi thay Barisy chỉ huy tàu Thụy Phụng (hay Thoại Phụng).

21. Trước ngày từ trần, Pigneau có lần muốn bỏ đi, nhưng vì đầu tư quá nhiều vào Nguyễn Chủng nên ở lại. Pigneau hiểu rõ hơn ai hết bản chất Chủng. Việc Chủng giết Ðỗ Thành Nhân chỉ là một thí dụ. Tội danh chính thức là “Ỷ công mà sanh kiêu từ;” ÐNTLCB, I, 2:35-6; QSCBTY:10; Lịch triều tạp kỷ, II, 1975:226 (ghi là ngày 23/3 Tân Sửu). Năm 1835, Minh Mạng tuyên bố Nhân phạm những lỗi sau: đốt sống người, bắn chết đàn bà có thai; tiền lương giữ cả, thậm chí ngày giỗ cha Nguyễn Chủng cũng không cho tiền, khiến phải cầm áo lấy tiền cúng lễ; lại hay ở trong núi, có ý làm phản, móc nối Tây Sơn. Chủng diệt đi, bằng không biết đâu không thành Trịnh Kiểm thứ hai; ÐNTLCB, II, 16:74. Sau này, tới Lê Văn Quân, Nguyễn Văn Thành, Ðặng Trần Thường, v.. v... Ibid., I, 2:135, 3:283-284, 304, 319-322.

22. Ngày 3/6/1819, trong thư gửi Baroudel (Macao), Chaigneau tâm sự muốn rời Việt Nam. Gia Long sức khoẻ suy yếu, vua mới ghét đạo và sẽ bài đạo; BAVH, 1926, 422-423. Trong thư ngày 15/6/1819, Vannier tiết lộ Hoàng tử Ðảm từng tuyên bố trong một nước, dân phải theo đạo của vua; Ibid., 423-425. Nhiều năm sau, Trương Vĩnh Ký còn ghi lại những lời huyễn truyền của giới giáo sĩ về sự độc ác của Minh Mạng trong cuốn Cours d’histoire annamite à l’usage des écoles de la Basse-Cochinchine [Bài giảng lịch sử annamite dùng cho các trường Nam Kỳ], 2 tập (Saigon: Imprimerie du gouvernement, 1877-1879), II:255-269. Xem thêm Nguyên Vũ, “Góp phần nghiên cứu về Petrus Key;” Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002).

23. Thư ngày 28/7/1821, Despiau gửi Baroudel (Macao); BAVH, XIII, no. 4, 1926:428-429, & Thư ngày12/8/1821, Vannier gửi Baroudel (Manila); “Documents A. Salles, III: Philippe Vannier” (Tài liệu 36) Ibid., XXII, No. 2 (Avril-Juin 1935), tr. 146 & Cadière, “Leur correspondance;” Ibid., XIII, No. 4 (Oct-Dec 1926), tr. 429-432Ô; Michel Ðức Chaigneau, Souvenirs de Huế (Paris: Imprimerie impériale, 1867), tr. 240.

24. ÐNTLCB, II, 6:85-86; BAVH, Xè, no. 1, 1923:89; Ngày 5/9/1822, Lê Văn Duyệt báo cáo về tàu Hồng Mao ghé cửa Cần Giờ; CBMM, CB 1:211-212, 214-215; MLCBMM, II, 1962:48, 49; John Crawfurd, Jounal of An Embassy from the Governor General of India to the Courts of Siam and Cochinchina (London: 1830); George Finlayson, Mission to Siam and Hue, the Capital of Cochinchina, in the Years 1821-1822 (London: 1826); Woodside, 1971:30.

25. ÐNTLCB, II, 8:81 [4/8-1/9/1826 [Tháng Bảy Bính Tuất]: Nguyễn Ðăng Tuân: “Ðấng vương giả đối với mọi rợ, không cự khi họ tới, không theo khi họ đi.”]. Nên ghi nhớ, thời Khổng Khâu, người Hán chỉ biết 5 chủng tộc: Hán, Bắc địch, Nam man, Tây nhung và Ðông di. Từ thời Minh Mạng, triều đình Huế tự coi là Trung Quốc ở phương Nam, và tự xưng là “người Hán.” Năm 1881, Viện Cơ Mật của Tự Ðức còn tự nhận là “cùng một nòi giống” với Trung Hoa. [Xem infra]

26. ÐNTLCB, II, 11:231 Bản dịch này hơi khác bản dịch Pháp ngữ của Léon Sogny trong “Notulettes: II. Une mission américaine en Annam sous Minh Mang;” BAVH, XXIV, No. 1 (Jan-Mars 1937), tr. 64]. Nguyễn Tri Phương thời gian này làm việc tại Nội các, tức văn phòng của vua. Viên ngoại lang (5-1), theo Sogny, tương đương Chánh văn phòng một bộ. Tư vụ (7-1) là Phó Chánh Văn phòng.

27. Miller, 1990:31-32. Tĩnh từ dơ bẩn (filthy) ở đây chẳng hiểu phản ảnh kinh nghiệm cá nhân chứng kiến người Việt nấu nướng–khiến viên chức Mỹ không dám đụng chạm đến bất cứ món ăn nào mang tới–hay nói chung về cá tính. Năm 1965-1966, một số cố vấn Mỹ tại vùng IV Chiến thuật (miền Tây) đã phải uống thuốc sổ khi về doanh trại riêng sau một dạ tiệc với quân nhân VNCH. Tiêu chuẩn vệ sinh ẩm thực của Mỹ khá cao.

28. ÐNTLCB, II, 26:292-293 (bảo tất), 22:359 (đệm đỡ đầu gối); 21:278-9 (Tung hô vạn tuế).

29. ÐNTLCB, II, 17:25-26.

30. Xem, Crawfurd, Jounal 1830; & Finlayson, Mission, 1826.

31. ÐNTLCB, I, 4:396, II, 13:336-410, 14:6-20, 26-9, 32-51. Vì di chúc của Gia Long, Minh Mạng nhiều lần hòa hoãn với Xiêm. Năm 1827-1828, chẳng hạn, phó mặc Chao Anu [A Nỗ]–vua Vạn Tượng [Vientiane] từ 1804 tới 1829, thường được coi như anh hùng đấu tranh giành độc lập, thống nhất của Lào–cho Xiêm bắt làm tù binh, rồi thảm sát ở Bangkok đầu năm 1829. Người giao nạp Anu cho quân Xiêm là Chiêu Nội, tù trưởng Trấn Ninh; bị bắt giết năm 1830; ÐNTLCB, II, 6:167; 8:260, 273; 10:20, 69. Xem thêm Mayoury Ngaosyvathn & Pheuiphanh Ngaosyvathn, Paths to Conflagration: Fifty Years of Diplomacy and Warfare in Laos, Thailand, and Vietnam, 1778-1828 (Ithaca: Cornell, SEAP, 1998). Một tác phẩm xuất sắc về Anu, sử dụng tài liệu Thái và Lào. Phần tư liệu Việt có chỗ thiếu sót. Xem thêm Dụ của Minh Mạng gửi Tổng trấn Lê Văn Duyệt, thường được các tác giả thế giới gọi là “Phó vương” [Vice-Roi]. (Dưới triều Gia Long và Thiệu Trị, không hề có chức vụ “Phó vương.” Mãi tới triều Tự Ðức mới có chức “quận vương.”)

32. Sogny, 1937:65-6; Miller, 1990:34-40á; ÐNTLCB, II, 22:294-95.

33. ÐNTLCB, II, 21:100-2 (chôn tượng Khổng tử), 22:222-24 (sét đánh văn miếu).

34. ÐNTLCB, II, 21:100-2, 134.

35. ÐNTLCB, II, 14:90-1; 22:216-17.

36. ÐNTLCB, II, 7:105 (1825), 7:237 (1826), 9:162 (1829), 10:145 (1830), 10:386 (1831), 11:247 (1832), 19:302 (1838), 20:247-50 (1839), 21:227-29 (1840), 22:328(1840).

37. ÐNTLCB, II, 22:291-98.

38. ÐNTLCB, II, 21:230-31, 23:351; Adolphe Delvaux, “L’Am-bassade de Minh Mang à Louis Philippe, 1839 à 1841;” BAVH, XV, No. 4 (10-12/1928), tr. 257-64.

39. ÐNTLCB, III, 23:115 (1841), 24:424 (1843), 447-48 (1844), 25:183 (1844). Tháng Giêng Giáp Thìn [18/2-18/3/1844] mới ra biển thao diễn, trước khi khởi hành. Cao Bá Quát có để lại nhiều bài thơ trong chuyến “đi đầy” này.

40. ÐNTLCB, III, 24: 371-372, 424-25; 26:14.

41. ÐNTLCB, III, 26: 243-45, 255-57, 265; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000), I:60-2, 81n27.

42. ÐNTLCB, III, 26:257-258. Nửa năm sau, ngày 9/10/1847, Sir John Davis từ Hongkong tới Tourane với hai tàu, tặng quà, và tuyên bố không theo tôn giáo lớn nhất của Tây phương, chỉ làm thương mại; nhưng Thiệu Trị vẫn từ khước. Ngày 27/10, Davis rời Tourane sau hơn 10 ngày thảo luận với thự Tham tri bộ Hộ Tôn Thất Thường, người đã tham dự sứ đoàn 1840-1841 của Minh Mạng; Ibid., 26:388-389.

43. ÐNTLCB, III, 26:385; ASME (Paris), Vol. 706:10 [17/5/1847: Vấn đề Lapierre tới Ðà-nẵng], 11[27/5/1847: Vấn đề Tourane], 12 [29/5/1847: Lệnh cấm đạo sau khi xảy ra vụ Ðà-Nẵng].

44. Miller, 1990:47.

45. ÐNTLCB, III, 25:282.

46. Miller, 1990:42, 47.

47. Miller, 1990:48-53; ÐNTLCB, IV, 27:215; TTLTTƯ 2 (TP/ HCM), Châu Bản Tự Ðức [CBTÐ], 24/1 TÐ III, CB 156:239-242; tóm lược trong Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát, Châu Bản Triều Tự Ðức (1848-1883) (TP/HCM: Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, 2003), tr. 30.

48. Mặc dù từ tháng 7/1848, Ðào Trí Phú bị mất chức–vì lý do nào đó–Phú còn bị buộc vào hai trong số những vụ án nhiều rắc rối là vụ Hường Bảo tư thông ngoại quốc và Lê Duy Huân, cháu Lê Duy Cự, minh chủ “loạn cào cào hay châu chấu.” Tháng 1-2/1854, Phú bị lăng trì xử tử vì là đồng phạm trong việc Hường Bảo “mưu làm phản, mưu ngầm thông với Tây dương;” ÐNTLCB, IV, 27:106, 28:9-10. Tháng 6/1859, sau khi tra xét giặc Lê Duy Huân– tức Hòa, con Duy Ðạo, cháu Duy Cự, Duy Uân ở Sơn Tây–Bùi Quĩ lên án Mỹ, con Phú, Thành, con Hồ Ðình Hỷ, Nhạ, con Cao Bá Ðạt, Phùng, con Cao Bá Quát (1809-1855), đều phò Duy Huân. Vua cho lệnh điều tra kỹ, vì chẳng biết đâu là sự thực. Tuy nhiên, vẫn treo giải thưởng bắt Mỹ, Thành, Nhạ, Phùng; Ibid., 29:43.

49. ÐNTLCB, IV, 27:117-18.

50. ÐNTLCB, IV, 27:272-73, 278-79; ÐNCBLT, q. 34, IV:221-23. 51. Lettre Commune [Thư chung] 1858:47. Xem thêm những thư từ, báo cáo của Puginier trong giai đoạn này; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:257n64; Cao Huy Thuần, 1990.

(50b) Peking Legation Despatches, Tels. 359, 22 June 1883; 5 July 1883[ 49, 23 July 1883; Miller, 1990:90-2; CÐ ngày 3/8/1884; Doc. 8, pp. 7-8 [3/8/1884: Patenôtre báo cáo Hart đề nghị một phương thức 80 triệu francs, trả trong 10 năm]; CÐ ngày 3/8/1884; Doc. 10, p. 9) [3/8/1884: Ferry chỉ thị cho Patenôtre: Giá cuối cùng 50 triệu. Ðòi 200 hay 250 triệu, TH sẽờ thụt lại].

51. Lettre Commune [Thư chung] 1858:47. Xem thêm những thư từ, báo cáo của Puginier trong giai đoạn này; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:257n64; Cao Huy Thuần, 1990:176.

52. ÐNTLCB, IV, 32:59-60; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, 30/11 TÐ XXIII, CB 364:90-4 (ghi ngày 30/11 Canh Ngọ [20/1/1871]); Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:209-15, 225-33. Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo, tái bản có bổ sung (Sài Gòn: NXB TP/HCM, 2002), tr. 569-71 [CBTÐ q. 233, ngày 30/11 TÐ XXIII (20/1/1871)], 571-572 [CBTÐ q. 233, ngày 5/12 TÐ XXIII (25/1/1871); “Di thảo số 43,” tr. 410-22; tr. 428-29 [Tộ và việc dịch thư Nguyễn Bá Nghi năm 1861-1862] Theo một nguồn tin, tháng 2/1871, Tộ còn đề nghị đánh úp Gia Ðịnh. Nếu vậy, Tộ không nhận hiểu khả năng quân đội Nguyễn, chính sách chủ hòa của Tự Ðức và Từ Dụ thái hậu, cùng âm mưu của Puginier và Gauthier (cha đỡ đầu Tộ) nhằm xúi dục soái phủ Sài Gòn chiếm Bắc Kỳ. [Tháng 8/1873, Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Triệt bắt được thư Dupuis gửi Gauthier về việc góp vốn làm ăn, chuyển cho Thống đốc Pháp; 32:305] Ðánh úp Sài Gòn hẳn sẽ biến thành một cái cớ toàn vẹn nhất cho Pháp mang quân ra Bắc, nơi “6,000” tay súng của Puginier sẵn sàng giúp vài chiến hạm và khoảng một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến đánh chiếm thành trì, tạo nên vương quốc Bắc Kỳ Ki-tô tự trị. Năm 1873, khi Francis Garnier mang quân đánh miền Bắc, số lính đánh thuê bản xứ lên tới 12,000 người, theo tài liệu Việt; và 14,000, theo tài liệu Pháp. [Xem infra]

53. ÐNTLCB, IV, 32:56-59 [10-11/1870]. Tháng 10/1872, về nước, được vua khen ngợi. Hữu Lập được thăng thực thụ Thị lang, thự Tham tri bộ Hộ. Phó sứ thứ hai Trần Văn Chuẩn bị mất cắp bộ áo chầu tam phẩm được miễn tội. Ibid., 32:240. Trên đường đi, Nguyễn Hữu Lập gửi thư cám ơn Tô đại nhân về việc dẹp Ngô Côn, và yêu cầu đánh phỉ Tô Quốc Hán, đang chiếm cứ Cao Bằng; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, thập nhị tam niên, thập nguyệt-thập nhất nguyệt, không ngày, Ðồng Trị IX [1870], CB 362:336-39.

54. ÐNTLCB, IV, 32:130, 33:213.

55. Tháng 10/1872, mua tàu thủy Viễn Thông của Prussia, giá 1 vạn đồng; ÐNTLCB, IV, 32:237-38. Có lẽ vì vậy, các giáo sĩ tung tin Prussia đã nạp cho Tự Ðức dự thảo một hiệp ước “42 điều.”

56. France, Documents diplomatiques [DD] I:84; ÐNTLCB, IV, 34:143; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, tam thập nhất niên, thất nguyệt-thập nguyệt, 15/8 TÐ XXXI, CB 435:96-101; tam thập nhất niên, thập nguyệt-thập nhị nguyệt, 26/11 TÐ XXXI, CB 440:189-98.

57. ÐNTLCB, IV, 34:183-86.

58. Di thảo số 5 và tấu của Cơ Mật Viện ngày 19/3/1868 [26/2 TÐ XXI]; HV 189/4, tờ 64-68; dịch qua Việt ngữ trong Cần, 2002:549-52] TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, Tự Ðức Nhị Thập Tứ Niên, Tam-Ngũ nguyệt, ngày 22/4 TÐ 24, CB 369:203-7.

59. H. Peysonneaux & Bui Van Cung, “Le traité de 1874: Journal du secrétaire de l’Ambassade annamite;” BAVH, VII, No. 3 (Jul.- Sept. 1920), tr. 370 [365-384]; ÐNTLCB, IV, 32:304.

60. Về các tài liệu liên quan đến Nguyễn Huy Hỗn (hoặc Côn) có các thông tin về việc ông qua Hồng kông học đúc pháo, đóng thuyền và ghi chép về tình hình ở Hồng kông. Ông đã từng qua Hồng kông, Ma cao, Quảng Ðông và gặp gỡ 1 số người tính chuyện thông thương buôn bán với Việt Nam, trong đó có viên Lãnh sự Hoa kỳ nhưng không ghi rõ tên.TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 10/12 TÐ XXVI, CB 254, TL 40, tờ số 94, & 28/12 TÐ XXVI, CB 254, TL 89, tờ số 187. [TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, Nhị Thập Lục Niên, Thập nhất-Thập nhị nguyệt, 10/12 TÐ XXVI (Quí Dậu) [27/1/1874], CB 385:92-96]; ÐNTLCB, IV, 33:59.

61. ÐNTLCB, IV, 35:59-62, 85, 89-91. Báo cáo của Khoa đạo Lê Ðĩnh sau chuyến đi Hongkong trở về có lẽ phần nào đóng góp vào quyết định này; Ibid., 35:86-87.

62. ÐNTLCB, IV, 32:53-59; Miller, 1990:69.

(Georges Taboulet, La geste francaise en Indochine: Histoire par les textes de la France en Indochine des origines à 1914, 2 tập (Paris: Maisonneuve, 1955-1956), I:207)

 

 

Nguyễn Ái Quốc:

Người Việt Ðầu Tiên Ðến Mỹ?

Vũ Ngự Chiêu (*)

 © 2007,  2010, Chieu Ngu Vu & Van Hoa Publishing Co. All Rights Reserved.

 (Phần II)

  II . THỰC CHĂNG BÙI VIỆN TỚI MỸ?

Vào hạ bán thế kỷ XX, xuất hiện ở Nam Việt Nam một huyền thoại là dưới triều Tự Ðức, Bùi Viện đã hai lần đến Mỹ, và năm 1873 (Quí Dậu) được đích thân Tổng thống Ulysses S. Grant (1869-1877) tiếp đón. Trước năm 1975, tại quận 2 Sài Gòn cũng có một đường nhỏ đặt tên Bùi Viện–nơi khách ăn nhậu bình dân ưa hẹn hò thưởng thức những món đặc thù miền Nam như lươn, cá, v.. v... Dù thực ra chẳng mấy người biết hay mất công tìm hiểu Bùi Viện là ai. Năm 1967, khi tiếp kiến đại sứ Việt Nam Cộng Hòa, Tổng thống Lyndon B. Johnson (1963-1969) cũng nhắc đến “sứ thần” đầu tiên người Việt là Bùi Viện.

Tuy nhiên, cho tới đầu thế kỷ XXI, chuyến đi Mỹ của Bùi Viện vào thập niên 1870 còn là dấu hỏi lớn.

   A. BÙI VIỆN QUA MỸ?

1. Cả ba [3] tài liệu Việt ngữ xuất bản tại Nam Việt Nam dẫn trên đều chép việc Bùi Viện qua Mỹ. Tuy nhiên, chi tiết khác nhau đáng kể.

a. Nhóm tác giả Lê Văn Ðức, Lê Ngọc Trụ ghi Bùi Viện được phái sang Quảng Ðông để tìm cách mở mang việc buôn bán với ngoại quốc. Tại đây, ông kết giao với con Lãnh sự Mỹ và được người này hứa đem qua Mỹ xin viện trợ. Bùi Viện phải về Huế xin phép vua. Vua chưa tin, phái ông qua Hongkong hỏi cho chắc chắn rồi mới ban quốc thư. Sợ tốn thì giờ, Bùi Viện mạo quốc thư, rồi tự chế áo mão tam phẩm qua Hongkong. Chính phủ Mỹ đồng ý giúp, cử đại diện qua Việt Nam. Tự Ðức không bắt tội, lại ban cho ông danh nghĩa chính thức qua Mỹ xin viện trợ. Nhưng thời gian này, tình hình đã thay đổi. Dù đồng ý giúp, Mỹ đòi phải ứng trước 2 triệu quan để làm quân phí. Ông về tâu vua, vua cho phép kinh doanh để kiếm ra số tiền 2 triệu quan đó. Ðình thần hay được, khép ông vào tội khi quân, giam ông đến chết.

b. Trịnh Văn Thanh có chi tiết tương tự như nhóm Lê Văn Ðức, Lê Ngọc Trụ (giả quốc thư, áo mão); nhưng thêm về nước Bùi Viện được vua phong làm “Tham biện thương chánh” cùng với Nguyễn Tăng Doãn coi việc thương chính ở Bắc Kỳ.

c. Nguyễn Quốc Thắng & Nguyễn Bá Thế ghi năm 1873 Bùi Viện được gặp Tổng thống Ulysses S. Grant. Grant có thiện cảm, nhưng không đồng ý viện trợ. Về nước, Tự Ðức bổ làm Tham Tri [2-2], rồi Tham chính thương biện [4-1?], cùng Nguyễn Tăng Doãn lo việc thương chính ở Bắc Kỳ. Ít lâu sau, làm Chánh quản đốc Nha tuần tải. Ngày 1/11 Mậu Dần (1878) ông mất.

d. Năm 1962, Thái Văn Kiểm cũng công bố bằng Pháp ngữ việc Bùi Viện đến Mỹ. Theo tác giả, Bùi Viện nhận lệnh Tự Ðức qua Hong Kong tiếp xúc đại diện các cường quốc ở đây, hy vọng dùng áp lực quốc tế chống lại âm mưu thôn tính Ðại Nam của Pháp. Qua sự giới thiệu của Lãnh sự Mỹ ở Hong Kong, Bùi Viện sang Nhật, gặp Lãnh sự Mỹ ở Hoành Tân [Yokohama]. Từ đây, mùa Ðông năm 1873, Bùi Viện qua San Francisco, rồi được Tổng thống “Simpson Grant” tiếp kiến. Nhưng vì Bùi Viện không có quốc thư, nên Grant không hứa hẹn điều gì. (63)

 

B. BÙI VIỆN VÀ SỬ LIỆU:

Sử nhà Nguyễn xác nhận Bùi Viện là một tác nhân lịch sử. Hai nguồn tư liệu chính–Nguyễn Triều Châu Bản, Tự Ðức [CBTÐ], và Ðại Nam Thực Lục Chính Biên [ÐNTLCB]–đều đề cập đến Bùi Viện.

1. Thực Lục ghi Bùi Viện được bổ làm quản đốc Nha Tuần tải năm 1877. Nha này gồm “Chánh, phó quản đốc một người; bát, cửu phẩm mỗi chức 1 người; thư lại, 6 người; mộ dũng quyền quản, 2 người; quyền suất, 6 người; điển tu, 1 người.” (64)

2. Hơn một năm sau, Tháng Chạp Mậu Dần (12/1878-1/1879), ÐNTLCB ghi bộ Hộ đề cử Nguyễn Hữu Thục làm Phó Ðề đốc Nam Ðịnh, thay Bùi Viện cai quản Nha tuần tải. “Bùi Viện để thiếu rất nhiều; em là Bùi Bổng phải nhận lĩnh chở thuê để khấu trừ.” Tuy nhiên, Hộ đốc Nam Ðịnh Nguyễn Trọng Hợp [Hiệp] (1838-1902) không nhận Thục vì “chưa làm được việc gì đã lĩnh 10 vạn quan tiền công.” Vua đồng ý, cho Hợp tự lo liệu. Tổng đốc Hợp sửa lại 4 tàu thương hiệu, chọn phái các viên lãnh mộ, sử dụng tới hơn 130 người Thanh, cho thuyền và dõng binh ra biển tập luyện. Lại ủy cho bọn bang biện người Thanh đứng ra bảo nhận thuê các hiệu thuyền Thanh đi tải. Hợp cũng tố cáo ra vụ án tham ô tại Nam Ðịnh, khiến nhiều người bị phạt.( 65)

3. Nguyễn Triều Châu Bản –tức tư liệu Nội các, Viện Cơ Mật và 6 bộ của triều đình, có bút phê mực đỏ [son] của vua, giống như các văn khố ngoại quốc–cung cấp nhiều chi tiết hơn về thành tích làm quan của Bùi Viện.( 66)

a. Về thân thế Bùi Viện, Châu Bản Tự Ðức cho biết ông sinh năm Ðinh Dậu (1837). Ngày 10/12/1870, Bộ Lễ trình việc Bùi Viện và em là Bùi Bổng (hay Phụng) xin Quyền lãnh Tổng đốc Ðịnh Yên Nguyễn Hiên cho cải chính năm sinh, vì lý trưởng ghi sai. Hai người mới đỗ Cử nhân (Bùi Bổng năm 1867 và Bùi Viện ân khoa tháng 10/1868). Bùi Viện xin sửa năm sinh thành Ðinh Dậu (1837); Bùi Bổng, năm Quý Mão (1843). Tỉnh ấy xét thấy là sự thực xin thẩm biện. Bộ Lễ thấy hai viên đó đều biết chữ, đáng lẽ khi đăng bảng thi Hương phải xin cải chính ngay, không nên đợi đến sau khi đã thi Hội mới hành động. Ðề nghị cho cải chính, nhưng theo lệ phạt 6 tháng lương để răn đe. Sẽ bắt đầu khi bổ nhiệm.( 67)

b. Về ngày mất, CBTÐ ghi Bùi Viện ốm chết đêm mồng 1/11 Mậu Dần (24/11/1878). Cái chết đột ngột này khiến Nguyễn Văn Tường và các quan chức cho lệnh tiến hành việc kiểm kê tất cả hóa vật và thuyền tải để tránh thất thoát. (68)

c. Về sự nghiệp quan trường, CBTÐ cung cấp nhiều chi tiết đáng giá. Trước hết, ngày 15/10/1877 Bùi Viện được giao nắm cơ quan đặc trách việc chuyên chở đường thủy này. Vũ Ban làm Phó Quản đốc. (69)

d. Khoảng hơn một tháng sau, ngày 18/11/1877, bộ Hộ và bộ Binh trình việc Bùi Viện đã mộ binh dõng, chỉnh bị chiến thuyền; xin khởi sự tiễu trừ giặc biển. Ngày này, bộ Hộ và bộ Binh cũng báo Bùi Viện đã tổ chức bảo vệ và thu tiền bảo hiểm các thương thuyền để phụ vào chi phí của Nha Tuần tải. (70)

e. Ngày 14/9/1878, bộ Hộ trình việc Bùi Viện can tội hối lộ nên không được xét thưởng. (71)

f. Ngày 19/2/1879, bộ Hộ trình việc Bùi Viện vay 100 lạng bạc từ kho Nam Ðịnh, bị khiển trách. (72)

g. Trong ba năm 1878-1880, bộ Hộ nhiều lần trình việc các tàu thuyền do Bùi Viện và Bùi Bổng [Phụng] thuê chở hàng hoá đâm phải đá ngầm bị đắm và phải đền bù hàng hoá bị hư hỏng, thiếu hụt. (73)

h. Ngày 29/3/1878, Nguyễn Trọng Hợp trình Viện Thương bạc báo cáo của Bùi Viện về tình hình tiễu phỉ và hai bản đồ. (74)

Ngoài ra, còn hơn 10 tài liệu khác, đều không liên quan đến việc Bùi Viện xuất ngoại hay tiếp xúc với người Mỹ.

 4. Nha Tuần tải chuyên trách việc vận tải đường thủy các hàng hoá, thóc gạo, tiền và vũ khí. Mặc dù nhà Nguyễn có nhiều thuyền công, từ triều Gia Long đã có thói quen thuê thuyền buôn tư nhân người Thanh trong dịch vụ này. Hai trong những lý do là nạn hải tặc và kinh nghiệm hàng hải. Việc mở cửa Ninh Hải (cửa Cấm) tức Hải Phòng sứ tỉnh Hải Dương cho việc giao thương từ năm 1875-1876, cộng với việc cắt đứt Nam Kỳ cho Pháp, khiến vai trò tuần hải ở miền Bắc ngày thêm quan trọng. Năm 1875, tổng số tàu tuần biển và chở hàng là 403 chiếc (hư hỏng vì gió, giặc, 9 chiếc). Năm sau lên tới 458 chiếc (hỏng việc, 22 chiếc). Năm 1877, 345 chiếc (30 chuyến bị trở ngại vì bão, v.. v...). Khoảng 5,000 người Hoa đã di dân tới Ninh Hải trong hai thập niên 1860-1870, tạo thành giai tầng trung gian kinh tế quan trọng cho cả triều Nguyễn lẫn các lãnh sự Pháp. Tham biện đầu tiên ở trạm thuế Ninh Hải là Linh mục Nguyễn Hữu Cư hay Thơ, trước đó phục vụ tại Hành nhân ty, và từng tháp tùng sứ đoàn Lê Tuấn vào Sài Gòn bàn định Hiệp ước 15/3/1874. Khi từ Ninh Hải trở lại Huế năm 1880, Linh mục Cư–có lẽ vì vụ khám phá ra âm mưu nổi loạn của Huyện Thy–bị Ðại biện Rheinart des Essarts kết tội “chống Pháp,” và nghi ngờ là gián điệp, không thân Pháp như Nguyễn Hoằng, một Linh mục khác làm Hành nhân từ năm 1866, mới bị cách chức. Nhưng qua khả năng mà Giám đốc chủng viện Thợ Ðúc, Jean Nicolas Renauld (1809-1898), khen ngợi Rheinart–tức muốn “mua [được] cả ngai vàng nhà Nguyễn” [móc nối Hoàng tử Ưng Chơn và các Hoàng thân, công tử]–sau này Rheinart cũng biến Cư thành một nhân viên ăn lương Tòa Khâm. (75)

 

C. LỊCH SỬ HAY HUYỀN THOẠI?

Cho tới đầu thế kỷ XXI, chưa một tư liệu văn khố nào giúp chứng minh Bùi Viện đã qua Mỹ.

1. Văn khố Mỹ: Các nhà nghiên cứu làm việc tại văn khố Bộ Ngoại Giao Mỹ khẳng định chưa có dấu vết Bùi Viện qua Mỹ, hoặc tiếp xúc với lãnh sự Mỹ ở Hong Kong hay Nhật. “Sứ đoàn Bùi Viện” vào thời Grant chẳng là bí mật an ninh quốc gia để phải giữ kín (như hoạt động của cơ quan OSS tại Trung Hoa và Ðông Dương trước năm 1945, trong thời gian chiến tranh Việt Nam, 1945-1975). Bởi vậy, sự im lặng này của văn khố ngoại giao Mỹ thật đáng ngạc nhiên–nếu quả thực Bùi Viện đã tới Mỹ. Và, hầu như bất khả, nếu được Grant tiếp kiến.

2. Văn khố Việt: Tư liệu triều Tự Ðức cũng im lặng. Châu Bản và Thực Lục, như đã giải trình ở phần trên, chỉ cung cấp thông tin về Ðội Tuần tải hay cá nhân Bùi Viện. Không có ánh sáng nào về các công tác khác–như qua Hong Kong, Nhật hay Mỹ.

Dĩ nhiên, do tình trạng bị hư hại, mất mát của Châu bản nhà Nguyễn suốt hơn một thế kỷ–phần vì khí hậu, phần vì phương pháp bảo quản, chiến tranh, và nhiều lần di chuyển–có khả năng tư liệu liên quan đến chuyến đi Mỹ hay Hong Kong của Bùi Viện bị mất. (76) Một giả thuyết để làm việc khác là ngày đó, vì chức vị còn nhỏ, có thể Bùi Viện đã tháp tùng một sứ đoàn nào đó qua Hong Kong. Bởi thế, không thể không tra cứu thêm các tư liệu liên hệ đến ngoại giao trong giai đoạn 1870-1878–như chuyến qua Hong Kong của Nguyễn Hữu Lập, Nguyễn Tăng Doãn và Nguyễn Huy Hỗn–mới hy vọng phá vỡ được sự im lặng quanh chuyến đi Mỹ của Bùi Viện trong các văn khố Việt.

3. Văn khố Việt và chính sách ngoại giao của Tự Ðức: Từ thập niên 1860, tưởng nên nhấn mạnh, triều Nguyễn đã thu gặt được một số bài học vỡ lòng về ngoại giao theo kiểu Tây phương đương thời. Tự Ðức là một nho sĩ xuất sắc, muốn được so sánh với Hán Văn Ðế, yêu thích sử và văn thơ. Nhưng vua không được trang bị và cũng thiếu khả năng lãnh đạo một vương quốc trong cơn bão táp thực dân.

Có bốn yếu tố chính khiến Tự Ðức rơi vào cảnh “đánh chẳng được, hòa chẳng yên,” hành xử như loài ngựa vằn húc đầu vào bụi rậm chờ ngày bị mãnh thú nhai nuốt. Thứ nhất, một yếu tố vượt ngoài sự kiểm soát của vua, là gánh nặng di sản văn hóa/chính trị mà vua được di chiếu phải bảo vệ–tức tự cô lập và cấm đạo từ thời Minh Mạng. Chính sách này đẩy khối giáo dân Việt vào thế tử thù của chế độ, và không ít người sẵn sàng nương tựa Pháp để lật đổ Tự Ðức. Lá thư của Petrus Key chuyển đến tay Trung tá Jean Bernard Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859, hay những toán thổ phỉ và hải tặc Ki-tô trong nỗ lực mở mặt trận thứ hai ở Bắc Kỳ của Vũ Văn Kịch, v.. v... từ thập niên 1850 là những thí dụ tiêu biểu. Ðồng thời, chính phủ Pháp cũng tìm thấy một cái cớ để biện minh “quyền” đánh chiếm Ðại Nam, lập một tân trào dựa trên các thày kẻ giảng và 600,000 giáo dân bản xứ. (Chi tiết này bị “bỏ quên” trong sử văn hiện nay). (77) Thứ hai, là chứng bệnh kinh niên từ nhỏ–chóng mặt, nhức đầu, khiến thân thể gầy ốm, chỉ sống được nhờ thuốc men (mà có người cho là bệnh động kinh)–khiến từ giữa thập niên 1870 khả năng cai trị của Tự Ðức chỉ còn thu gọn trong vòng cấm thành. Thứ ba, là bóng đen của các phụ chính đại thần, đặc biệt là Trương Ðăng Quế, cho tới khoảng năm 1862; và sự sụp đổ của cả hệ thống trật tự chính trị/xã hội dựa trên Khổng giáo, qui tâm về Yên Kinh. Thứ tư là ảnh hưởng của Từ Dụ thái hậu, con bồ câu lớn nhất tại Huế–một chiếc bóng mờ của Từ Hi thái hậu nhà Thanh–nhưng đủ ảnh hưởng bắt Tự Ðức đổi bằng mọi giá việc tôn trọng vài chục mẫu đất hương hỏa nhà họ Phạm và họ Hồ trong các hiệp ước 1862 và 1874.

Từ ngày được đích thân cầm quyền, Tự Ðức thử nghiệm nhiều cải cách, như củng cố và tăng gia quyền lực hoàng tộc theo lối nhà Thanh; hay, trái với cảm nhận đại chúng do các nguồn thông tin thuộc địa và truyền giáo, từng sử dụng nhóm duy tân Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trường Tộ, Ðặng Huy Trứ, v.. v... Năm 1866, Tự Ðức cũng gửi một sứ đoàn qua Pháp, do Giám mục J. D. Gauthier cầm đầu, có Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Ðiều tháp tùng. Nhưng khi Gauthier trở lại Huế, biến cố Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây và phản ứng của giới văn thân khiến kế hoạch thành lập một trường Quốc Học bị hủy bỏ. Hơn nữa Gauthier cũng chẳng tìm được nhân tài Pháp nào để giúp kế hoạch duy tân của Tự Ðức có hy vọng thành công. Tuy nhiên, Trần Tiễn Thành–thay Trương Ðăng Quế từ năm 1862–vẫn tiếp tục nỗ lực cải thiện hoặc thiết lập quan hệ với các nước. Ảnh hưởng những điều trần của Nguyễn Trường Tộ–một nhân vật huyền thoại khác trong lịch sử Việt, chưa được nghiên cứu kỹ càng–khiến Huế tìm cách học hỏi kinh nghiệm từ Bangkok, và những nỗ lực tiếp cận Bri-tên, Espania và một số cường quốc khác như những đối lực với Pháp. (78)

Kinh nghiệm thương thuyết với Pháp từ năm 1859–như cử đại sứ toàn quyền để ký thương ước, hòa ước cắt đất cùng trả tiền bồi thường chiến phí, v.. v...–cũng khiến Tự Ðức muốn chuyên nghiệp hóa ngành ngoại giao; trước đây chỉ đóng khung trong hệ thống “thông hiếu” [tributary network], tức nước nhỏ thờ nước lớn, cho tới ngày bị thượng quốc thôn tính, tiêu diệt và lập miếu thờ. Nhà Thanh còn đóng góp thêm kinh nghiệm lập một cơ quan ngoại giao riêng, tức Tổng lí các quốc thông thương sự vụ nha môn–gọi tắt là Tổng lí nha môn, Dinh thự (phòng phiên dịch), hay Tổng thự (phòng trung tâm)–chính thức hoạt động ngày 11/3/1861. Vì Ðại Nam là một nước nhỏ, Tự Ðức không muốn lập Tổng li, chỉ đặt chức Thương bạc Ðại thần từ tháng 10/1873. (79)

Tuy nhiên, thế kỷ XIX-XX cường quốc vẫn còn kiêu hãnh đặt tên cho những cuộc xâm chiếm nước nhỏ là “gánh nặng của người da trắng.” Một Thủ tướng Pháp được mang biệt danh le Tonkinois–không vì ông ta sinh ra ở Hà Nội hay Bắc Kỳ–mà vì chủ trương đánh chiếm miền Bắc. Ngày 20/1/1946, khi tiếp Paul Mus–đặc phái viên của Linh mục/Cao Ủy Thierry d’Argenlieu về Paris xin phép được nhắc đến tiếng “độc lập” trong khi thương thuyết–Thủ tướng Charles de Gaulle chẳng những không thuận, còn đứng thẳng người lên, tuyên bố: “Chúng ta trở lại đó vì chúng ta là những kẻ mạnh hơn.” [Nous rentrons en Indochine parce que nous sommes les plus forts]. (79bis)

 Bởi thế, những nỗ lực ngoại giao mà Nguyễn Trường Tộ và nhiều nhà duy tân đề xướng đều chẳng mang lại kết quả.

a. Nỗ lực nối lại bang giao với Xiêm La từ 1860 hoàn toàn thất bại. Mongkut hay Rama IV (1851-1868) và Surisavong có nhiều việc phải quan tâm hơn bang giao với Huế. Ðại diện Xiêm (A La Hàm) tiết lộ phải được Pháp chấp thuận mới có thể “thông hiếu.” Năm 1879, Tự Ðức cử Nguyễn Hiệp và Ðinh Văn Giản đi sứ Xiêm, được Chulalongkorn, tức Rama V (1868-1910), tiếp đãi ân cần và đồng ý gửi sứ qua Huế, dự trù vào tháng 5/1880. Từ tháng 8/1879, Huế đã bỏ công sức chuẩn bị đón tiếp long trọng. Nhưng cuối cùng, Krung-thêp dò ý Lãnh sự Pháp, rồi tuyên bố hủy bỏ sứ đoàn. Uổng phí công sức chuẩn bị đón tiếp là việc nhỏ; chứng nhức đầu kinh niên của Tự Ðức hẳn tăng thêm trước thực tế gai góc bị cô lập của “Trung Quốc miền Nam.” (80)

Tháng 5/1880, vua sai Thương bạc viết thư phản đối Pháp, viện dẫn điều 3 hiệp ước 1874, theo đó Ðại Nam có quyền duy trì ngoại giao với những nước đã có liên hệ cũ, nhưng Thống đốc Pháp không đồng ý, nên “sứ Xiêm không đến được.” Năm 1881, Tự Ðức lại gửi sứ qua Xiêm. Mùa Xuân 1882, Xiêm mới thuê tàu Pháp chở quà tặng đáp tạ. (81)

Từ năm 1865, Pháp và Xiêm cũng bắt đầu thảo luận về chủ quyền trên Kampuchea–mà theo lối diễn tả của Minh Mạng, giống như miếng xương sườn gà, trông thì ngon, nhưng khó nuốt. Năm 1867, Xiêm đổi quyền bảo hộ Kampuchea cho Pháp, lấy hai tỉnh Battambang và Siamreap. Có lẽ vì thế kinh nghiệm Xiêm La khá hấp dẫn ở thời điểm này. Thực ra, giòng họ Chakri may mắn hơn tài giỏi. Con triều thuộc địa chưa lên đến cao điểm. Năm 1888, Pháp bắt Xiêm cắt nhượng dần bốn tiểu quốc Lào để năm 1893 Liên bang Ðông Dương có được 5 xứ. Năm 1907, như một điều kiện để giữ được độc lập, Xiêm phải trả Kampuchea tỉnh Battambang và Sieamreap, và Lào một giải đất thuộc hữu ngạn sông Mekong [Khung giang] phía Bắc vĩ tuyến 15. (82) Và ảnh hưởng Bri-tên thống trị trên Xiêm.

b. Kampuchea cũng khai thác tối đa sự suy yếu của Huế. Dựa thế Pháp, Ang Duong và rồi Norodom khuấy rối biên giới, đòi lại đất đai đã bị yuon [Việt Nam] lấn chiếm. Năm 1859, quan hệ Kampuchea-Ðại Nam căng thẳng về việc hơn 1000 người Chàm và Ðồ Bà nổi loạn, trốn qua An Giang. Năm sau, quân Khmer quấy nhiễu vùng biên giới, dài theo kinh Vĩnh Tế.

Theo đúng truyền thống, cái chết của Ang Dương vào gần cuối năm 1860 lập tức tạo nên một cuộc tranh chấp nối ngôi giữa Norodom và Sisowath, nhưng lần này Huế không có tiếng nói nào. Oudong còn chẳng bận tâm sai sứ sang An Giang báo tang. Từ ngày Léonard Charner mang quân tới giải tỏa Sài Gòn, đánh phá chiến lũy Kỳ Hòa, rồi chiếm ba tỉnh miền Ðông Nam Kỳ, Sài Gòn thay Huế bảo hộ Kampuchea. Ngày 11/8/1863, Norodom ký với Thống đốc Pierre de Lagrandière (1863-1868) một Hiệp ước bảo hộ. Ngày 6/3/1864–sau một màn biểu dương chiến hạm ở cửa biển Kampot để chặn đường Norodom qua Bangkok, và thượng cờ tam tài trên cung điện Oudong ngày 3/3/1864–đại diện Pháp là Thiếu tá Louis Marie de Gonzague Doudart de Lagréé mới cùng sứ Xiêm làm lễ đăng quang cho Norodom. Từ đó, Kampuchea thoát cảnh chim hai đầu hướng về cả hai vương quốc láng giềng. (83)

Những cuộc nổi loạn năm 1866-1867 khiến Pháp ngày một can thiệp sâu hơn vào nội tình Kampuchea. Quan chức Việt có thể đứng sau lưng Assoa (Ong Bướm) trong cuộc nổi dạy ở vùng biên giới năm 1866, vì nhân vật tự nhận là con Ang Em (Nặc Yểm) này thực tế chỉ là một cựu nô lệ tị nạn ở An Giang từ năm 1864. Sau đó, còn cho Assoa về Thất Sơn để thu phục dân Khmer. Dưới áp lực Pháp, mùa Hè 1866, Tuần phủ Nguyễn Khắc Thận phải bắt “Ong Bướm” giao nạp.( 84) Năm sau, Tự Ðức quyết dứt tình với sáu tỉnh miền Nam–dù lúc nào cũng thở than, ao ước chuộc lại–và đồng thời đoạn tuyệt với Kampuchea cùng các tiểu quốc Lào.

c. Cuộc chiến Pháp-Phổ (1870-1871) bừng lên một hy vọng cho Tự Ðức hé mở cửa ngoại giao.

Thời gian này, Huế đã biết được tâm ý của soái phủ Sài Gòn. Ðề đốc Cornulier-Lucinière (8/1/1870-31/3/1871) [Cô Nô] đòi ký hiệp ước mới, với ba điểm chính: Giao trọn 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên cho Pháp; bồi thường Espania 1 triệu đồng; và, muốn giảng hoà với nước khác phải có sự đồng ý của Pháp. Thực ra, những đòi hỏi này chẳng có gì mới, Pháp chỉ muốn được viết thành văn bản để tạo một căn bản công pháp quốc tế: Ba tỉnh miền Tây đã bỏ ngỏ cho Pháp chiếm từ năm 1867 để được miễn tiền bồi thường chiến phí; tiền bồi thường cho Espania chưa được thanh toán; và, trên thực tế, Pháp đã phong tỏa Việt Nam, ngoại trừ liên hệ thương mại với Trung Hoa.

Triều đình có những phản ứng trái ngược nhau. Thân Văn Nhiếp và Hoàng Kế Viêm yêu cầu viết thư tranh luận, bác bẻ và thông báo cho các nước lân bang, như Penang (Hạ-châu), Hong Kong, và phương Tây biết để yêu cầu can thiệp. Nhóm Trần Tiễn Thành chủ trương ôn hòa, chỉ viết thư yêu cầu Pháp xét lại. Tự Ðức chấp thuận kế hoạch của Trần Tiễn Thành; nhưng Thống đốc Sài Gòn nói thẳng là không thể thay đổi. Ít lâu sau, nhân cơ hội Pháp thua trận ở Âu châu, đất đai bị Prussia chiếm đóng, Tự Ðức viết thư chia buồn việc “quốc chủ” Pháp (Napoléon III) bị bắt, và xin chuộc lại sáu tỉnh miền Nam. Cornulier-Lucinière chỉ cám ơn việc thăm hỏi, không nhắc gì đến Nam Kỳ. (85)

Những đề nghị của Nguyễn Trường Tộ lại được mang ra thí nghiệm. Nhiều sứ đoàn Việt liên tục qua Hong Kong, Ma Cao để cải thiện quan hệ với ngoại quốc, đặc biệt là Bri-tên. Ngày 24/1/1874, Nguyễn Huy Hỗn báo cáo trong chuyến đi Hong Kong và Ma Cao năm 1873 có người khuyên nên dựa vào Trung Hoa và kết giao với Bri-tên. Ba ngày sau, 27/1, Hỗn trình thêm là đã nói chuyện với quan viên nhà Thanh và lãnh sự Mỹ (nhưng không ghi tên). Rồi ngày 1/2, Nguyễn Huy Hỗn đề nghị gửi sứ qua Yên Kinh thương nghị với các nước để chống âm mưu Pháp phong tỏa việc ngoại thương của Việt Nam. (86)

d. Ðiểm đáng ghi nhận thứ nhất là không thấy tên Bùi Viện xuất hiện trong báo cáo của sứ đoàn này, hay bất cứ sứ đoàn nào đi Hong Kong trước đó (như sứ đoàn Nguyễn Tăng Doãn, v.. v...).

Ðiểm thứ hai đáng ghi nhận là chính sách “hé cửa” của Tự Ðức–với những bước rụt rè, trong nỗi lo sợ các quan tướng Pháp “nổi giận”–phản ánh một thực trạng chẳng mấy phấn khởi:

(1). Ba sứ đoàn Espania tới Huế năm 1870, 1879 và 1880. Sứ thần năm 1870 ký một thương ước và “đứng vái ba lần” tại điện Văn Minh. Nhưng Espania không đủ khả năng hay ước muốn chống Pháp. Espania cũng không muốn trở thành lá bài của Tự Ðức, và chính sách đại cương của Madrid là duy trì và củng cố các thuộc địa hiện hữu. Hai sứ đoàn năm 1879 và 1880 đều do Ðại tá Melchor [Manoel] Ordonez, Tổng Tư lệnh Philippines, và Marino Fernandez de Henestrosa, thư ký của phái đoàn Ki-tô đặc biệt ở Việt Nam, cầm đầu. Ngày 27/1/1880 [16/12 Kỷ Mão], Ðỗ Ðăng Ðệ và Hoàng Diệu ký thương ước mới với Ordonez. Tuy nhiên, Espania cho Pháp quyền quản trị các giáo sĩ Espania ở Bắc Kỳ và chịu trách nhiệm số tiền bồi hoàn chiến phí mà Tự Ðức còn thiếu. Ngày 26/9/1880, Ordonez trở lại Huế, trao đổi văn bản thương ước được phê chuẩn. Nhưng Espania chẳng có dấu hiệu nào đáp ứng sự trông đợi của Huế (như tiền bồi hoàn chiến phí). Tháng 3/1882, vừa lo sợ vừa giận dữ trước tin Paris đã quyết chiếm Bắc Kỳ, Tự Ðức từ chối ban huy chương cho lãnh sự Espania ở Sài Gòn “vì thương ước chưa thực hiện được điều khoản nào; lại không có công trạng gì.” (87)

(2). Việc tiếp xúc với Bri-tên đã mở ra từ thập niên 1860. Nhu cầu mua khi giới, tàu chiến và đạn dược, quân nhu giúp quan hệ với Hong Kong gia tăng. Năm 1866, xảy ra việc hãng buôn Bri-tên Bonan [Phố Na] ở Hong Kong đòi triều đình Huế phải cho thu thuế thuốc phiện ở các hải cảng Ðại Nam để trừ vào số tiền mua tàu Mẫn Thỏa, nhưng cuối cùng được dàn xếp ổn thỏa. Tháng 8/1867, Nguyễn Tri Phương, Võ Trọng Bình và Trần Tiễn Thành trình việc thông ngôn Nguyễn Ðức Hậu, khi qua Hong Kong trao trả nạn nhân đắm tàu, được người Bri-tên nói sẵn sàng giúp chống Pháp, và xin gửi Trần Ðình Túc, Nguyễn Văn Thúy cùng thông ngôn Hậu qua Hong Kong tạ ơn. (88)

Dĩ nhiên, một số viên chức Bri-tên chẳng ưa gì Pháp (và ngược lại). Nhưng ở thời điểm này, London chủ trương liên minh với Paris có lợi hơn kình chống lẫn nhau. Từ thập niên 1830, liên minh này không chỉ khiến Yên Kinh nghiêng ngửa trong nỗ lực của Bri-tên và Pháp nhằm bảo vệ quyền tự do hút thuốc phiện và tự do tín ngưỡng của dân Trung Hoa, mà còn khiến Nga phải chịu khuất phục. Bởi thế, nỗ lực cải thiện liên hệ với Bri-tên, qua Hong Kong và Singapore, đều không có hồi âm từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Office). Trong khi đó, Bri-tên bổ nhiệm một Lãnh sự tại Sài Gòn từ hạ bán thập niên 1860. Việc ký Hiệp ước 1874 và phụ ước thương mại khiến London thắc mắc về quyền tài phán của các lãnh sự Pháp tại các cảng sắp mở ra ở Bắc và Trung Kỳ. Nhưng Bri-tên vui vẻ chấp thuận lời giải thích của Ngoại trưởng Decazes ngày 24/3/1875 là Pháp sẽ tạm thời cho phép các lãnh sự ngoại quốc xét xử công dân nước họ. (89) Giữa tháng 12/1881, khi Lý Hồng Chương đề nghị Thomas Wade, Ðại sứ Bri-tên ở Yên Kinh, ký hiệp ước với Ðại Nam, Wade nói ví thử có ký được thương ước với Huế, hiệp ước này không thể vượt ngoài khuôn khổ Hiệp ước Pháp-Việt 1874. (90)

Tóm lại, Bri-tên–đối lực duy nhất của Pháp mà nhiều người Việt, kể cả Nguyễn Trường Tộ kỳ vọng–chẳng muốn tự biến thành lá bài của Yên Kinh hay Tự Ðức.

(3). Quan hệ với Prussia chẳng có dấu hiệu phát triển. Cuộc viễn chinh trục xuất Jean Dupuis khỏi miền Bắc năm 1873 và Hiệp ước “bảo trợ” 1874 ít nhiều ảnh hưởng.

Ngày 6/4/1875, chiến hạm Wolf của Prussia tới Hải Phòng, tìm cách tiếp xúc viên chức Việt. Sau đó vào Ðà Nẵng, với ý định lên Huế. Huế hỏi ý kiến Lãnh sự Pháp; và được khuyên là chỉ nên theo thủ tục thông thường, cho quan chức địa phương tiếp, rồi đến Thương Bạc. Thuyền trưởng bỏ đi. Tháng 11/1878, trong dịp tiếp kiến Ðại sứ Pháp Saint-Vallier, Bismark tiết lộ một số nhà thám hiểm Prussia yêu cầu nên khai khẩn sông Hồng, một thủy lộ dẫn vào Vân Nam, vì Pháp có ý bỏ rơi vùng đất này. Nhưng Bismark không muốn thiết lập thuộc địa ở hải ngoại, và nghĩ rằng Bắc Kỳ hình như đã nằm trong quĩ đạo Pháp. Bởi thế, Bismark muốn biết rõ ý định Paris. Nhận được lời khẳng định của Ngoại trưởng Waddington là Pháp coi vấn đề Bắc Kỳ chỉ có tính cách thời gian, Bismark nói trong trường hợp Pháp bỏ rơi miền Bắc, Berlin sẽ tự coi có toàn quyền hành động. Ngày 26/7/1880, Freycinet nói với Jauréguiberry là Germany cho biết không phản đối việc Pháp chiếm Bắc Kỳ. (91)

(4). Các phái viên của Tự Ðức còn tiếp xúc được vài nhà buôn Nga, như Lạc Sĩ Ðiền hay Xuy Di để mua diêm tiêu làm thuốc súng. Nhưng hàng không tốt, Phạm Phú Thứ còn bị thư nặc danh tố cáo móc ngoặc Nga thương kiếm lợi. Năm 1871, bộ Hộ, Binh và Công cho rằng không nên mua đồng, gang, súng và máy móc của Nga vì khó sử dụng. Ðề nghị bán tàu và khí giới cho Việt Nam của thương gia Nga cũng không đạt kết quả. Kết quả cuối cùng là một vụ kiện ở Hong Kong, và sau khi chỉ được bồi thường 6 vạn nguyên. Lạc Sĩ Ðiền bỏ về nước với lời đe dọa sẽ mang binh thuyền qua đánh Hong Kong để trả hận!( 92)

(5). Một số nhà duy tân, như Ðặng Huy Trứ, cổ võ việc noi gương Nhật Bản. Nhưng những nỗ lực tiếp xúc Nhật chỉ đưa đến việc mua đại bác. Tokyo đang bận rộn về vấn đề Ðài Loan, nên chưa có thời gian nghĩ đến vùng nampo [biển Nam]. Cuối cùng, Bố chính sứ Trứ bị thất sủng, ốm chết ở Hà Nội, vì “nói thì cao mà tài thì kém.” (93)

(6). Liên bang Mỹ, như đã lược nhắc, không còn nỗ lực nào để mở quan hệ với “An Nam” sau năm 1851. Mặc dù Hải quân Trung tá Matthew Perry và các nhà ngoại giao nhắc đến “Cochin-china” hay “Tonquin” trong các báo cáo của họ, Oat-shinh-tân chẳng mấy quan tâm đến phần lãnh thổ còn lại của Ðại Nam. Chủ trương “American business is business”–tức thương mại là hòn đá tảng–thống trị chính sách ngoại giao Mỹ thời gian này. Cung cấp vũ khí cho Xiêm hay Trung Hoa, cùng dầu hỏa cho Nam Kỳ thuộc Pháp mang lại những lợi tức đáng kể. Mỹ và Pháp cũng có liên hệ khá tốt đẹp: Bức tượng nữ thần Tự Do ở New York là món quà lập quốc của Pháp. Thêm vào đó, cuộc nội chiến Bắc-Nam (1861-1865) và nhu cầu tái thiết cùng Tây tiến khiến Mỹ mất cơ hội tranh chấp thuộc địa ở Viễn Ðông.

Tư liệu Mỹ cũng tiết lộ từ thập niên 1870, các nhà ngoại giao Mỹ tại Yên Kinh, Hongkong, Singapore hay Bangkok chỉ chú ý đến Sài Gòn. Tàu Mỹ chở than và gạo trên đường Hongkong-Sài Gòn mỗi năm lên tới 30 chiếc. Có trường hợp thủy thủ nổi loạn, cần giúp đỡ trên bờ. Họ đề nghị Bộ Ngoại Giao đặt tại Sài Gòn một đại diện thương mại hay nhân viên lãnh sự, nhưng năm 1873, Ngoại trưởng Hamilton Fish không tán thành.

Mười lăm năm sau, vào tháng 9/1888, BNG Mỹ mới đồng ý cử Aimée Fonsales, thuộc công ty Denis Frères, làm đại diện thương mại ở Sài Gòn. Fonsales nhận chức ngày 10/3/1889. Năm 1893, Schneegans thay Fonsales. Ba năm sau, 1896, Lauritz Stang thay Schneegans. Sau ngày chiếm Philippines năm 1898, Mỹ mới có một Phó Lãnh sự ở Sài Gòn. Năm 1908, Jacob E. Connor, được cử làm lãnh sự. Tháng 5/1908, hai chiến hạm Mỹ thăm Sài Gòn. Năm sau, 1909, Joblin thay Connor. (94)

Nên ghi thêm là dù đình thần nhiều lần nhắc đến Mỹ trong các cuộc bàn luận, cho tới đầu Thế chiến thứ hai (1939-1945), chưa một quan hệ nào được thiết lập, và có khả năng chưa vượt qua dự định hoặc ước muốn. Nguyễn Huy Hỗn, chẳng hạn, không nêu tên lãnh sự Mỹ ở Hong Kong tiếp xúc năm 1873. Nội dung buổi nói chuyện cũng cho thấy “lãnh sự Mỹ” chẳng có vẻ gì thiết tha–chủ yếu trách Huế không muốn giao thương với ngoại quốc, và sự khó tính của Pháp trong nỗ lực riêng chiếm Ðại Nam.Trong khi đó, các lãnh sự Hong Kong hay Ðại sứ Mỹ ở Yên Kinh không đề cập đến việc gặp đại diện Huế. Trọng tâm báo cáo của giới ngoại giao Mỹ trong thập niên 1870–kể cả lãnh sự Singapore, Bangkok–chỉ có việc bổ nhiệm đại diện thương mại ở Sài Gòn.

Ngoài ra, với những điều kiện chủ và khách quan của Việt Nam, ví thử Tự Ðức gửi người tiếp xúc được Liên bang Mỹ, cũng khó có khả năng thay đổi tham vọng của Pháp. Cách nào đi nữa, tưởng cần lập lại, chưa thấy dấu vết trong văn khố Mỹ hay Việt về sứ đoàn Nguyễn tới Mỹ. Ðiều này khá ngạc nhiên. Muốn được yết kiến một Tổng thống Mỹ–lại gặp đến hai lần–chẳng dễ dàng, và không thể không có dấu tích ít nữa từ hàng lãnh sự địa phương.

d. Cửa cấp cứu duy nhất còn lại là “Trung Quốc miền Bắc.” Liên hệ với Yên Kinh dưới triều Tự Ðức vẫn theo đúng nguyên tắc “luật kẻ mạnh” của hệ thống “thông hiếu” Á châu. Khi Tự Ðức mới lên ngôi, do nhà Thanh đang suy yếu vì ngoại xâm cũng như nội loạn, Yên Kinh cử sứ đoàn tới tận Huế phong vương. Ðôi lần còn yêu cầu hoãn hạn kỳ đi sứ. Nhưng cuộc xâm lăng của Pháp khiến Hán Văn Ðế tại Huế mất dần uy tín, thoái hóa nhanh dưới mắt Yên Kinh, không hơn một tước vương hạng nhì. Tự Ðức còn nhiều lần viết thư xin Tổng đốc Lưỡng Quảng hay Ðề đốc Quảng Tây cứu viện chống phỉ–nhất là tàn dư giặc Hồi ở Vân Nam và Thái Bình Thiên quốc từ Quảng Tây kéo xuống từ thập niên 1860.

Yên Kinh và quan tướng Hoa Nam cũng đầy tư tâm. Sự cầu viện của Tự Ðức, qua sứ đoàn Nguyễn Thuật năm 1880-1881, hâm nóng tham vọng mở rộng biên cương của Yên Kinh.

Năm 1882, sau khi Tự Ðức xác nhận quyền thượng quốc của nhà Thanh, quân Lưỡng Quảng và Vân Nam qua đóng thường trực tại Bắc Kỳ–nhằm mặc cả với Pháp. Thủ lĩnh Giặc Cờ Ðen trở thành lưỡng quốc đề đốc. Khi Tuần phủ Nguyễn Quang Bích tâu rằng dân gian Hưng Hóa lo sợ quân Thanh lợi dụng cơ hội chiếm lãnh thổ Việt, Tự Ðức chê là “lấy lòng kẻ tiểu nhân đo bụng người quân tử.” Ðiều Tự Ðức–lúc này đã hết giấc mơ Hán Văn Ðế, luôn đấm ngực tự trách sai lầm, bạc đức–không hoặc không muốn biết là những quân tử ở Tổng Lí Nha Môn khởi đầu thảo luận với Pháp bằng cách đề nghị một đường ranh giới phía Nam ở Quảng Bình; dù thực tâm chỉ muốn phần lãnh thổ phía Bắc sông Hồng. Ngày 20/12/1882, Lý Hồng Chương ký với Bourée một tạm ước chia nhau Tonkin mỏ và Tonkin gạo. (95) Tuy nhiên, cơn sốt thuộc địa ở Paris cũng như Sài Gòn khiến Pháp không tôn trọng tạm ước trên, với lý do Bourée đã vượt quá quyền hạn. Jules Ferry cho lệnh triệu hồi Bourée. Ðáng ái ngại chăng là các sứ giả Việt đã được hối hả gửi qua Thiên Tân để tham dự cuộc hòa nghị Pháp-Hoa vào đầu năm 1883. Sau một thời gian chờ đợi, Phạm Thận Duật được Lý Hồng Chương tiếp kiến, nhưng chỉ để trách móc Huế đã ký những hiệp ước gây khó khăn cho Yên Kinh. Bài học cuối cùng của Tự Ðức từ nhà Thanh chỉ có việc dịch quốc hiệu France từ Phật Lan TâyPhú Lãng Sa thành Pháp. (96)

Thực ra, nhà Thanh cũng đang lâm cảnh “ốc không mang nổi mình ốc.” Từ ngày 25/5/1875, Ðại biện Pháp ở Yên kinh đã yêu cầu Trung Hoa rút quân khỏi Bắc Việt. Ngày 15/6/1875, Ðại sứ Thanh tại Âu châu trả lời Paris rằng Yên Kinh không thể từ chối sự bảo vệ và giúp đỡ một chư hầu [vassal] của mình, vì Huế đã nhiều lần xin Thanh binh vào Bắc Việt dẹp phỉ. Cuộc tranh chấp về chủ quyền thượng quốc tại Ðại Nam kéo dài; nhưng Pháp không đánh giá cao Trung Hoa. Và, trên thực tế, rồi sẽ nhân cơ hội tranh chấp tại Bắc Kỳ, hủy diệt quan hệ ngoại giao “thông hiếu” giữa Bắc Kinh với Huế, và ngay cả Kampuchea hay Vạn Tượng.

Trong khi đó, quan tướng địa phương Thanh coi việc “ra ngoài cửa quan” đánh phỉ như cơ hội trục lợi, kể cả dịch vụ buôn thuốc phiện lậu và nô lệ người Việt. Bởi thế, những đạo Thanh binh diệt phỉ vừa rút về, phỉ cũ phỉ mới đua nhau xuất hiện. (97)

Năm 1878, nhân dịp Lý Dương Tài, một cựu Thống chế Thanh, dẫn phỉ tràn qua biên giới Phùng Tử Tài lại đích thân ra cửa quan đánh dẹp. Hơn một năm sau, Ðề đốc Quảng Tây rút đại quân về nước, chỉ để lại 5 doanh ở Cao Bằng-Lạng Sơn, mượn tiếng diệt phỉ, nhưng thâm tâm muốn bảo vệ phên dậu phía Nam và Tây Nam. Pháp cũng chuẩn bị thực hiện kế hoạch thôn tính Bắc Kỳ–vừa bảo đảm an ninh sông Hồng, vừa bẻ gãy âm mưu can thiệp của Yên Kinh. Mùa Hè 1882, Pháp mở cuộc “hành quân cảnh sát,” chiếm Hà Nội. Yên Kinh điều hai đạo quân Vân Nam và Lưỡng Quảng qua Bắc Kỳ làm thế tựa thương thuyết. Hải quân Thanh cũng được phái xuống bảo vệ bờ biển Hải Nam.

Cái chết của Trung tá Henri Riviere dưới tay Lưu Vĩnh Phúc (19/5/1883) khiến Pháp có một cái cớ hủy bỏ tạm ước Thượng Hải, để pháo hạm và Thủy Quân Lục Chiến thảo luận–từ Bắc Kỳ tới Phúc Kiến, Ðài Loan. Dù Tổng lí Nha môn có khả năng yêu cầu Mỹ 4 lần đứng ra làm trung gian trong hai năm 1883-1884, Yên Kinh vẫn không thoát được những cuộc biểu dương lực lượng của Pháp. Tham vọng chủ quyền của nhà Thanh kết thúc bằng lễ phá hủy chiếc “Việt Nam Quốc Vương chi ấn” bằng chữ Mãn Châu và chữ Hán, nặng hơn 5.8 kilograms, ngay tại Huế ngày 6/6/1884; và rồi, Hòa ước Thiên Tân 9/6/1885 mở đầu cho thời kỳ tạm gọi là Thiên Mệnh Ðại Pháp (1883-1945) tại Huế. (98)

4. Văn khố Pháp: Các tư liệu Pháp–văn khố Bộ Ngoại giao, Hải quân và Thuộc địa, cũng như Hội truyền giáo–hoàn toàn im lặng về chuyến đi Mỹ của Bùi Viện.

a. Mặc dù từ năm 1874-1875 các viên chức Pháp mới chính thức có mặt tại Bắc và Trung Kỳ, cơ quan ngoại giao và tình báo Pháp hoạt động khắp nơi, từ Bắc Kinh, Hong Kong, Quảng Ðông, tới Manila, Singapore, Bangkok hay Batavia (Djakarta). Và, dĩ nhiên Oat-shinh-tân. Nhưng tư liệu ngoại giao Pháp không hề nhắc đến quan hệ nào giữa Huế và Oat-shinh-tân.

b. Tư liệu Bộ Hải quân và thuộc địa Pháp cũng không có ánh sáng nào về Bùi Viện. Các sử gia Việt và thế giới làm việc tại các văn khố ở Pháp hay Việt Nam chưa hề công bố một thông tin nào. Những microfilms báo cáo, thư từ của quan Tướng Pháp, hay tư liệu cá nhân của Genouilly, Page, Jauréguiberry, Rieunier tại văn khố Hải quân ở Vincennes, cho tới văn khố Bộ thuộc địa, Nam Kỳ (Goucoch), Annam hay Bắc Kỳ (RST) ở Paris, Aix en-Provence và Sài Gòn mà chúng tôi được tiếp cận từ 1982 tới 2005 cũng im lặng.

c. Ðáng nhấn mạnh là ngay đến tư liệu Hội truyền giáo Pháp cũng không có dấu vết chuyến đi Mỹ của Bùi Viện.

Một số người thường quan niệm lầm lẫn rằng văn khố Hội truyền giáo Pháp chỉ gồm những thư từ có tính cách nội bộ của các giáo sĩ. Thực ra, những thư từ này chứa đựng nhiều thông tin phong phú, dù chưa hẳn luôn chính xác, về sinh hoạt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội Ðại Nam. Ngoài ra, còn những báo cáo đặc biệt của các giáo sĩ gửi viên chức thuộc địa Pháp về nội tình Ðại Việt, bản đồ các công sự phòng thủ, và ngay cả những đề nghị nên dùng hay bỏ một quan chức nào đó. Những Giám Mục Pierre Retord, Jean-Marie Pellerin, Paul Francois Puginier, J. D. Gauthier hay Dominique Lefèbvre cung cấp nhiều tư liệu giúp soi sáng dữ kiện mờ tối mà các sử quan Nguyễn–do quốc thể và chính thống “định hướng Nho Giáo”–đã chỉ lướt qua, tảng lờ hay trình bày theo khuôn khổ ý thức hệ quân chủ chuyên chế.

Trong giai đoạn từ 1864 tới 1878, chẳng hạn, Puginier (Phú hay Phù Mi) ở Kẻ Sở (giáo phận Tây Ðàng Ngoài) và thủ hạ thân tín tích cực theo dõi, bám sát quan chức cũng như giới văn thân. Không những chỉ cho Jean Dupuis vay 8000 đồng trong dịp đặc phái viên của Thống đốc Jules Dupré gây rối loạn ở Hà Nội, Puginier còn đề xướng chính sách thiết lập một vương quốc Ki-tô Bắc Kỳ tự trị. Pugnier góp công lớn trong việc Francis Garnier chiếm đóng châu thổ sông Hồng năm 1873, bằng cách giúp tuyển mộ khoảng 12,000-14,000 linh bản xứ, đa số là giáo dân Ki-tô dưới quyền nhóm Trần Lục, Hồ Văn Vạn, Lê Văn Bá, Phạm Quang Diệu, Nguyễn Quí Cát, Lê Văn Tốn, Nguyễn Tích, v.. v... Trần Lục–tức Trần Xuân Triêm, và được nhắc nhở, ca ngợi trong tư liệu Pháp như Père Six–hướng dẫn tàu Pháp tới Ninh Bình, cung cấp 150 tay súng bảo vệ lực lượng Pháp. Lê Văn Bá thân cận với Jules Harmand ở Nam Ðịnh. Phạm Quang Diệu với 800 giáo dân thủ ha được cử làm tham biện tỉnh vụ. Huyện Thy (Lê Bá Ðỉnh) tự xưng con cháu nhà Lê xin Pháp lập Bắc kỳ tự trị, v.. v.... Từ Nghệ An, Gauthier–cha đỡ đầu của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Hoằng, v.. v...– cũng muốn hợp tác buôn bán với Dupuis sau chuyến công cán Paris trở về. (99)

Tại các địa phương, giáo sĩ và không ít giáo dân biến thành tai mắt của Pháp. Một giáo sĩ đương thời nhận xét rằng giáo dân Việt đang sống như “những người ngoại quốc” trên quê cha đất tổ của họ. Năm 1866, khi một số đình thần đề nghị nên chuẩn bị hồ sơ khai man đất đai ở gần ba cửa biển Quảng Yên, Ba Lạt và Ðà Nẵng là đất tư để cầu lợi trong trường hợp phải mở hải cảng trong tương lai, Nguyễn Tri Phương đã phải thốt lên rằng “dân đi giáo làm tai mắt cho người Tây dương, [làm vậy] có khác gì người bít tai mình mà đập phá trộm chuông không?” (100)

Sau ngày ký Hiệp ước 15/3/1874, màng lưới tình báo đại chúng của các giáo sĩ càng mở rộng hơn. Tại miền Bắc, dù bất mãn việc “phản bội” của Philastre, Puginier liên hệ chặt chẽ với Lãnh sự Hà Nội (Alexandre le Jumeau, tức Bá tước de Kergaradec) và Hải Phòng (Louis Turc). Tại Huế, Rheinart sử dụng GM Sohier (Bình), rồi Louis Caspar (Lộc) của Giáo phận Huế, Croc (Hòa) ở Nghệ An (Xã Ðoài). Linh mục Renauld, Barthémy, Dangelzer (Ðăng), v.. v... không những chỉ cung cấp tin tình báo, họ còn giúp móc nối một số Hoàng thân, công tử. Miên Trinh hay Hường Hưu là vài đối tượng tiêu biểu. Nhưng con mồi lớn nhất của Rheinart là Ưng Chơn (1852-1884)–tức Dục Ðức, con nuôi lớn của Tự Ðức. Mọi quyết định tối mật của triều đình đều lọt vào tay Rheinart trước khi thực thi. Năm 1882, Rheinart còn sai Ưng Chơn sao chép cả thư Tự Ðức gửi vua quan Thanh cùng hồi đáp của họ. (101)

Ngoài ra, còn những thông ngôn ở ty Hành nhân, và nhất là thông ngôn, ký lục người Việt và người Hoa ngay tại tòa Khâm sứ, hay các tòa lãnh sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Qui Nhơn. Giai tầng thông ngôn-ký lục đóng một vai trò quan trọng thời Pháp thuộc, nhất là trong ba, bốn thập niên đầu. Những Lê Duy Hinh, Diệp Văn Cương, rồi sau này Ngô Ðình Khả, Nguyễn Hữu Bồi (Bài) trở thành những môi giới quyền lực triều đình, cố vấn cho Viện Cơ Mật về các ứng cử viên “ngôi Trời” tại Cấm Thành.

Ðó là chưa kể Théophile le Grand de la Liraye (cố Trường hay Dương) cùng Petrus Key, Paulus San, Tôn Thọ Tường, v.. v... của cơ quan thông dịch và sản phẩm khác của trường Thông Ngôn thuộc Soái phủ Sài Gòn. Lập trường đưa cả hai tay nắm lấy người Pháp của Petrus Key năm 1876 có vẻ ảnh hưởng trên những điều trần của Nguyễn Tăng Doãn hay Nguyễn Thành Ý.

Tóm lại, nếu Bùi Viện quả thực đã qua Mỹ, hay đại diện Mỹ đã tới Huế, dữ kiện này khó lọt qua màng lưới tình báo dày đặc của viên chức Pháp và Hội truyền giáo. Hơn nữa, từ năm 1877, Bùi Viện được cử nắm Nha tuần tải miền Bắc, một chức vụ không nhỏ, dễ lôi kéo sự chú ý của người Pháp.

 4. Sự phân tích các thông tin hiện hữu về Bùi Viện cũng khiến giảm thiểu mức khả tín về chuyến đi Mỹ của ông.

a. Hàm tước của Bùi Viện: Sử nhà Nguyễn ghi rõ Bùi Viện đang mang hàm “Biên tu [7-1, chánh thất phẩm] lãnh trước tác [6-1, chánh lục phẩm]” khi được bổ làm Chánh quản đốc Nha tuần tải. Biên tu là một chức quan nhỏ, dành cho những người mới tốt nghiệp đồng Tiến sĩ. Bùi Viện chỉ đậu Cử Nhân trường Nam Ðịnh, ân khoa năm 1868, nên hoạn lộ khởi đầu với hàm chánh bát phẩm (8:1), rồi ít năm sau mới lên tới biên tu. Bùi Viện lại bị trách phạt nhiều lần, không được thăng thưởng, cách nào lên tới “tham tri” [2:2, tòng nhị phẩm] (tương đương chức Thứ trưởng hiện nay) để phụ trách việc thương chính [khác với tuần tải] miền Bắc? (102)

b. Liên hệ với Nguyễn Tăng Doãn: Khó thể có việc Bùi Viện cùng Nguyễn Tăng Doãn lo việc thương chính Bắc Kỳ trước ngày nắm Nha tuần tải.

Nguyễn Tăng Doãn người Hải Lăng, Quảng Trị. Năm 1847, đỗ hương tiến (khi Bùi Viện mới 10 tuổi). Năm 1865, cùng Ðặng Huy Trứ sang Quảng Ðông dò xét tình hình. Năm 1870 lại cùng Lê Huy đi Hương Cảng, Áo Môn. Về nước, làm Án sát Nghệ An để giải quyết hiềm khích Lương-Giáo. Năm 1873, tham gia sứ đoàn Lê Tuấn. Sau đó, lên Tả thị lang bộ Lại [3:1, chánh tam phẩm]. Năm 1875, vì thương chính mới mở, ra Hải Dương và Hà Nội điều tra tình hình. Hiệp lực với Pháp, đánh giặc có công. Ðược chức Tuần phủ Hải Dương, kiêm lĩnh thương chính, dưới quyền Tổng đốc Phạm Phú Thứ. Năm 1877, đi sứ Pháp. Về nước, làm thượng thư bộ Lại, sung Cơ Mật Viện Ðại thần. (103)

c. Phạm Phú Thứ (1820-1881): Người huyện Diên Phước, Quảng Nam. Ðậu Tiến sĩ năm 1843. Năm 1863, tham gia sứ đoàn Phan Thanh Giản tới Sài Gòn, Pháp và Espania. Về nước, năm 1865 làm thượng thư bộ Hộ. Năm 1874, nắm Tổng đốc Hải Yên, tổng lý thương chính đại thần. Trước khi nhiệm chức, xin mang theo Ông Ích Khiêm (nhưng năm 1875, Khiêm bị cách chức vì bệnh tâm hỏa).

Năm 1876, bình định được Cát Bà, Quảng Yên, sào huyệt hải tặc. Sử dụng thương biện Lương Văn Tiến (em họ ngoại) lo việc thương chính. (Trong chuyến thăm miền Bắc năm 1876, Petrus Key từng gặp Thứ). Do Pháp khiếu nại, năm 1878 bị cách chức. Lê Ðiền lên thay, nhưng xin giữ Thứ lại ít lâu. Tháng 10/1879, lại bị phạt cách chức. Năm 1880, về kinh. Năm sau, chết ở tuổi 62.

ÐNTLCB ghi khá kỹ về khó khăn cuối đời Phạm Phú Thứ:

Tháng 4 Kỷ Mão [5-6/1879], Phạm Phú Thứ xin về kinh. Vua đồng ý, cho Lê Ðiều [Ðiền] thay. Gần đây, Thứ mật tâu việc người buôn nước Tây, nước Thanh, ngầm mưu bọn Hán [Việt] gian gây việc.

Theo lời thông ngôn Nguyễn Hữu Cư, người buôn Pháp là Mô-răng-đi-ni [Motandini] báo rằng người buôn Tây và Thanh lên án Ðại Nam cấm buôn nghiêm mật, không được thung dung tự liệu, đem lòng oán giận. Có người nước này tự xưng là con cháu nhà Lê, nay hiện đang chiêu dụ người Bắc Kỳ tôn hắn làm minh chủ, ngầm hẹn với các nhà buôn, nếu giúp được nên việc, đều cho thung dung buôn bán. Các người buôn có nhiều hưởng ứng, đã góp được hơn 10,000 đồng bạc, hẹn ngầm về Hương Cảng mua súng, hẹn trong 3 tháng thì khởi sự. Từng dụ hắn [Motandini] vào bọn. Các lời như thế, tỉnh ấy hỏi ở các dân gian cũng có truyền ngôn ấy, lại bàn với các lãnh sự Tây, xét ý hắn, cũng lấy việc cấm gạo, rất mang lòng bất bình. Xin châm chước việc bỏ cấm gạo vài ba tháng để yên lòng người phương xa mà hết thù hằn bên ngoài.

Vua cho rằng lời nói không có căn cứ, nhưng cho Thứ làm việc chuộc tội.

Tiếp đó, khâm phái Dương Quán báo cáo việc Hải Dương có nhiều người Thanh chở trộm gạo, cháu của Thứ là Lương Văn Tiến cũng chở gạo ra ngoại quốc. Vua cho Lê Ðiều đổi sung chức khâm phái. Sau đó, Thứ tâu việc Lãnh sự Hà Nội muốn chiếm thành; người buôn Tây yêu cầu soái phủ Sài Gòn sửa đổi thương ước. Tự Ðức cho là Thứ trước hoang báo, sau lại dọa triều đình. Nếu có thật, đáng lẽ phải tự dàn xếp ổn thỏa, không được nói quá thẳng vì như vậy phạm tội khích biến. (104)

 Châu Bản Tự Ðức và tài liệu Pháp cung cấp thêm chi tiết về bi hài kịch này. Báo cáo ngày 10/6/1879 của Tổng đốc Hải Yên Phạm Phú Thứ ghi khách buôn phương Tây tên Mô Lăng Ði Nê đến mật báo gần đây bọn “Hán [Việt] gian” ở Bắc định cùng với người buôn nước Tây và nước Thanh mưu đồ gây rối. Chúng đã tập hợp tiền bạc ngầm cho người về Hương Cảng mua súng pháo và dụ dỗ ông ta nhập bọn. “Chúng thần thấy chưa tin lắm. Nay xin ban sắc cho các tỉnh Bắc kỳ phòng bị nhưng bí mật kiểm tra xem nếu có tên nào là Hán [Việt] gian giặc phỉ còn rơi rớt ẩn dật, ngấm ngầm dụ dỗ tiểu dân, nếu có dấu vết khả nghi thì bắt tra xét.” Ngày 14/7/1879, Khâm sai Lê [Ðiều] và Trần Văn Úc tâu về cuộc điều tra tin Lê Bá Ðỉnh (Huyện Thy) âm mưu với Tây phương đi Hong Kong mua vũ khí về gây biến ở Bắc Kỳ, và lãnh sự Pháp mưu chiếm Hà Nội, v.. v... Ngày 26/11/1879, Tổng đốc Thanh Hóa Tôn Thất Phan cũng tâu là Khâm phái Gia Ðịnh mật báo Huyện Thy mang 4 tàu vũ khí, thông đồng với Thanh phỉ, mưu khuấy rối thượng du Bắc Kỳ. (105)

Theo tư liệu Pháp, Huyện Thy, tức Lê Bá Ðỉnh, hay Paulus Thy, gốc Thủ Dầu Một nhưng tự nhận gốc miền Bắc, làm thông ngôn cho Pháp tại Hải Phòng sứ (Hải Dương). Năm 1878, xin nghỉ làm thương mại. Qua sự móc nối với Pène (Peine Siéfart?), Constantin, một lái buôn ở Hong Kong, cùng viên chức thuộc địa Pháp đã nghỉ hưu, Ðỉnh âm mưu nổi dạy. Nhóm Constantin hứa cung cấp một tàu chạy hơi nước, 2 chaloupes vũ khí, 100 người Pháp và 600 Tagals. Ðỉnh có nhiệm vụ quyên góp tiền, mộ người Việt, và ra tuyên cáo tự xưng là Lê Gia Hưng, giòng giõi nhà Lê, sẽ khởi nghĩa ngày 6/11/1879 với niên hiệu Ứng Thuận. Ðược Morandini mật báo, Tổng đốc Thứ ngăn chặn được Ðỉnh. Triều đình Huế, vì lý do riêng, cách chức Thứ. Paulus Thy chỉ bị gửi trả lại Nam Kỳ.(106)

 Tóm lại, việc Bùi Viện “qua Mỹ, được Tổng thống Grant tiếp kiến” chẳng được minh chứng bằng tư liệu văn khố Mỹ hay Việt. Tư liệu Pháp và các nhà truyền giáo im lặng. Nội dung các thông tin không gần sự thực, hoặc sai lầm. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, nó chẳng là gì khác hơn huyền thoại, có lẽ chỉ hiện hữu trong trí tưởng của người đã công bố.

Cũng tương tự như nhân vật Trương Chánh Thi, “lãnh binh, thừa biện bên cạnh quốc vương Chân Lạp” hay “sứ thần” ở gần Nam Vang. Hay, việc Nguyễn Sinh Côn bị trục xuất khỏi trường Quốc Học vì tham gia cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế năm 1908 ba tháng trước ngày được nhận vào học hiệu này; Nguyễn “Ô Pháp” tức Ái Quốc bị “nhốt chung” với Phan Châu Trinh “ở ngục Santé.” Ðó là chưa kể những “bí ẩn lịch sử” kiểu phụ thân Phan Bội Châu đã đổi tên ông vì “sợ phạm húy vua Duy Tân” trước ngày Vĩnh San ra đời cả chục năm! (107)

 

 III. NGUYỄN SINH CÔN LÀ NGƯỜI ÐẦU TIÊN ÐẾN MỸ?

 Cho tới đầu thế kỷ XXI, vẫn chưa có đáp án ai là người Việt đầu tiên đến Mỹ, vào thời điểm hay do hoàn cảnh nào.

A. ÐƯỜNG GIÂY TRUYỀN GIÁO:

Như chúng ta đã biết, từ năm 1911, các nhà truyền giáo Tin Lành Mỹ đã hoạt động ở vùng Vân Nam và một số thành phố Ðông Dương, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng, Sài Gòn và các tỉnh miền Nam.

Ðoàn truyền giáo Mỹ đầu tiên ở Việt Nam thuộc tổ chức Liên Minh Tín đồ và Truyền Giáo [Christian and Missionary Alliance, hay CMA]. Năm 1911, CMA xây một nhà thờ, một trường học, và một nhà in nhỏ ở Tourane. Năm năm sau, CMA lập thêm cơ sở ở Hà Nội và từ 1918 bành trướng vào Nam Kỳ, nơi hội phát triển khá nhanh. Chính tại miền Nam, hội Tin Lành cải đạo được nhiều người nhất. Vào năm 1935, trong số 23 mục sư bản xứ, 13 người gốc Nam, 9 gốc Trung và chỉ có 1 gốc Bắc. Trong số 96 người giúp việc, 38 người làm việc ở miền Nam, 31 ở miền Trung, và 25 tại Bắc Kỳ.

Ðoàn truyền giáo Tin lành của Pháp [Mission Evangelique d'Indochine hay M.E.I.], trụ sở tại Tourane, cũng rất khiêm tốn. Từ 1913 tới 1933, hội này thành lập được 156 giáo đường tại Ðông Dương và Ðông Thái Lan với 33 mục sư Việt, 185 phụ giảng [evangelists] và 9,359 tín đồ. Một trong những lý do của sự chậm phát triển là lòng đố kị của Hội truyền giáo Ki-tô Vatican. Chẳng hạn như năm 1822, khi Paul Monet muốn thành lập một ký túc xá sinh viên Hà Nội, với sự giúp đỡ của Hội Thanh Niên Ki-tô [Young Men's Christian Association, hay YMCA], báo L’Avenir du Tonkin [Tương Lai Bắc Kỳ] công kích mãnh liệt. (Xem thêm La Tribune indochinoise (Saigon), 10/11/1941).

Trong khi đó, hai hội truyền giáo Tin Lành chỉ được tự do giảng đạo tại các “lãnh thổ Pháp,” bao gồm Nam Kỳ cùng các nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane. Cơ quan an ninh Pháp cũng theo dõi chặt chẽ các mục sư Mỹ, nhất là trong giai đoạn 1925-1927, tức giai đoạn hình thành tinh thần quốc gia mới. Mục sư Ferry ở Mỹ Tho và đồng nghiệp từng bị nghi ngờ ủng hộ Hoàng thân Cường Ðể.( 108)

Trong khi truyền giáo, các mục sư huấn luyện nhiều thanh niên, thiếu nữ Việt; và có khả năng đưa một số cá nhân qua Mỹ. Tuy nhiên, chúng tôi chưa có dịp làm việc tại văn khố các hội truyền giáo Tin Lành Mỹ, nên khó thể đoan chắc số lượng hoặc tên tuổi những tín đồ Tin Lành đã qua Mỹ huấn luyện.

 B. THỦY THỦ VÀ DÂN ÐI TÀU:

Có bằng chứng cho thấy một trong những người Việt đầu tiên tiếp cận với nước Mỹ trong dịp Thế chiến thứ nhất (1914-1918)–không do một sứ mệnh chính thức nào, mà chỉ do nghề hàng hải. Cá nhân này chẳng là ai khác hơn Nguyễn Sinh Côn (1892-1969)–tức Nguyễn Ái Quốc (1894-1932, 1941-1945), hay Hồ Chí Minh (1890-1969).

Thế chiến thứ nhất là cơ hội mở rộng hàng rào cản di dân của Mỹ cho người ngoại quốc–đặc biệt là nhân công trên các tàu buôn Âu châu. Do tình cờ lịch sử, Nguyễn Sinh Côn có mặt trong hàng ngũ ngày một gia tăng của giới “đi tàu.” Theo lời tự thuật của Hồ, ngày còn làm việc trên các tàu Pháp và Bri-tên–dưới bí danh “Paul Thành”–Hồ đã tới New York, Boston, Philadelphia, v.. v...

Thời gian Hồ tới Mỹ nằm trong thời khoảng 1913-1919. (109) Ðiều này được xác nhận bằng một nhân chứng người Mỹ gốc Triều Tiên, Kim Tchong-wen [Kim Trung Văn], đại diện chính phủ lưu vong Triều Tiên tại Paris năm 1919.

Tài liệu chúng tôi sử dụng–ngoài một số thông tin do các học giả thế giới đã công bố–gồm các tài liệu văn khố Pháp chúng tôi tham khảo trong giai đoạn 1982-1988, được bổ túc thêm trong các chuyến du khảo ngắn hạn từ 1996 tới 2000.

 C. HAI BÀI VIẾT VỀ NGUYỄN ÁI QUỐC TRÊN YSHI PAO Ở THIÊN TÂN TRUNG HOA:

Tháng 6/1919, giữa men say chiến thắng “Ðức tặc,” các giới chức Thuộc Ðịa Pháp xôn xao vì một biến cố đáng lo ngại: Ngày 18/6/1919, báo L'Humanité (Nhân Ðạo) của Ðảng Xã Hội Pháp đăng tải một thỉnh nguyện thư gửi Hội Quốc Liên của “Một nhóm người An Nam yêu nước.” Thỉnh nguyện thư này gồm 8 điểm, như xin ân xá tù nhân chính trị; cải cách pháp luật để người An Nam được bảo đảm pháp định tương tự như người Âu Châu; tự do báo chí và tư tưởng; tự do lập hội và hội họp; tự do di trú và du lịch ra ngoại quốc; v.. v... Bản thỉnh nguyện thư đăng trên L'Humanité này có 2 đặc điểm: (a) không ký tên Nguyễn Ái Quấc, và (b) giới thiệu các tác giả như đảng viên Xã Hội Pháp [theo Ðệ Nhị Quốc Tế]. (110)

Cũng ngày 18/6/1919, thỉnh nguyện thư trên được gởi đến các phái đoàn đồng minh đang họp ở Versailles để giải quyết số phận Germany, Hungary và Austria (Áo). Ðại diện Mỹ chỉ thông báo đã nhận được, và sẽ trình lên Tổng thống Woodrow Wilson (1913-1921).( 111)

Vào đầu tháng 7/1919, xuất hiện ở khu vực Mutualités và phố Ecoles (Quận V, Paris) một số truyền đơn có nội dung tương tự. Ðiểm khác biệt là trong bản truyền đơn này “Nhóm người An Nam yêu nước” được đại diện bằng “Nguyễn Ái Quấc.” Nguyễn Ái Quấc cùng các đồng chí, ở phần dẫn nhập ngắn, khẳng định “dân An Nam lấy làm vinh dự” được người Pháp bảo hộ.(112)

Hơn hai tháng sau–trong khi Mật thám Pháp bám sát Nguyễn Ái Quốc và truy tầm hộ tịch nhân vật đang lên này–báo Yshi của Hội truyền giáo Tin Lành Mỹ tại Thiên Tân Trung Hoa đăng hai bài về Quốc ngày 18 và 20 tháng 9/1919.

Dù không được tham khảo nguyên bản hai số báo trên, chúng tôi làm phóng ảnh bản báo cáo bằng Pháp ngữ của cơ quan tình báo Pháp tại Trung Hoa, với tựa “Tiếp tục chiến dịch thiện cảm với dân An Nam trên báo Yshi.”( 113) Loạt bài này đều đặt chung dưới tựa “Thông tin đặc biệt từ Paris: Vấn đề tự trị An Nam từ ngày đại diện An Nam tới Paris.” Tất cả chia làm 3 phần: Ðại cương về phong trào độc lập; bản thỉnh nguyện thư 18/6/1919, và phỏng vấn Nguyễn Ái Quốc.

 Ðại cương về phong trào độc lập

Ðặc phái viên Mỹ của Yshi pao tường thuật rằng từ ngày khai mạc hội nghị hòa bình Versailles, một đại diện An-Nam là Nguyễn Ái Quốc đã từ Mỹ tới Paris tiếp xúc các phái đoàn Ðồng Minh, nhưng không mấy thành công. Nguyễn Ái Quốc gặp được một số chính khách và Dân biểu Pháp, thuyết phục họ rằng nền độc lập của An Nam rất quan trọng cho nền hòa bình của các quốc gia Viễn Ðông.

Chính quyền Ðông Dương của Pháp chẳng bao giờ thực thi những nguyên tắc tự do và nhân đạo thiết thân của dân tộc này. Về chính trị, viên chức Pháp áp dụng thể chế độc tài (despotisme), qua chính sách giáo dục công lập ngu dân (obscurantisme); về kinh tế-tài chính, chính quyền thuộc địa Pháp chỉ bòn rút tài nguyên Ðông Dương để làm giàu cho mình; chính quyền ấy đã đặt ra những hạn chế tự do tư tưởng và ngôn luận, khiến cảm hứng được độc lập của người An Nam bị loại bỏ. Trong khi đó người An Nam không ngừng đổ máu cho lý tưởng này và, trong mùa Xuân vừa qua, những cuộc giao chiến đáng lo âu xảy ra ở biên giới phía bắc Bắc Kỳ. (114)

Ngay tại Pháp, không kể đến các binh sĩ và công nhân, số sinh viên An Nam lên tới hàng trăm. Một phú gia Việt họ Phan [Văn Trường] từ ngày chiến tranh bùng nổ đã tiếp xúc với giới sinh viên. “Trong buổi đàm thoại kéo dài với [Phan],” tác giả bài báo viết, “tôi cảm thấy tuổi tác chưa đủ làm phai nhạt nhiệt tình của ông.”

Theo ý kiến chung của những nhà cách mạng An Nam, sứ mệnh [giành độc lập] của họ khó khăn gấp bội người Triều Tiên.

Thứ nhất, sự chiếm đóng của Pháp đã kéo dài khá lâu, nên đã bắt rễ sâu tại Ðông Dương, và hiện nay chẳng ai có thể gây nguy hại cho chế độ bảo hộ Pháp; bởi vậy những vận động của các nhà cách mạng trong thời bình hay sự nổi dạy của họ trong thời gian thế chiến chẳng nhận được sự giúp đỡ đáng kể nào [n’ont-ils trouvé aucun appui sérieux].

Thứ hai, sau 40-50 năm nhồi sọ [abrutis] với lối giáo dục Pháp, người Việt chỉ còn biết qui phục toàn vẹn và mất tất cả khả năng [ont perdu tout dissernement] đến độ người ta có cảm tưởng rằng, mặc dù có những hăng say của một thiểu số, việc đòi lại độc lập rất mong manh [précaire].

Thứ ba, do sự cấm đoán của các viên chức thực dân Pháp, người An Nam mất cả sức phản kháng [ressort].

Thứ tư chính sách kinh tế của Pháp khiến cuộc sống ở Ðông Dương vô cùng khó khăn; dân chúng làm việc cực nhọc mà không đủ ăn; bởi thế họ không còn thì giờ rảnh rỗi để mơ tưởng đến việc đòi lại độc lập.

Vì những lý do trên, việc đòi độc lập của người An Nam khó khăn hơn những dân tộc khác. Những tín đồ cho lý tưởng độc lập mong muốn, như bước đầu tiên hướng về sự giải phóng [l’affanchissement], được hưởng tất cả những quyền liên hệ đến tự do giáo dục và ngôn luận, để có thể khai sáng dân tộc và tiếp đó làm việc để thực hiện tự chủ, rồi độc lập. Họ hiểu rõ rằng tình hình Ðông Dương khác với Triều Tiên nên các phương tiện tranh đấu cũng phải khác biệt đôi chút. . . .

Sau khi tới Paris, Nguyễn Ái Quốc, người đã nhận sứ mệnh từ tổ chức An Nam Quốc Dân Hội, trao cho nhiều chính khách quan trọng bản thỉnh nguyện sau đây và liên hệ chặt chẽ với cánh tả của Quốc Hội (Pháp).

  Thỉnh Nguyện Thư Của Dân An Nam

(sau một phần dẫn nhập ngắn . . . .)

1. Xin ân xá tù nhân chính trị;

2. Xin cải cách pháp luật để người An Nam được bảo đảm pháp định tương tự như người Âu Châu;

3. Tự do báo chí và tư tưởng;

4. Tự do lập hội và hội họp

5. Tự do di trú và du lịch ra ngoại quốc;

6. Tự do giáo dục; và đòi hỏi thành lập trường dạy nghề ở các tỉnh;

7. Thay đổi chế độ cai trị với sắc luật bằng chế độ pháp trị; và,

8. Ðược bầu một phái đoàn thường trực bên cạnh Quốc Hội Pháp

Trong những thỉnh nguyện trên, dân An Nam tự nguyện đứng vào hàng ngũ các nguyên tắc nhân đạo và [nhân] quyền do Liên quốc qui định, và các chủ nghĩa khác dựa trên sự tôn trọng cá nhân và bảo đảm hạnh phúc của dân chúng.

Khi người Pháp thiết lập chế độ bảo hộ tại An Nam, dân An Nam bị chinh phục bởi các tư tưởng Pháp, không coi đó là sự xấu hổ, mà là một danh dự vì họ nghĩ rằng người Pháp, được nuôi dưỡng bởi lòng yêu tự do và sự kính trọng luật pháp, có thể thực thi các nguyên tắc nhân đạo và tạo hạnh phúc cho dân chúng. Hy vọng này không được thể hiện. Chúng tôi hy vọng rằng nước Pháp sẽ lắng nghe những lời than phiền của những người bị áp bức và chứng tỏ rằng họ trung thành với những nguyên tắc mà chúng tôi tin cậy.

  Phỏng Vấn Nguyễn Ái Quốc

Ðặc phái viên Mỹ của Yshi Pao tường thuật rằng do lời đề nghị của Kim Tchong Wen và Kim Koei Tche, đại biểu chính phủ lâm thời Triều Tiên với hậu cứ ở Philadelphia (Liên bang Mỹ), ông ta được gặp Nguyễn Ái Quốc.

Nhân vật này là một người trạc ba mươi tuổi với dáng khắc khổ [d’allure hardie] và trẻ trung, nói được ba thứ tiếng Anh, Pháp và Tàu, biết được một số chữ [Nho] đủ để bút đàm. Nhờ cuộc tiếp xúc với Kim trong dịp ở Mỹ, Nguyễn Ái Quốc đã bàn luận với Kim về vấn đề độc lập và thuyết phục được Kim rằng tình thế hai nước khác nhau nên chương trình hành động cũng phải khác nhau.

Sau khi tới Paris, Nguyễn Ái Quốc tìm đến gặp ông Phan đã ở thành phố này hơn 10 năm, nói tiếng Pháp thành thạo.

Tác giả bài viết này cùng Kim đến thăm Nguyễn Ái Quốc, nhưng không gặp, nên mời Nguyễn Ái Quốc và Phan [Văn Trường] đến nhà nói chuyện. Sau đây là tóm lược cuộc đối thoại:

Tác giả: Trường hợp nào đưa ông tới Pháp?

Ðáp: Ðể đòi lại những quyền tự do mà chúng tôi phải đuợc hưởng.

Tác giả: Chương trình hành động của ông ra sao?

Ðáp: Luôn luôn tiến về phía trước tùy theo sức lực.

Ðược hỏi về những vận động của đảng tại Ðông Dương và sự nổi dạy khi cuộc Thế chiến bùng nổ, Nguyễn Ái Quốc đáp:

“Mục đích chính của chính quyền Pháp hoàn toàn khác với chính quyền Nhật tại Triều Tiên. Người Nhật muốn Nhật hóa tất cả dân Triều Tiên. Người Pháp ngược lại muốn tạo sự bất bình đẳng giữa người Pháp và An Nam, lợi dụng sức lao động của người An Nam để tiếp tục bòn rút các tài nguyên Ðông Dương cho tới thời gian vô hạn định, và nỗ lực ngăn cản người An Nam xây dựng một nền kinh tế độc lập. Chế độ thuế khóa đủ loại cùng những biện pháp hạn chế, cũng như chế độ giáo dục công cộng, đều gợi hứng từ các điều kiện trên. Khi ngăn cản sự văn minh hóa và tiến bộ của dân An Nam, người Pháp muốn bảo đảm rằng sẽ giữ dân An Nam mãi mãi ngoài lề văn minh thế giới và trói buộc dân An Nam mãi mãi dưới sự can thiệp không ngừng đổi mới. Trong những năm vừa qua, tình trạng sinh sống tại Ðông Dương trở nên tồi tệ hơn bao giờ hết.”

Ðược hỏi về những việc làm từ ngày tới Pháp, Nguyễn Ái Quốc đáp:

“Ngoài những cuộc tiếp xúc vận động với các dân biểu Quốc Hội, tôi tìm cách qui tụ các cảm tình viên, ngoài ra, đảng Xã Hội [Pháp] vì không hài lòng với việc làm của chính phủ đã tình nguyện giúp chúng tôi. Pháp là nơi y cứ hy vọng duy nhất của chúng tôi. Về hoạt động tại các nước khác, chính quê hương quí vị

[nước Mỹ] là nơi chúng tôi thành công nhất. Ở những nơi khác, chúng tôi toàn gặp khó khăn.”

Tiếp đó Nguyễn Ái Quốc trình bày một cách đầy cảm xúc tình cảnh kinh tế giáo dục và đời sống cùng khổ của dân An Nam tại Ðông Dương. Ông Phan cũng thuật lại một câu chuyện chi tiết về những chuyến phiêu lưu của ông.(115) Tất cả diễn ra với sự hiện diện của ông Kim Tchong Wen và toàn thể nhân viên của văn phòng cơ quan chúng tôi. (116)

  IV. KẾT TỪ:

Trong những thập niên tới–khi các văn khố hoàn toàn mở rộng–chúng ta mới có thể biết rõ ai là người Việt đầu tiên đã đến Mỹ và tiếp cận với nền chính trị Mỹ. Cách nào đi nữa, Bùi Viện khó thể là nhân vật này. Tư liệu văn khố nhà Nguyễn và Liên bang Mỹ hoàn toàn im lặng về “hai chuyến” qua Mỹ của ông. Văn khố Pháp và Hội truyền giáo cũng chưa có phát hiện nào về Bùi Viện. Sự so sánh các nguồn tư liệu cũng như chính sách ngoại giao của Tự Ðức từ 1870 tới 1878 còn loại bỏ mọi khả năng Bùi Viện đã tới Mỹ. Cho tới khi có tài liệu chứng minh ngược lại, việc Bùi Viện qua Mỹ, gặp Tổng thống Grant, chỉ là một huyền thoại–được hoang tưởng do một mục tiêu nào đó.

Nguyễn Sinh Côn–dưới bí danh Paul Thành, rồi Nguyễn Ái Quốc–có thể là người Việt đầu tiên đến Mỹ, và chắc chắn là người đầu tiên nghiên cứu hệ thống chính trị Mỹ. Sự tham chiến của Mỹ tại Âu châu, chủ thuyết “tự trị” của Tổng thống Wilson và chuyến thăm cựu lục địa của Wilson ít nhiều ảnh hưởng trên Nguyễn Ái Quốc và Phan Văn Trường.

Phần tư thế kỷ sau, Nguyễn Ái Quốc–với bí danh Hồ Chí Minh–thực sự móc nối được với cơ quan tình báo chiến lược (OSS) Mỹ, được tặng bí danh “Lucius,” rồi bước vào Hà Nội giữa cao trào cách mạng 1945.(117) Mặc dù Liên bang Mỹ đã chọn thái độ “hands-off” [không can thiệp] khi liên quân Pháp-Bri-tên khởi đầu cuộc tái xâm lăng Việt Nam năm 1945, nhưng phía sau hậu trường chính trị quốc tế, “những người bạn rừng xanh” của Hồ Chí Minh đã ít nhiều giúp Hồ sống còn qua chế độ quân quản của Trùng Khánh tại miền Bắc năm 1945-1946, cũng như thiết lập sự chính thống cho chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, qua cuộc bầu cử quốc hội 1946 và bản Hiến Pháp 9/11/1946, và nhất là hai tạm ước ký với Pháp ngày 6/3/1946 và 14/9/1946–đồng thời có thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến kháng Pháp suốt 8 năm kế tiếp. Ðáp lại, Hồ từng tuyên bố giải tán Ðảng Cộng Sản Ðông Dương, hiệu lực từ ngày 11/11/1945. (118)

Nhưng chính sách lấy Âu Châu làm ưu tiên hàng đầu, sự ưu thắng của chủ nghĩa Cộng Sản tại Ðông Âu và các cựu thuộc địa trong giai đoạn hậu chiến, rồi đến sự thất bại của chế độ Tưởng Giới Thạch tại Hoa lục và cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) khiến Liên Bang Mỹ bị cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng Sản do Winston Churchill đề xướng. Liên hệ Việt-Mỹ biến hóa dần từ thân hữu qua thù nghịch, vì Mỹ chủ trương yểm trợ các lực lượng chống Cộng mà người Pháp có thể qui tụ được, trong thí nghiệm Bảo Ðại (1949-1955). Sau gần ba năm “nước còn tát được vẫn cứ tát,” Hồ Chí Minh chẳng còn lựa chọn nào khác hơn là gia nhập khối Cộng Sản do Liên Xô Nga lãnh đạo, nhưng dưới sự kiểm soát trực tiếp của Mao Trạch Ðông và Lưu Thiếu Kỳ. Mãi tới năm 1995, Liên Bang Mỹ và Việt Nam mới cùng gác chuyện quá khứ, nối lại bang giao.

 Houston, 6/3/2007-6/10/2010

Vũ Ngự Chiêu

Phụ chú:

63. Thái Văn Kiểm, “Les premières relations entre le Vietnam et les Etats Unis d’Amérique;” Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises [BSEI] (Saigon), vol. 37, no. 3 (3è trimestre 1962); dẫn trong Miller, 1991:274-275n1. Ulysses Simpson Grant (1822-1885) là một cựu sinh viên sĩ quan West Point. Binh nghiệp không có gì xuất sắc. Mãi tới khi Nội chiến bùng nổ mới được mang cấp Tướng; nhưng nổi danh nhờ những chiến thắng tại miền Nam. Năm 1868, đắc cử Tổng thống, và cai trị hai nhiệm kỳ (1869-1877). Nhiệm kỳ thứ hai, từ 1873, gặp nhiều khó khăn vì những vụ tai tiếng tham nhũng. Nổi danh nhờ Hiệp ước London với Bri-tên do Ngoại trưởng Hamilton Fish điều đình năm 1871.

64. ÐNTLCB, IV, 34:65.

65. ÐNTLCB, 34:187-188. Nguyễn Trọng Hợp [Hiệp] đậu Cử nhân năm 1858. Làm việc trong phủ Tùng Thiện công Miên Thẩm, người chịu trách nhiệm Tôn Nhơn Phủ. Năm 1865 đậu Tiến sĩ; thăng Thị độc nội các; rồi Phủ doãn Thừa Thiên. Năm 1873, cùng Trần Ðình Túc ra Hà Nội dàn xếp việc Dupuis. Khi Philastre và Nguyễn Văn Tường ra Bắc, được giao tiếp thu Ninh Bình; rồi thăng Tuần phủ Nam Ðịnh, hộ lý Tổng đốc Ðịnh-An. Năm 1880, làm tả tham tri bộ Lại, kiêm quản lý Thương Bạc (Ðối Ngoại); CAOM (Aix), GGI:9619; Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện [ÐNCBLT], q. 30 (Huế: Thuận Hóa, 1993), tập IV, tr. 119-38.

66. Giáo sư Nguyễn Phạm Hùng, Ðại học Hà Nội, và học giả Nguyễn Thu Hoài, chuyên viên Hán Nôm, giúp chúng tôi làm phóng ảnh 12 trong số 25 tài liệu về Bùi Viện, và chuyển ngữ một số tài liệu cơ bản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia I (Hà Nội). Do trước đây chỉ được tham khảo bản mục lục toát yếu in roneo năm 1978 của nhóm học giả Vũ Thanh Hằng–tóm lược một số tư liệu Châu bản đời Tự Ðức khi còn lưu trữ tại TTLTTƯ 2 (TP/HCM)– rồi so sánh với ấn bản được hiệu đính của các tác giả trên do Trung Tâm Quốc Học ấn hành năm 2003–chúng tôi sẽ ghi danh số mới tại TTLTQG I (Hà Nội), kèm theo mã số của TTLTTƯ 2 (TP/HCM).

67. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 18/10 nhuận TÐ XXIII, CB 231, TL 58, tờ số 167-171. [TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, nhị thập tam niên, thập nguyệt-thập nhất nguyệt, 18/10 nhuận TÐ XXIII, CB 362:163-164; 2003:176]. Tư liệu này có những đoạn không rõ.

68. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 03/11 TÐ XXXI, CB 311, TL 6, tờ số 14-21.

69. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 9/9 TÐ XXX, CB 286, TL 72, tờ số 210-212.

70. TTLTQG I (Hà Nội), CBTÐ, 14/10 TÐ XXX, CB 290, tờ 27-28, 37-44 [TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, tam thập niên, thập nguyệt-thập nhất nguyệt, 14/10 TÐ XXX, CB 420, tờ 27-28, 37-44; 2003:248]

71. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 18/8 TÐ XXXI, CB 297, TL 101, tờ số 305-310.

72. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 29/01 TÐ XXXII, CB 333, TL 33, tờ số 89-114. Thực Lục chép: Tháng Giêng Kỷ Mão [1-2/1879], sơn phòng sứ Hà Nội Dương Khuê bị cách chức, cho làm việc chuộc tội; ÐNTLCB, IV, 33:197. Việc này do Nguyễn Trọng Hợp trình lên vào tháng 12/1878, vì kho Nam Ðịnh thiếu hơn 10,000 quan; Ibid., 34:192. Khuê làm sơn phòng sứ từ tháng 11 Ất Hợi (1875); Ibid., 33:260.

73. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, 26/9 TÐ XXXI, CB 307, TL 114, tờ 265-268; 7/7 TÐ XXXII, CB 341, TL 120, tờ 360-367; 19/6 TÐ XXXII, CB 318, TL 28, tờ 73-76; 04/12 TÐ XXXII, CB 330, TL 31, tờ 84-87. 19/12 TÐ XXXII, CB 330, TL 88, tờ 258-285.

74. TTLTQG 1 (Hà Nội), CBTÐ, CB 303, TL 29, tờ 64-67.

75. ÐNTLCB, IV, 33:202, 268, 362; 34:88, 192, 296; Léonard Sogny, “M. Rheinart, Premier Chargé d’Affaires à Hué: Journal, Notes et Correspondance;” Bulletins des Amis de Vieux Hué [BAVH], XXX, nos. 1-2 (1-6/1943), tr. 66, 103-4. 110-11.

76. Tại thư viện Yenching của Ðại học Harvard (Boston) có vi phim [microfilms] Nguyễn triều châu bản, cũng như bản chữ Hán các bộ Thực Lục hay Liệt Truyện.

77. Xem biên bản phiên họp cuối của Ủy ban Cochin-Chine năm 1857; CARAN (Paris), Fonds Marine, BB4-752 B; Cao Huy Thuần, 1990:27-35; Nguyên Vũ, Paris Xuân 1996 (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 202-14.

78. Thế lực nhóm duy tân/chủ hòa hay hợp tác tạm suy giảm từ năm 1880, khi Tự Ðức cho Trần Tiễn Thành bớt trách nhiệm tại bộ Binh. Tuy nhiên, một số Hoàng thân, công tử như Miên Ðịnh, Miên Trinh, Hường Dật, Hường Hưu, Hường Sâm, Hường Phì, v.. v... đã hoặc đang nghiêng dần về lập trường hợp tác với Pháp; chống lại phe quân phiệt, chủ chiến Hoàng Kế Viêm, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm, v.. v...

79. ÐNTLCB, IV, 52:335 [Tháng 10-11/1873, Nguyễn Chánh làm Quyền Thương Bạc Ðại thần], 345 [Tháng 11-12/1873, Nguyễn Hữu Lập quản lý Thương bạc, vì Nguyễn Chánh ra Bắc làm Khâm lược]. Sau đó, Bùi Ân Niên, Nguyễn Trọng Hợp, Nguyễn Văn Tường lần lượt kiêm quản Thương bạc. Nguyễn Thế Anh cho rằng sự thay đổi này chỉ có hình thức, như các Thương bạc đại thần chỉ được bổ nhiệm tạm thời, và Tự Ðức vẫn theo đuổi chính sách đối ngoại lỗi thời, v.. v...; Nguyễn Thế Anh, Monarchie et fait colonial au Việt-Nam (1875-1925): Le crépuscule d’un ordre traditionnel (Paris: Harmattan, 1992), tr. 41-6. Theo chúng tôi, muốn đánh giá sâu sát nỗ lực ngoại giao của Tự Ðức, cần nhận hiểu vị thế một nạn nhân của “luật kẻ mạnh” hạ bán thế kỷ XIX. Sự vụng về hay lỗi thời của Tự Ðức–đúng hơn là ảo vọng vào một thế giới “hà tất viết lợi, viết nhân nghĩa nhi dĩ hĩ”–đáng được giảm khinh trong so sánh tỉ đối với lập trường quan tướng Pháp (tính chất giai đoạn của mọi hiệp ước, tùy theo khả năng quân sự và nhu cầu; kẻ mạnh luôn tìm ra những cái cớ [prétextes] để hành động: từ tự do giao thương trên sông Hồng, tới Lý Dương Tài, bạc giả, đánh đòn người Âu, hay cái chết của Henri Rivière). Hơn nữa, ở thời điểm này, Pháp cũng ít khi tôn trọng các đại diện ngoại giao của mình. Aubaret năm 1864 và Bourée năm 1882-1883 chỉ là vài thí dụ.

79bis. L’Institut Charles de Gaulle [ICG], Le Général de Gaulle et l’Indochine, 1940-1946 (Paris: Plon, 1982), tr. 73; D’Argenlieu, Chronique, 1985:131-33. Chính Ðạo, VNNB, I-A: 1939-1946, 1996:301. [Tài liệu văn khố ghi nhận ngày 7/1/1946, de Langlade thông báo với d’Argenlieu là Mus gặp Bộ trương Hải Ngoại Soustelle; rồi ngày 20/1/1946, de Langlade cho biết Mus sẽ gặp de Gaulle, Soustelle và Tướng Juin]; SHAT (Vincennes), Indochine, 10 H xxx].

80. ÐNTLCB, IV, 34:182-183, 233-235; TTLTQG II (TP/HCM), CBTÐ, 7/12 TÐ XXXII, CB 440:262-263; [2003:260].

81. ÐNTLCB, IV, 27:68 , 29:132, 30:193, 31:15, 94, 33:13 [Ðiều III], 34:233-235, 341-342; 35:98; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, tam thập nhị niên, lục nguyệt-thất nguyệt, 5/7 TÐ XXXII, CB 446:217; 2003:265 [Ngày 22/8/1879, Bộ Công trình việc sửa lại Thủy sư sứ quán để đón phái đoàn Espania và Xiêm]; Tam thập nhị niên, thập nguyệt-thập nhị nguyệt, 27/11 TÐ XXXII, CB 458:200-213; [2003:275] [Ngày 29/12/1879, chuẩn bị đón tiếp sứ Xiêm; tra cứu việc đón sứ đoàn năm Gia Long thứ 8, thứ 15 và Minh Mạng thứ 11]; AMAE (Paris), Mémoires et documents, Asie, vol. 33, tờ 91; Nguyễn Thế Anh, 1992:49.

82. Ngày 20/10/1940, Thủ tướng Phibun Songkhram tuyên bố Pháp đã chiếm của Thái Lan  467,500 dặm vuông lãnh thổ; và gần 4 triệu dân. Ngày 11/3/1941, dưới áp lực Nhật, chính phủ Pétain nhượng cho Thái 23,000 cây số vuông đất tại Kampuchea và Lào, cùng 64,000 dân; International Military Tribunal for the Far East [IMTFE], III:6721. Xem thêm Milton E. Osborne, The French Presence in Cochinchina and Cambodia: Rule and Response (1809-1905) (Ithaca: Cornell Univ. Press, 1969), Part III, pp. 175-258. Sau năm 1945, Kampuchea lấy lại đất cũ.

83. ÐNTLCB, IV, 27:68; 29:85-87, 97-98,105, 108-9,119; 132, 136, 156-157, 165; 30:193; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, 2/3 TÐ X (1857), CB 193:3-5 [2003:49]; 20/6 TÐ XI (1858), CB 226:247-248  [2003:57]; 23/12 TÐ XII (1860), CB 250:236-240 [Tự Ðức mật dụ về vấn đề biên giới Miên. [2003:88]; 10/2 TÐ XIII (1860), CB 253:255-259 [2003:96] [Miên muốn gây hấn]; 11/5 TÐ XIII (1860), CB 257:17-18 [2003:104]; ASME (Paris), Lettre Commune [LC], 1862, “Cambodge”, tr.24; CAOM (Aix), Indo AF, carton 11, A 30 (8); Osborne, 1969:27-8, 30; Cao Huy Thuần, 1990:129.

84. ÐNTLCB, IV, 30:86, 293.

85. TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, 11/1 XXIII, CB 343:53-56; ÐNTLCB, IV, 32:7-8.

86. Về hành trình của Nguyễn Huy Côn (Hỗn), xem TTLTQG I (Hà Nội), CBTÐ, CB 254, TL 40, tờ 94-101 (10/12 TÐ XXVI [27/1/1874]); & TL 89, tờ 187 (28/12 TÐ XXVI [14/2/1874]). [TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, nhị thập lục niên, chính nguyệt-nhị nguyệt, 8/1, 11/1 & 20/1 TÐ XXVI, CB 381:26-29, 39-41, 47-48 [2003:185-187], & Ibid., nhị thập lục niên, thập nhất nguyệt-thập nhị nguyệt, 8/12, 10/12 & 15/12 TÐ XXVI, CB 385:64-66, 92-96, 110-114. [2003:198-199]; ÐNTLCB, IV, 33:59.

87. ÐNTLCB, IV, 33:17-18. 34:271, 290-295; 35:94. Theo học giả Nguyễn Thu Hoài, có hơn 20 tư liệu Châu bản triều Tự Ðức về các sứ đoàn Espania tới Huế; TTLTQG I (Hà Nội), CBTÐ, CB 212, TL 59, 62, 63, 70, 67, 71, 73, 76, 78, 80 [1870]; CB TÐ 312, TL 82, 86 [1878]; CB 322, TL 102 [1879] CB 328, TL 89, 94 [1880] [hát bội], CB 331, TL 67 [1880]; CB 331, TL 20, 45, 59 [1880] [khoản xin giảm số bạc bồi thường chiến phí không dám tự ý giải quyết, đợi giao ước xong thảo 1 quốc thư cho vua Espania giải quyết]; CB 324, TL 104, tr. 309-310 (28/10 TÐ XXXII) [1/12/1879] [Ðỗ Ðăng Ðệ, Hoàng Diệu tâu về việc bản thương ước hoàn toàn không sửa chữa lại điều 9, còn sau này 2 nước Pháp, Tây Ban Nha có bàn định sửa đổi việc gì quan hệ đến các giám mục, linh mục mà Hoàng đế Ðại Nam có chuẩn y mới được thi hành. Khâm sứ Pháp chuẩn y]. Xem thêm, TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, tam thập nhị niên, cửu nguyệt-thập nguyệt, 8/10 TÐ XXXII [9/12/1879], CB 454:191-193, CB 452[?]:284-285) [Tự Ðức tiếp kiến sứ đoàn]; 26/10 TÐ XXXII, 9-10, CB 454:300-303 [2003:273] [Sứ Espania cho biết sơ thảo hòa ước có chỗ khác biệt vì ý kiến của Pháp]; 26/10 TÐ XXXII, 9-10, CB 454:304-305 [2003:273-274] [Sứ Espania cho biết thương ước thôi; giáo sĩ do Pháp cai quản]; 28/10 TÐ XXXII, 9-10, CB 454:309-314 [2003:274]; CAOM (Aix), GGI, d.11781; Sogny, “Rheinart;” BAVH, XXX, nos. 1-2 (1-6/1943), tr. 66, 73, 81-82.

88. ÐNTLCB, IV, 31:34-37; Nguyễn Thế Anh 1970:55-56.

89. ÐNTLCB, IV, 34:337; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, 21/7 TÐ XX, CB 295:274-277 [2003:137]; CAOM (Aix), Indo AF, 16/A 30(55); Nguyễn Thế Anh, 1992:48; Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam (1858-1897) (Paris: 1995), tr. 203-205.

90. Thọ, 1995:266.

91. AMAE (Paris), Mémoires et Documents, Asie, vol 38, pp. 373-376; Thọ, 1995:195-207, 207-208, 208-210.

92. TTLTQG II (TP/HCM), CBTÐ, 26/7 TÐ XXIII, 7-9, CB 352:16-28 [2003:173] [Lạc Sĩ Ðiền] & 26/7 TÐ XXIII, 7-9, CB 346:44-49 [2003:173] [Phạm Phú Thứ cải chính thư nặc danh tố cáo mưu toan với Nga thương]; 8/12 TÐ XXIII, CB 366:18-20 [Xuy Di]. & 25/12 TÐ XXIII, CB 367:145-152; 25/12 TÐ XXIII, CB 367:145-152; 4/2 TÐ XXIII, CB 367:220-224; 4/11 TÐ XXXI, 7-12, CB 440:61-62.[ 2003:258] [Tạ Huệ Kế từ Hong Kong về, thuật lại tin đồn Lan Sĩ Ðiện].

93. ÐNTLCB, IV, 31:105; TTLTQG II (TP/HCM), CBTÐ, 22/11 TÐ XXII, CB 333:127-129, 2003:157 [mua súng Nhật]; 22/12 TÐ XXI, CB 313:263-272; 2003:146 [Ðặng Huy Trứ xin sao tờ tấu của Tăng Quốc Phiên]; 9/1 TÐ XXI, CB 299:16-20; 2003:138-139 [Ðặng Huy Trứ trình bày việc canh tân ở TH, Cao Ly, Nhật]

94. Miller, 1990:142-45, 151-53.

95. ÐNTLCB, IV, 35:89-91, 141-43; AMAE (Paris), Mémoires et Documents, Asie, vol. 39, tr. 363-64; & Documents Diplomatiques, [DD] I:323-324; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:273-74, 283-84, 290-92, 293. Một biên khảo cổ điển về chính sách Ðông Dương của nhà Thanh là Lloyd Eastman, Throne and Mandarins: China’s Search for a Policy During the Sino-French Controversy, 1880-1885 (Cambridge: Harvard UnivPress, 1967).

96. ÐNTLCB, IV, 35:167.

97. ÐNTLCB, IV, 32:304, 34:350, 351, 362, 364, 369, 370, 380-381.

98. Theo Rheinart, ngày 3/6/1884, hai chú của Tự Ðức và một số quan chức đến xin cho phép dịch chữ “protectorat” thành “bảo trợ” thay vì “bảo hộ” trong văn bản chữ Hán. và để trao đổi, Huế đồng ý nạp ấn tín phong vương của nhà Thanh cho Rheinart bỏ vào lò rèn nấu chảy đi; Sogny, 1943:168-69; ÐNTLCB, 36:114-19. Hoà ước Thiên Tân (9/6/1885), ký giữa Lý Hồng Chương và Patenôtre, công nhận quyền Bảo hộ của Pháp tại Ðại Nam; AMAE (Paris), DD IV, tr. 282-86. Quốc Hội Pháp phê chuẩn ngày 6/7/1885. Quân Thanh, kể cả Lưu Vĩnh Phúc, lần lượt rút khỏi Bắc Kỳ, bỏ rơi vua quan Nguyễn và các lực lượng kháng Pháp. Xem thêm Thọ, 1995:379-83.

99. ÐNTLCB, IV, 32:301, 305-6, 33:83-5; TTLTQG II (TP/HCM), CBTÐ, 13/2 TÐ XXIII, CB 343:114-21 [Cơ Mật trình việc Nguyễn Tăng Doãn qua Hong Kong điều tra tông tích Lê Duy Ðịnh]; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:216-34; Cao Huy Thuần 1990; Nguyễn Thế Anh 1992.

100. ÐNTLCB, IV, 31:37-40. Xem thêm báo cáo của Puginier trong ASME (Paris), Tonkin 704:51, 65-8, 103, 137ff.

101. Rheinart, “Note sur Nguyen Van Tuong [1885];” SHAT (Vincennes), Indochine, 10H xxx, d.8; ÐNTLCB, IV, 33:202, 35:89-91; Sogny, “Rheinart;” BAVH, XXX, nos. 1-2 (1-6/1943), tr. 94-5, 99, 100, 103-4, 124-25. Vì thế, sau này, Rheinart tuyên bố Bửu Lân, là “con nuôi nước Pháp,” và lập con Dục Ðức làm vua năm 1889, tức Thành Thái (1889-1907).

102. ÐNTLCB, IV, 30: 175-76, 227.

103. ÐNCBLT, q. 36, 1993, IV:282-83. Nên ghi thêm là nha tuần hải khác với thương chính. Ty thương chính có nhiệm vụ thu thuế hải quan các thuyền buôn ngoại quốc. Nha tuần hải phụ trách tuần tiễu các trục thủy lộ và duyên hải, và chuyên chở hàng hóa. Sau này, nha tuần tải đổi thành thuyền chính. Tháng 4 Nhâm Ngọ [5-6/1882], Tự Ðức thưởng phẩm hàm cho bọn Trần Bạch Lân, quyền quản nha tuần tải cũ, vì từng bắt được thuyền giặc, khiến từ 1880 việc vận tải an toàn; ÐNTLCB, IV, 35:124.

104. ÐNTLCB, IV, 34:221-23; ÐNCBLT, q. 34, 1993, IV:225-32. Giòng giõi là Phạm Phú Quốc, từng đánh bom Dinh Ðộc Lập ngày 27/2/1962. Sau tử trận trong một cuộc oanh tạc phía Bắc vĩ tuyến 17.

105. TTLTQG I (Hà Nội), CBTÐ, 21/4 TÐ XXXII [10/6 1879], CB 337, TL 87, tr. 306-307 [Phạm Phú Thứ]; TTLTTƯ 2 (TP/HCM), CBTÐ, 24/5 TÐ XXXII, 5-7, CB 456:131-143; & 12/10 TÐ XXXII, 5-6, CB 447:227-231; [2003:264, 272].

106. CAOM (Aix), Indochine AF, carton 14, A 30(31); GGI, d. 11939; ÐNTLCB, IV, 34:262, 35:13, 88; Nguyen The Anh, 1992:39-40; AMAE (Paris), DD, I, tr. 55-57; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, I:248.

107. Xem Nguyên Vũ, “Góp phần nghiên cứu Petrus Key;” Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002); Chính Ðạo, Hồ Chí Minh: Con người & Huyền thoại, (Houston: Văn Hóa, 1997), tập I; Vũ Ngự Chiêu, Các Vua Cuối, tập II & III (ấn bản 2000).

108. CAOM (Aix), GOUGAL, 7F 61 & F03 (177); Vũ Ngự Chiêu, “Từ trung quân sang ái quốc: Sự hình thành của phong trào quốc gia mới;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 89, 90. Người vợ chính thức đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc, Tăng Tuyết Minh, là một giáo dân Ki-tô; cha từng lập nghiệp ở Hawaii, rồi trở về Quảng Ðông sinh sống.

109. Pierre Brocheux ghi nhận Nguyễn Ái Quốc không để lại dấu vết rõ ràng nào trên đất Mỹ; Idem., Hô Chi Minh: Du révolutionnaire à l’icône (Paris: Payot, 2003), tr. 32. Với một số học giả Mỹ, chẳng cần tìm hiểu thêm về Hồ Chí Minh vì chiến tranh Việt Nam đã trở thành quá khứ. Bởi thế, trong một số sách giáo khoa, sinh viên Mỹ vẫn được học là Hồ rời Việt Nam vào năm 1912, theo học lycée Vinh, và đại loại.

110. L'Humanité (Paris), 18/7/1919; trích in trong Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, tập I (1997), tr. 191.

111. Thư trả lời của Phái đoàn Mỹ ngày 20/6/1920; CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, c. 3.

112. CAOM (Aix), SLOTFOM, Series II, c. 6. Chính Ðạo, Hồ Chí Minh, I, tr. 190, 268. William Duiker cũng in lại truyền đơn này trong bộ tiẻu sử xuất sắc về Hồ Chí Minh năm 2000.

113. CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries I, carton 2.

114. Có lẽ Nguyễn Ái Quốc nhắc đến cuộc nổi dạy của Ðội Trịnh Văn Cấn ở Thái Nguyên năm 1917.

115. Tình báo Pháp ghi chú nhân vật Phan này là Phan Châu Trinh; điều ấy không đúng. Luật sư Phan Văn Trường mới có khả năng đối thoại lưu loát bằng Pháp ngữ; và sống tại Pháp “trên 10 năm.” Vì đang sống ở Mayence (Germany), Luật sư Trường cho Nguyễn Ái Quốc tạm trú tại nhà mình ở Paris. Mật thám Pháp từng gửi Quản Lâm–một thượng sĩ thông ngôn gốc Nam Ðịnh–qua Meyance theo dõi Phan Văn Trường vì theo lời tiết lộ của Quốc, Luật sư Trường “đang lo việc chính trị cá nhân tại đây.” CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, d. 1.

116. Theo “Quản Lâm,” Kim hứa giúp thông dịch qua chữ Hán bản thỉnh nguyện của nhóm Nguyễn Ái Quốc để sẽ phổ biến trên báo chí tại Trung Hoa, và cung cấp cho Quốc ít số nguyệt san Korea Review bằng Mỹ ngữ. Quốc cũng liên hệ với một y sĩ người Hoa làm việc cho Bộ Tư pháp ở Bắc Kinh; CAOM (Aix), SLOTFOM, Séries III, d. 1; SPCE 364.

117. Vũ Ngự Chiêu, “Political and Social Change in Vietnam Between 1940 and 1946,” Ph.D. Dissertation, Univ. of Wisconsin-Madison, Dec 1984, Parts II & III; Idem., “The End of An Era: The Empire of Vietnam (March-August 1945);” Journal of Asian Studies, Vol. XLV, No. 2 (Feb 1986), pp. 293-328; David G. Marr, Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley, CA: California Univ. Press, 1995), pp. 279-289. Xem thêm US Senate, Hearings (1972), (1973:243-71, Deer Team); hồi ký Charles Fenn, (1973:73-75), Archimedes Patti (1980:56); Hoàng Văn Hoan (1987:243-46); Phùng Thế Tài (2002:57-94).

118. Chính Ðạo, “Hiệp Ước Sơ Bộ 6/3/1946;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 88 (4-5/2006), tr. 95-148.

 © 2007, 2010, Chieu Ngu Vu & Van Hoa Publishing Co. Unauthorized reproduction by all means are prohibited.

 


Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang Ngươì Việt Đầu Tiên Đến Mỹ?
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com
Email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc, thắp sáng niềm tin
Diên Hồng và nếp sống văn hiến hầu phục hồi nền An Lạc & Tự Chủ.



Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt