Việt Nam Văn Hiến
Năm Thứ 4889

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com



                  PHẢN BIỆN LẠI BÀI VIẾT CỦA ÔNG TS. NGUYỄN GIA KIỂNG :

"Trí thức Việt Nam muốn để lại di chúc nào ?"

NGUYỄN SƠN HÀ

    Trong bài viết đăng trên trang "Thông Luận" của ông (và "danchimviet.online") với tựa đề nêu trên, ông đã đưa ra vấn đề : "Các phát biểu của hội nghị vẽ ra chân dung của một chế độ cực kỳ vô lý, nhưng tại sao nó vẫn kéo dài?" ; và ông đã phân tích vấn đề với 4 lý do mà ông cho là :

" Nếu những phân tích sau đây có làm phiền lòng một số trí thức thì tác giả xin được thứ lỗi và xin hiểu cho rằng những khuyết tật được nêu ra sau đây đã hiện diện nơi chính người viết.;

   Hay có thể nói cách khác là ông "suy bụng ta, ra bụng người." ! Cho nên, vì chính nghĩa của hai chữ VĂN HÓA viết Hoa, và cũng vì là phận sự của tôi, như tiền nhân Nguyễn Công Trứ đã nói : "trong vũ trụ này không đâu không là phận sự" (vũ trụ nội mạc phi phận sự) ; do đó tôi buộc lòng phản bác lại những tư tưởng nghịch lý của ông, đối với nghĩa nguyên thủy của hai chữ VĂN HÓA viết Hoa, hầu để chỉnh đốn những tư tưởng sai lầm mà ông đã gieo rắc đó đây. Vì vậy, tôi không có gì ngạc nhiên khi ông đã đổ lỗi cho văn hóa như ông đã viết : "Lý do thứ hai là di sản văn hóa""Lý do thứ ba, hậu quả của di sản văn hóa" làm cho "tư tưởng chính trị chúng ta quá kém" như ông nói,  nên đã không thực hiện được vấn đề dân chủ ở Việt-Nam, và ông đã đề nghị giải pháp "văn hóa tổ chức" mà ông chủ trương.

   Nhưng trước khi bàn về "Lý do di sản văn hóa", "hậu quả của di sản văn hóa" này của ông, trước tiên tôi xin được hỏi ông dựa vào đâu mà ông đi nói : "Lý do thứ nhất của thảm kịch này là tư tưởng chính trị của chúng ta quá kém. Chúng ta tự hào là có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng ta không có một nhà tư tưởng nào, chưa nói tới tư tưởng chính trị."  Nếu nói như ông thì Nguyễn Du (1766-1820) cũng không phải là nhà tư tưởng của Việt-Nam, thì tại sao tác phẩm nổi tiếng của ông ta là "Đoạn Trường Tân Thanh" lại được phổ biến dưới tên "Truyện Kiều" cho đến ngày nay, và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ; hơn nữa còn được dạy trong một vài Đại Học lớn hiện nay ở ngoại quốc mà tôi được biết như Yale University hay Cambridge University, hay ở Nhật (Université Impériale de Taihoku) ?? Vì nếu nói kiểu "ăn cháo đá(i) bát" như ông, thì tại sao thiên hạ lại đi đọc và học tác phẩm của ông ta, nếu văn hào Nguyễn Du không phải là nhà tư tưởng ? Nên tự hào là trí thức như ông mà đi tuyên bố một điều như vậy, thì nếu không nói ông thiển cận, hàm hồ thì cũng phải nói là ông xuyên tạc !

   Nếu không thiển cận, hàm hồ và xuyên tạc thì tại sao ông lại đi khẳng định: "Vẫn có những trí thức dân chủ gạt phăng chủ nghĩa cá nhân như là đồng nghĩa với chủ nghĩa ích kỷ mà không làm phiền lòng ai, trong khi chủ nghĩa cá nhân chính là nền tảng của dân chủ. Bản Tuyên Ngôn Phổ Cập về Quyền Con Người (hay Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) không khác gì hơn là tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân." ? Đọc đoạn này ông viết, làm tôi tự hỏi ông tiến sĩ này có hiểu tiếng Việt không vậy, vì theo nghĩa hàn lâm tức nghĩa thông dụng, thì "chủ nghĩa cá nhân" (individualism) là đặc tính riêng của mỗi người sống khác biệt và biệt lập đối với người khác, hay đối với quần chúng ; trong khi "dân chủ" (democracy) là một hệ thống chính quyền được thành lập bởi lá phiếu của người dân đi bầu, đi bỏ phiếu để cử kẻ đại diện cho tiếng nói của mình. Như vậy mà ông lại đi bảo "chủ nghĩa cá nhân chính là nền tảng của dân chủ" rồi phang luôn "Bản Tuyên Ngôn Phổ Cập về Quyền Con Người (hay Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) không khác gì hơn là tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân.", thì nếu không bảo ông thiển cận, hàm hồ và xuyên tạc, thì phải nói là ấu trĩ mới đúng !

   Hơn nữa khi ông nói : "Lý do thứ hai là di sản văn hóa. Từ ngày lập quốc, khi bị ngoại thuộc cũng như lúc tự chủ, chúng ta được nhào nặn trong nền văn hóa Khổng Giáo coi làm chính trị chủ yếu là để làm quan. Tâm lý này được duy trì hầu như nguyên vẹn dưới chế độ cộng sản bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin không khác gì Khổng Giáo.", thì tôi mới hiểu thêm lý do tại sao ông đã lấy cái tựa đề "Tổ Quốc Ăn Năn" cho cuốn sách nổi tiếng của ông, mà có kẻ bảo là ông viết theo đơn đặt hàng, thì giờ đây tôi thấy cũng không sai ! Vì phải tự cho mình cao trọng hơn Tổ Quốc mới đi bảo "Tổ Quốc Ăn Năn", và mới đi chê trí thức khác như ông viết : "Sự hụt hẫng về tư tưởng của trí thức Việt Nam có thể thấy được dễ dàng." (sic) ! Nhưng ở đây tôi không chút khó khăn mà lại thấy rõ "sự hụt hẫng về tư tưởng" của ông hơn là của trí thức Việt Nam ! Vì nếu ông đã hiểu đúng nghĩa nhóm chữ "di sản văn hóa" thì ông đã không đi đổ thừa cho văn hóa. Vì "di sản" phải là những sản phẩm có giá trị bên ngoài như văn học, nghệ thuật… hay giá trị bên trong về tinh thần như luân lý, đạo đức… thì tổ tiên mới quý trọng và cất giữ để di truyền lại cho con cháu thế hệ mai sau ; chứ nếu là đồ vô giá trị thì ai mà đi cất giữ làm gì cho mất công vô ích, thì đâu còn gì mà gọi là "di sản" phải không ? Vả lại, văn hóa không chỉ là những sản phẩm với sinh hoạt và tổ chức của con người, do con người và cho con người ; mà còn là tất cả mọi sự vạn vật trên đời này, còn gọi là Đạo, như tôi đã diễn giải trong bài VĂN HÓA viết Hoa của tôi. Cho nên khi nói "di sản văn hóa" tức là Tinh Hoa Văn Hóa của một dân tộc, mà đối với dân tộc Việt, chính là triết lý nhân sinh, là Minh Triết Việt, là Đạo Trời, Đạo Việt, Đạo Nhân tức là Đạo làm Người. Và hễ nói Minh Triết tức là lý giải minh nhiên thấu triệt cho mọi sự vật, nên không hề ứ đọng hay bế tắc. Vì Minh Triết xây dựng trên con người tức lấy con người làm nền tảng, nên con người vừa là đối tượng vừa là cứu cánh. Nói cách khác Minh Triết lấy minh Tâm làm đường đi và thành Tính làm điểm đến. Vì vậy, nếu bảo "di sản văn hóa""hậu quả di sản văn hóa" là lý do làm cho "tư tưởng chính trị chúng ta quá kém"  để lớp trí thức VN không tạo nên được một nền dân chủ, thì chứng tỏ là nhà trí thức TS. NGKiểng đã không hề có một nhận thức đúng nghĩa về Văn Hóa ! Vả lại nếu ông Kiểng đã có học hỏi tận tường về Khổng giáo bằng điều tra và nghiên cứu (chứ tíếng Việt đúng nghĩa, đúng cách không ai nói kiểu rừng rú như VC là "điều nghiên" !), thì đã biết Khổng giáo là từ Nho giáo, mà Nho giáo tức là Nguyên Nho, là Việt Nho, nên còn gọi là Đạo Nho. Vì Khổng Tử đã viết : "Thuật nhi bất tác ; tín nhi háo cổ" (LN.IV.7,1). Khổng Tử nói : "Ta chỉ truyền thuật lại cái đạo của tiền nhân thánh hiền cho đời sau, chứ ta chẳng có làm ra ; ta tin tưởng và hâm mộ đạo lý người xưa." Do đó nói Khổng Giáo (hay đạo Khổng) như ông Kiểng là không đúng, mà phải nói là Nho giáo hay Đạo Nho. Vả lại, Nho giáo đã định nghĩa chính trị là : "chính giả chính dã. Tử suất chính thục cảm bất chính ?", tức chữ chính (cai trị) do nơi chữ chính (ngay thẳng) mà ra. Cai trị (chính) tức là lo lắng cho dân trở nên ngay thẳng, chính đính. Nay bậc đại phu quân tử là bậc dẫn đầu trong dân chúng mà tự mình chính đính, thì còn ai dám ăn ở bất chính ? Như vậy nếu nói "Khổng Giáo coi làm chính trị chủ yếu là để làm quan." thì nếu không xuyên tạc, thì cũng  "dốt hay nói chữ" như ông bà xưa đã nói !

   Điều này lại càng đúng cho ông Kiểng khi ông viết : "Tâm lý này được duy trì hầu như nguyên vẹn dưới chế độ cộng sản bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin không khác gì Khổng Giáo." Với câu này chứng tỏ là ông Kiểng nếu không hàm hồ, xuyên tạc và ngu dốt, thì đã không chà đạp cái "di sản văn hóa"  của tiền nhân ! Vì : "Chủ nghĩa Marx-Lenin là thế giới quan, hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân, biểu hiện lợi ích của giai cấp này trong nhiệm vụ xây dựng lại xã hội một cách cách mạng." (Wikipedia tiếng Việt), nên đã dẫn đến cái chế độ cộng sản, ma mộc bất nhơn đã tàn sát trên 100 triệu người vô tội trong thế kỷ vừa qua, và hiện nay đang còn là mối đe dọa cho hòa bình thế giới ! Trong khi đó Nho giáo là triết lý nhân sinh, là Minh Triết, là Đạo làm Người với tôn chỉ "Thiên Thời - Địa Lợi - Nhân Hòa" tức là "tùy thời chi nghĩa" với "tùy cơ ứng biến" để sống thích nghi, hòa hợp sao cho "thuận thiên" trong mọi hoàn cảnh, để con người được thành Nhân, thành Thánh, thành Thần. Vì phải sống thuận để hòa nên không hề có một tư tưởng cách mạng nào ; vậy mà bảo là "chủ nghĩa Mác-Lênin không khác gì Khổng Giáo", thì tôi đành phải nói là "hết nước nói" !

  Nên chính vì không hiểu biết về Nho giáo, để đừng nói là ngu dốt nên mới suy diễn kiểu hàm hồ rằng : "Sự hèn nhát và xu thời được Khổng Giáo nâng lên thành những giá trị. Khổng Tử để lại một lời giáo huấn vàng ngọc cho kẻ sĩ : “Nước nguy thì chớ vào, nước loạn thì chớ ở, hoàn cảnh tốt thì ra làm quan, hoàn cảnh xấu thì ẩn mình” (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến hiện, thiên hạ vô đạo tắc ẩn – Luận Ngữ) ; mà không hiểu nổi đó là "phong thái thích nghi" theo quy luật tự nhiên là "thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong", giống như khi tiết trời tuyết lạnh phải làm sao cho người mình ấm áp, còn như khi khí trời nóng nực thì làm sao cho người mình mát mẻ mới thoải mái !

Nên khi suy diễn với đầu óc duy lý bằng lý luận biện chứng một chiều thì dĩ nhiên là "suy bụng ta, ra bụng người"  cho nên mới viết :

"Sau đó nếu có dấn thân chính trị thì cũng chỉ làm chính trị kiểu nhân sĩ, nghĩa là hoặc không tham gia một tổ chức nào hoặc nếu có tham gia thì cũng chủ yếu để lợi dụng tổ chức cho tham vọng cá nhân của mình, chứ không phải để xây dựng tổ chức như là một nhịp cầu phải có để dẫn tới một tương lai đáng mong ước từ một hiện tại không chấp nhận."

   Tôi không cần phải phản biện về cái giải pháp "văn hóa tổ chức" mà ông Kiểng chủ trương để có ý thức   dân chủ. Vì một khi đã không có nhận thức đúng nghĩa của VĂN HÓA với chủ Đạo, thì có là "văn hóa tổ chức" với nội dung gì đi nữa, cũng chỉ là "thùng rỗng kêu to" ! Nên chỉ bấy nhiêu, đã đủ chứng minh cái giọng thầy đời của ông Kiểng vì nó mang đầy tính chất thiển cận, hàm hồ, xuyên tạc, ngu si, để đừng nói là ấu trĩ !  Vì vậy tiền nhân Khổng Tử từ xưa đã nói một câu bất hủ để đời, để khuyên dạy con cháu là : "Học mà không biết suy nghĩ là đồ ngu ; còn suy nghĩ mà không chịu học là đồ điên." ("Học nhi bất tư, tắc võng ; tư nhi bất học, tắc đãi.")

 

 Nguyễn Sơn Hà

(18/12/2010 tức 13/11 năm Canh Dần)

 




      Trí thức Việt Nam muốn để lại di chúc nào?

 

NGUYỄN GIA KIỂNG



 

Và những bào thai trong bụng mẹ lỡ sinh ra
Sẽ suốt đời nguyền rủa lũ ông cha

(Nguyễn Chí Thiện)

 


Tiến Sĩ Nguyễn Gia Kiểng

    Một người bạn gửi cho tôi “Biên bản Hội Thảo Khoa Học Hội Khoa Học Kinh Tế Việt Nam và Trung Tâm Thông Tin và Dự Báo Kinh Tế – Xã Hội Quốc Gia” với lời nhắn “đọc ngay”.

Quả thực đó là một tài liệu đặc sắc. Trước hết vì thành phần tham dự. Xin kể một vài nhân vật: GS Trần Phương – nguyên Phó Thủ tướng; ông Vũ Khoan – nguyên Phó Thủ tướng; PGS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh Tế; GS Phan Văn Tiệm – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài Chính; Việt Phương – nguyên Cố vấn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; bà Dương Thu Hương – nguyên Phó Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước; GS Đào Xuân Sâm – nguyên Trưởng bộ môn Quản lý Kinh tế trường Nguyễn Ái Quốc; PGS Võ Đại Lược – nguyên Viện trưởng Viện Kinh Tế Thế Giới; GS Đào Công Tiến; cựu Đại sứ Nguyễn Trung; TS Nguyễn Mại; Ông Vũ Quốc Tuấn; TS Lê Đăng Doanh; GS Nguyễn Đình Hương; GS Lê Du Phong; Bà Phạm Chi Lan; TS Lưu Bích Hồ; GS Vũ Huy Từ v.v., với sự hiện diện của một số thành viên tổ soạn thảo cương lĩnh, không thấy nêu tên và chức vụ nhưng chắc chắn phải là những đảng viên cao cấp và có trình độ kiến thức cao để được chỉ định tham gia soạn thảo định hướng của đảng và thay mặt đảng theo dõi buổi hội thảo này. Những tên tuổi trên đây cho thấy thành phần tham dự hội thảo là những trí thức ưu tú và có uy tín nhất của chế độ. Họ cũng là những trí thức được ưu đãi nhất, những trí thức có nhiều lý do nhất để ủng hộ chế độ. Họ được yêu cầu góp ý cho các văn kiện chuẩn bị cho Đại Hội XI (gồm Cương Lĩnh Chính Trị, Báo Cáo Chính Trị và Chiến Lược Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội 2011 -2020).

Chính vì thế mà nội dung cuộc thảo luận gây ngạc nhiên. Đã không có một phát biểu nào thuận lợi, dù là tương đối. Cũng không có một phê phán ôn hòa nào. Chỉ có những phủ nhận và chê bai mỉa mai, quả quyết, gay gắt, thậm chí khinh bỉ.

Một vài trích dẫn:

(…) Cần nhận thức lại chủ nghĩa xã hội (CNXH), cần thay bằng một mô hình văn minh hơn;

(…) Quá dài, rất trùng lắp, những điều cũ kỹ, lạc hậu, sai lầm quay lại nhiều quá. Rất nhiều điều chỉ có thể là dự báo khoa học lại coi là chủ trương, ví dụ: đến giữa thế kỷ XXI Việt Nam thành thế này, thế kia; giữa các văn kiện không có tư tưởng thống nhất, các văn kiện tụt lùi xa so với Đại Hội IX, X.

(…) Đánh giá sai nhiều lắm… nguy hiểm quá. Văn kiện không có định hướng, trở nên vô nghĩa. Các văn kiện hiện quá lạc hậu so với thời đại.

(…) Nhận định về quốc tế, về các nước XHCN và tình hình đất nước sai, nên bỏ đi!

(…) Phải nhằm vào cải cách chính trị chứ không chỉ kinh tế; cải cách thể chế chính trị thành một vấn đề bức xúc, không giải quyết thì không phát triển được. Phải xây dựng hiến pháp mới. Đã đến lúc phải đổi mới hệ thống chính trị, phải phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng của nhà nước. Quốc hội hiện chưa phải là cơ quan lập pháp!

(…) Văn kiện không phản ánh được cuộc sống. Đổi mới chính trị chưa theo kịp đòi hỏi, đang cản trở.

(…) Phải xác định cho rõ vai trò lãnh đạo của Đảng: lãnh đạo là ai? Ai cho anh quyền lãnh đạo? Phải nhìn thẳng vào sự thật. Lừa được người ta chứ không lừa được thực tiễn đâu!

(…) Tư duy lý luận lạc hậu, mâu thuẫn, xa rời thực tiễn; thụt lùi so với đại hội trước. Lòng tin của dân đối với Đảng, với chế độ giảm.

(…) Xem thường lịch sử: nói CNXH là điều kiện để độc lập, các triều đại trước có CNXH đâu mà vẫn độc lập. Không gắn với thời đại, xem thường thiên hạ.

(…)Viết thế nào thì viết, nhưng đừng đao to búa lớn quá, cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đã là ảo tưởng rồi.

(…) Tỉnh nào cũng có xi măng, sân bay, nhà máy thép, cảng biển… đầu tư nham nhở.

(…) Loài người đi đến chỗ dân chủ. Nhưng thế nào là dân chủ? Đảng quyết mọi thứ mà lại không chịu trách nhiệm gì. Thế mới chết chứ.

(…) Tại sao các văn kiện lại ngổn ngang thế? Cương lĩnh thất bại, tuyên truyền thất bại. Lý luận chính trị chưa bao giờ suy đồi như bây giờ. Ngổn ngang quá. Giả dối quá. Thật là bi kịch. Cảnh ngộ của Đảng ta từ sau Đại Hội XI bắt đầu bước vào suy đồi.

(…)Toàn là giả dối cả. Nếu đưa cái cương lĩnh chiến lược này ra mà thông qua thì sẽ ra sao đây? Quả đấm thép không đấm vào đối thủ mà lại đấm ngay vào chính ta.

(…) Dân được nói mới là dân chủ. Đảng vẫn đặt dân tộc sau giai cấp. Dự thảo văn kiện đánh giá:“Dân chủ trong Đảng được mở rộng”. Tôi nghĩ trong Đảng là mất dân chủ nhất. Hầu như không có nhận định nào trong văn kiện là đúng sự thật thực tiễn.

(…) Đảng có dựa vào công nhân không? Có dựa vào nông dân không? Tôi nghĩ không. Vậy dựa vào cơ sở nào? Có dựa vào trí thức không? Cũng không nốt!

(…) Tình trạng mua quan bán chức lộ liễu, công khai, hết sức nguy hiểm. Thị trường quan chức bóp chết tất các thị trường khác. Cơ chế tuyển dụng, tuyển chọn cấp cao như thế nào? Không công khai minh bạch. Người lãnh đạo ở các cấp không có chịu trách nhiệm gì cả về quyết định của mình. Bộ Giao Thông, Bộ Xây Dựng … cầu đổ, nhà đổ , không thấy nói gì về trách nhiệm cả. Một đất nước như vậy thì không mong đợi gì!

(…) Chưa bao giờ vấn đề nghiêm trọng như bây giờ. Dân không còn tin Đảng như trước nữa. Không ai quan tâm nữa. Cương lĩnh đầy dẫy cái sai, cái mơ hồ. Nói XHCN mà không biết nó là cái gì? Nhiều chuyện ta tự lừa dối mình và lừa dối người khác.

v.v.

Và biên bản của cuộc hội thảo kết luận như sau:

“(Các phát biểu trên đây) dù không được chấp nhận, nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát”.

Bỏ qua suy luận của một số người theo đó cuộc hội thảo này đã được sự khuyến khích của một số thế lực trong đảng để bêu xấu ông Nguyễn Phú Trọng, trưởng ban soạn thảo các văn kiện chuẩn bị cho Đại Hội XI và một trong những ứng cử viên vào chức tổng bí thư, câu hỏi đầu tiên đặt ra sau khi đọc biên bản cuộc hội thảo này là: Còn trí thức Việt Nam nào ủng hộ chế độ cộng sản nữa hay không khi ngay cả những trí thức mà nó ưu đãi nhất cũng đã quay lưng lại với nó một cách phẫn nộ? Hỏi cũng là trả lời, những người trí thức khác chỉ có thể thù ghét hơn.

   Vậy mà chế độ vẫn tồn tại. Vậy trí thức có vai trò nào trong xã hội Việt Nam ngày nay?

Chủ nghĩa cộng sản phủ nhận vai trò lãnh đạo của trí thức. Những trí thức nổi tiếng đã ủng hộ đảng cộng sản trước đây hoặc trong thâm tâm không đánh giá cao chính mình hoặc không thực sự là những trí thức lớn như nhiều người nghĩ. Nhưng ngày nay chủ nghĩa Mác-Lênin đã được cả thế giới, và chính các trí thức Việt Nam, nhìn nhận là một sai lầm thì quan điểm trí thức lãnh đạo xã hội phải lấy lại chỗ đứng của nó, chỗ đứng của một sự thực phải được tôn trọng. Thảm kịch lớn nhất của đất nước hiện nay là trí thức không lãnh đạo mà còn bị lãnh đạo, trí tuệ phải phục tùng bạo lực, quả đấm nghĩ thay cho cái đầu.

Các phát biểu của hội nghị vẽ ra chân dung của một chế độ cực kỳ vô lý, nhưng tại sao nó vẫn kéo dài? Đây phải là câu hỏi mà trí thức Việt Nam phải đặt ra cho mình và cố gắng trả lời. Trong tinh thần đó kẻ viết bài này, vì cũng tự coi là một thành phần của khối trí thức Việt Nam, xin mạo muội đóng góp một vài ý kiến. Nếu những phân tích sau đây có làm phiền lòng một số trí thức thì tác giả xin được thứ lỗi và xin hiểu cho rằng những khuyết tật được nêu ra sau đây đã hiện diện nơi chính người viết.

   Lý do thứ nhất của thảm kịch này là tư tưởng chính trị của chúng ta quá kém. Chúng ta tự hào là có bốn ngàn năm văn hiến nhưng chúng ta không có một nhà tư tưởng nào, chưa nói tới tư tưởng chính trị. Khuyết tật này không khó khắc phục nếu chúng ta thực sự muốn khắc phục. Trí thức Việt Nam có thừa khả năng để đạt tới một tư tưởng chính trị, nhưng hình như chúng ta có một đồng thuận là chính trị không cần học, chính trị là thực hành, không cần lý thuyết, và không chịu hiểu rằng không có gì thực dụng hơn một lý thuyết đúng. Một trong những hậu quả là chúng ta chỉ nhìn dân chủ dưới những thể hiện hình thức của nó: bầu cử tự do, tam quyền phân lập v.v. Sự hời hợt đó khiến chúng ta không có thâm tín về dân chủ, vì thế nếu có cổ võ cho dân chủ cũng không có sức thuyết phục. Làm sao có thể có thâm tín về dân chủ khi chỉ biết về nó một cách sơ sài như vậy? Mà khi chính mình đã không thực sự tin thì làm sao có thể thuyết phục được người khác? Chỉ có sự hiểu biết thấu đáo mới có thể đem lại thâm tín, quyết tâm và sức thuyết phục. Dân chủ không giản dị như vậy. Nó là thành quả không ngừng được bổ túc của một cuộc thảo luận lớn kéo dài từ nhiều thế kỷ nay và vẫn còn tiếp tục (sẽ không có cái gọi là the end of history!).

   Sự hụt hẫng về tư tưởng của trí thức Việt Nam có thể thấy được dễ dàng. Vẫn có những trí thức dân chủ gạt phăng chủ nghĩa cá nhân như là đồng nghĩa với chủ nghĩa ích kỷ mà không làm phiền lòng ai, trong khi chủ nghĩa cá nhân chính là nền tảng của dân chủ. Bản Tuyên Ngôn Phổ Cập về Quyền Con Người (hay Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền) không khác gì hơn là tuyên cáo của chủ nghĩa cá nhân. Nó lấy con người làm cứu cánh và qui định một không gian cá nhân mà nhà nước không thể xâm phạm.

Adam Smith – Điều nghiên về bản chất và
nguyên nhân của sự thịnh vượng của các quốc gia

  Một thí dụ khác là kinh tế thị trường. Đa số trí thức Việt Nam coi chủ thuyết kinh tế thị trường, mà Adam Smith là người cổ võ nổi tiếng nhất, như là một lý thuyết kinh tế theo đó nhà nước không nên can thiệp mà cứ để cho các tác nhân kinh tế trao đổi với nhau qua thị trường rồi tự nhiên sẽ có một bàn tay vô hình an bài tất cả một cách thỏa đáng. Nếu quả thực như thế thì nó đã bị vất bỏ từ lâu rồi vì rất sai, ngay cả dưới một chế độ tư bản. Không có “bàn tay vô hình” nào dẫn dắt kinh tế cả, kinh tế thị trường đòi hỏi những luật lệ nghiêm túc và những biện pháp kiểm soát chặt chẽ nếu không muốn rơi vào hỗn loạn và khủng hoảng. Tác phẩm Điều Nghiên Về Bản Chất và Những Nguyên Nhân của Sự Thịnh Vượng Của Các Quốc Gia (An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations) là một tác phẩm về triết lý chính trị, chính vì thế mà hai thế kỷ rưỡi sau nó vẫn còn giá trị của một tác phẩm lớn.

  Người ta thường đả kích chủ trương “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là đã gán ghép một cách tổ chức kinh tế và một triết lý chính trị mâu thuẫn với nhau. Cách phản bác này không sai nhưng thiếu sức thuyết phục vì thiếu chiều sâu. Thực ra cụm từ này còn ngớ ngẩn hơn nhiều vì nó gán ghép hai triết lý chính trị đối chọi với nhau; kinh tế thị trường chỉ là một tên gọi khác của chủ nghĩa cá nhân, nền tảng của dân chủ.

    Một hậu quả của sự thiếu tư tưởng chính trị là cuộc thảo luận bênh vực dân chủ trở thành nhạt nhẽo. Nếu dân chủ chỉ giản dị như thế thì ai chẳng biết, có gì để nói, và ai cần nghe ai? Một hậu quả khác là phong trào dân chủ không mạnh và không có được sự liên tục thế hệ đáng lẽ nó phải có. Tại sao? Đó là vì chỉ có tư tưởng mới có thể gắn bó được những con người và các thế hệ. Các tôn giáo sở dĩ qui tụ được nhiều người và lưu truyền được từ đời này sang đời khác là vì niềm tin của họ được nhìn như một tư tưởng. Đầu tư vào tư tưởng chính trị là điều trí thức Việt Nam phải làm. Khẩn cấp.

Khổng Tử

   Lý do thứ hai là di sản văn hóa. Từ ngày lập quốc, khi bị ngoại thuộc cũng như lúc tự chủ, chúng ta được nhào nặn trong nền văn hóa Khổng Giáo coi làm chính trị chủ yếu là để làm quan. Tâm lý này được duy trì hầu như nguyên vẹn dưới chế độ cộng sản bởi vì chủ nghĩa Mác-Lênin không khác gì Khổng Giáo. Với một quan niệm như vậy thì dấn thân chính trị, dù là để chống lại một bạo quyền, không hề là một nghĩa vụ đạo đức mà chỉ xuất phát từ tham vọng danh lợi cá nhân, một tham vọng thấp hèn vì làm quan chỉ là làm tay sai không điều kiện. Sự hèn nhát và xu thời được Khổng Giáo nâng lên thành những giá trị. Khổng Tử để lại một lời giáo huấn vàng ngọc cho kẻ sĩ: “Nước nguy thì chớ vào, nước loạn thì chớ ở, hoàn cảnh tốt thì ra làm quan, hoàn cảnh xấu thì ẩn mình” (Nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn – Luận Ngữ). Sau đó nếu có dấn thân chính trị thì cũng chỉ làm chính trị kiểu nhân sĩ, nghĩa là hoặc không tham gia một tổ chức nào hoặc nếu có tham gia thì cũng chủ yếu để lợi dụng tổ chức cho tham vọng cá nhân của mình, chứ không phải để xây dựng tổ chức như là một nhịp cầu phải có để dẫn tới một tương lai đáng mong ước từ một hiện tại không chấp nhận. Phải khẩn cấp trả lại cho đấu tranh chính trị nghĩa thực và đúng của nó, nghĩa là đấu tranh để cải thiện xã hội, để tôn vinh quyền làm người và đem lại phúc lợi tối đa cho thật nhiều người. Sứ mạng cao cả và khó khăn này kéo theo hai hệ luận: một là khi đất nước không may lọt vào tay một chính quyền thô bạo thì đấu tranh để thay đổi nó là một bổn phận chứ không phải chỉ là một chọn lựa; hai là muốn đạt mục tiêu to lớn đó thì phải có sức mạnh, nghĩa là phải có đội ngũ. Đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả, mà luôn luôn là đấu tranh có tổ chức. Trí thức Việt Nam muốn giành tự do hay chỉ xin tự do?

  Lý do thứ ba, hậu quả của di sản văn hóa trên nhưng có tầm quan trọng đặc biệt của nó, là chúng ta hoàn toàn thiếu văn hoá tổ chức. Tôi đã viết khá nhiều về đề tài này, ở đây chỉ xin nhấn mạnh một điều là không nên lầm văn hóa tổ chức với kỹ thuật tổ chức; người ta có thể biết tổ chức chu đáo một hội nghị, thậm chí điều khiển một cơ quan, mà vẫn không có văn hóa tổ chức. Một cách tóm lược, văn hóa tổ chức là toàn bộ những kiến thức, tập quán, phản xạ, cách suy nghĩ và hành động khiến ta một mặt hiểu tầm quan trọng của tổ chức và cảm thấy có nhu cầu sinh hoạt trong tổ chức, và mặt khác suy nghĩ và hành xử một cách phù hợp để giữ gìn và phát triển tổ chức. Trí thức Việt Nam hiếu học và có thể bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu một đề tài chuyên môn nhưng lại không chịu bỏ ra vài tháng để đọc vài cuốn sách cơ bản về tâm lý xã hội. Kết quả là họ không thấy có nhu cầu phải tham gia một tổ chức nào và nếu đã gia nhập một tổ chức thì thường thấy có rất nhiều lý do để rời bỏ tổ chức. Sự thiếu văn hóa tổ chức còn được trầm trọng hóa nơi trí thức trong nước vì một nguyên nhân khác, đó là sự kiện các tổ chức bị cấm đoán, ngoại trừ những tổ chức được coi là những công cụ của đảng cộng sản.

  Trí thức Việt Nam hình như chưa thấy được sự nghiêm trọng của sự thiếu vắng văn hóa tổ chức. Một câu hỏi: Lấy tiêu chuẩn nào để đánh giá mức độ văn minh và tiến hóa của một dân tộc? Ta có thể trả lời một cách quả quyết và dứt khoát: Đó là văn hoá tổ chức. Văn hóa tổ chức quyết định phẩm chất và triển vọng của các dân tộc. Việc đảng cộng sản cấm sinh hoạt tổ chức phải được coi là rất độc hại vì có tác dụng cột chân đất nước trong sự thấp kém. Phải coi đấu tranh cho quyền tự do kết hợp (nghĩa là thành lập hoặc tham gia các tổ chức) như là một trong những cuộc đấu tranh sống còn của đất nước.

Cũng cần ý thức rằng đối với các cá nhân sự thiếu vắng văn hoá tổ chức có hai hậu quả nghiêm trọng:

° Một là, vì thiếu văn hoá tổ chức chúng ta không có tổ chức, rồi vì không có tổ chức chúng ta cô đơn và bất lực, đến lượt nó cảm giác bất lực khiến chúng ta nhút nhát.

° Hai là, tổ chức – dĩ nhiên là tổ chức đúng nghĩa, do các thành viên tự nguyện lập ra để theo đuổi một mục đích chung, chứ không phải là tổ chức công cụ của chính quyền – là một môi trường sản xuất và sàng lọc ý kiến (1), sự thiếu vắng tổ chức khiến trí tuệ bị bế tắc và giới hạn.

   Quan trọng hơn hết, lý do thứ tư là sự ngộ nhận rất lớn về tiến trình thay đổi chế độ. Phần lớn trí thức Việt Nam cho rằng phương thức tốt nhất để thay đổi chế độ là hợp tác để dần dần cải thiện nó từ bên trong. Diễn nghĩa: không ra mặt phản kháng mà chỉ cố sống lương thiện, hành xử đúng và khéo léo gợi ý khi cơ hội cho phép. Phương thức này được ưa chuộng vì sự tiện nghi và an toàn của nó nhưng nó sai hoàn toàn. Nó không thay đổi được chế độ mà còn củng cố chế độ và triệt tiêu cả sự lương thiện lẫn ý muốn thay đổi, trong nhiều trường hợp nó chỉ là một ngụy biện cho thái độ phục tùng vụ lợi. Tiến trình thay đổi một chế độ cũng như một tổ chức, như lịch sử đã chứng minh và được trình bày đầy đủ trong mọi nghiên cứu về sinh hoạt tổ chức và đấu tranh chính trị, ngược hẳn với quan điểm này và có thể tóm lược như sau:

• Nhận thức về sự cần thiết phải thay đổi xuất hiện nơi một số người;

• Những người này liên kết với nhau và tự cô lập với phần còn lại để tranh đấu cho lập trường đổi mới. Họ đảm nhận vai trò thiểu số với những hậu quả của nó, như bị trù dập, thậm chí bị tiêu diệt.

• Họ dần dần mạnh lên, thuyết phục được hoặc khắc phục được phần còn lại và áp đặt sự thay đổi.

Liên kết với nhau và tự cô lập là điều kiện bắt buộc để có thể thành công của những người muốn thay đổi. Nếu không, nếu chấp nhận luật chơi hiện hành, họ sẽ bị hòa tan trong “thực tại” và ý chí thay đổi sẽ tiêu tan. Hơn thế nữa, có mọi triển vọng là chính họ cũng sẽ bị lưu manh hóa trong một bối cảnh xã hội bất lương. Đi với ma mặc áo giấy.

    Như để chứng minh rằng chính trị và đời sống chỉ là một, đây cũng là quá trình tiến hóa của mọi chủng loại. Lấy thí dụ tiến hóa từ vượn lên người; những con vượn đầu tiên nơi những biến đổi ban đầu xuất hiện đã sống biệt lập với những con vượn khác và tiếp tục tiến hóa để thành người, nếu không chúng đã bị tiêu hóa nhanh chóng trong cả khối lớn của chủng loại, và vượn vẫn là vượn chứ không thành người.

Hãy tạm dừng lại trong bốn nguyên nhân chính đó. Sự kéo dài của chế độ vô lý này, trong đó một đảng vừa thiếu trí tuệ vừa không lương thiện lại đã mất hết tính chính đáng đã cầm quyền một cách độc đoán quá lâu và còn ngang ngược khẳng định sẽ tiếp tục thống trị đất nước một cách độc đoán trong thời gian vô hạn định mà không gặp chống đối nào đáng kể, được nhiều người giải thích là vì dân trí ta còn kém. Như thế phải chăng hệ luận tự nhiên là tất cả những gì chúng ta có thể làm hiện nay chỉ là một cố gắng văn hóa nhằm nâng cao dân trí? Không gì sai hơn nhận định này. Hoa Kỳ và các nước Châu Âu đã thiết lập được dân chủ vào lúc dân trí của họ còn ở một mức độ rất thấp so với chúng ta hiện nay. Và họ không có PC, internet và điện thoại di động; chung quanh họ cũng chỉ có những chế độ quân chủ tuyệt đối. Và cả thế kỷ sau khi đã bước vào kỷ nguyên dân chủ tuyệt đại đa số vẫn không biết đọc, biết viết! Họ đã có dân chủ vì may mắn có được những trí thức đúng nghĩa, những trí thức có tư tưởng dân chủ và dám giành quyền lãnh đạo xã hội thay vì chấp nhận thân phận dụng cụ của kẻ cầm quyền. Như vậy không nên đổ lỗi cho dân trí Việt Nam thấp mà hãy lương thiện nhìn nhận là trí thức Việt Nam kém. Kém về hiểu biết, do chỉ học để lấy bằng cấp và đi làm chứ không đầu tư vào tư tưởng và chính trị. Các trí thức Việt Nam có thể chủ quan mà tưởng rằng họ hiểu biết về chính trị khi họ đã có bằng kỹ sư cơ khí hay tiến sĩ luật nhưng thực ra họ không biết. Và càng kém vì không dám. Có lẽ chính vì không dám mà họ không tìm hiểu phải đấu tranh chính trị như thế nào, rồi không biết.

   Trong mọi xã hội cần thay đổi người ta thường phân biệt những người không muốnvà những người không thể. Thảm kịch của Việt Nam là vấn đề không đặt ra như thế, đại đa số trí thức vừa không biết vừa không dám. Có bao nhiêu người dám chấp nhận mất thẻ đảng và những quyền lợi mà nó bao hàm? Và trong số những người dũng cảm này có bao nhiêu người biết đấu tranh đúng phương thức? Cũng không thể trốn tránh sau cái lý cớ “không làm chính trị”. Dấn thân chính trị trong hoàn cảnh đất nước hiện nay là một mệnh lệnh của lương tâm và lòng yêu nước. Chính trị không phải là tất cả, nhưng nếu chính quyền tồi tệ thì tất cả đều bế tắc.

   Các trí thức ưu tú trong hội nghị này tuyên bố: “Trách nhiệm của nhà nghiên cứu là nói trung thực, thẳng thắn, với tinh thần xây dựng, mong muốn Đảng mạnh lên, đất nước mạnh lên”. Tại sao lại cứ phải mong muốn “Đảng mạnh lên” dù Đảng đã chỉ là một đảng như mọi người và chính các vị cũng đã thấy? Tại sao “trách nhiệm của nhà nghiên cứu” lại kỳ cục như vậy? Có gì là “trung thực, thẳng thắn” trong thái độ này? Cùng lắm là tháí độ tôi trung!

Một trí thức không tham dự hội nghị, ông Lê Hiếu Đằng, một đảng viên cộng sản và một nhân vật cao cấp trong Mặt Trận Tổ Quốc, nhận định đúng đắn hơn:

“Lúc này hơn lúc nào hết, chúng ta phải đặt quyền lợi của đất nước, của dân tộc lên cao nhất, hơn mọi lợi ích riêng tư, phe nhóm”.

Người ta chỉ có thể đồng ý và ủng hộ lập trường này. Và tiếp theo là gì? Ông Lê Hiếu Đằng nhận định:

“Trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta không có gì phải sợ, tôi muốn nhắc lại điều tâm niệm này cho chính mình mà cũng là điều muốn nhắn gửi các đồng chí, đồng đội, bạn hữu của mình và tất cả những ai còn trăn trở với những vấn đề của đất nước, của dân tộc. Mà tại sao chúng ta phải sợ? Những người phải sợ là những người đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân. Chắc chắn họ sẽ bị nhân dân chối bỏ, bị lịch sử phủ nhận”.

  Càng đáng tán thành. Chỉ mong những người như ông Lê Hiếu Đằng quyết tâm tiến tới và đừng quên rằng đấu tranh chính trị bao giờ cũng phải là đấu tranh có tổ chức, nếu không chỉ là lãng mạn.

Không có gì phải sợ? Tôi e rằng ông Lê Hiếu Đằng hơi chủ quan hoặc quá lạc quan. Dĩ nhiên là tình hình không còn như trước, xã hội Việt Nam đã chín muồi cho một chuyển hóa dứt khoát về dân chủ và những người dân chủ, nhất là những người trong guồng máy đảng và nhà nước cộng sản, có thể tranh đấu cho dân chủ mà không phải chịu đựng những hy sinh quá lớn nếu tranh đấu một cách thông minh. Bằng cớ là các trí thức tham dự hội nghị đã có thể nói những điều họ đã nói và chắc sẽ không gặp khó khăn nào. Nhưng dầu sao cũng vẫn phải sẵn sàng chấp nhận một số thiệt thòi nếu đấu tranh thực sự, nghĩa là đấu tranh có tổ chức, điều mà đảng cộng sản còn cấm kỵ. Trở ngại và rủi ro có thực chứ không phải là hoàn toàn không có gì phải sợ. Vả lại chẳng có cuộc đấu tranh nào mà lại không đòi hỏi hy sinh. Nhưng chính vì những hy sinh này mà những người dám dấn thân đấu tranh cho dân chủ đáng được trân trọng.

Các trí thức tham dự hội nghị kết luận rằng các phát biểu của họ dù không được chấp nhận “nhưng ít ra cũng lưu vào văn bản, lưu lại hậu thế rằng năm 2010 có một số nhà kinh tế đã nói như vậy, để hậu thế biết rằng, hóa ra đất nước cũng còn những trí thức không đến nỗi dốt nát”.

  Ý muốn để lại một di chúc cho mai sau là một ý muốn cao cả mà người ta chỉ có thể kính trọng. Tuy nhiên có một cái gì vừa mập mờ vừa ai oán trong kết luận này khiến người ta không khỏi phân vân. Dốt nát là một khái niệm tương đối. Ai cũng dốt nát trên những điều mà mình không biết và nói chung chúng ta chỉ hiểu biết trên một số ít địa hạt, phần còn lại chúng ta đều dốt cả. Nhưng có một vấn đề mà mọi người trí thức đều phải quan tâm là tình hình chính trị của đất nước hiện nay. Ai cũng đồng ý là phải đấu tranh để thay đổi chế độ, và như thế cần có tư tưởng chính trị và cần biết phương pháp đấu tranh chính trị. Về điểm này chúng ta đã thực sự ra khỏi sự dốt nát chưa?

  Nghiêm trọng hơn là chúng có dám tranh đấu thay đổi chế độ không? Nếu dám thì dù không biết chúng ta cũng có thể học hỏi để biết. Chỉ sợ chúng ta không dám. Hội nghị muốn để lại cho hậu thế một di chúc rằng năm 2010 có những trí thức Việt Nam không dốt nát, nhưng giữa dốt nát và hèn nhát, ký ức nào tủi hổ hơn cho con cháu?

Nguồn: Thongluan.org
—————————————————————-

Ghi chú:

(1) Nguyễn Gia Kiểng, Tổ chức và sự hình thành của ý kiến, Thông Luận tháng 01/2006

 

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang : Phản Biện Bài Viết Cuả Ông TS Nguyễn Gia Kiểng
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com
Email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa của Việt tộc. Thắp sáng niềm tin Diên Hồng và nếp sống Văn Hiến hầu phục hồi nền "An Lạc & Tự Chủ" ngàn đời cuả Việt tộc.


Trở lên đầu trang

Trở Lại Trang Mặt