VÂN MỒNG LÀ ĐÂU!
Nguyễn Thiếu Dũng
Toàn
truyện Kiều chỉ độc có một từ “vân mồng”. Từ này
nằm trong đoạn Kim Trọng dò thăm tin tức Thúy Kiều được
Thúc Sinh cho biết nàng đã theo Từ Hải, nhưng sau
không rõ sự thể nàng ra thế nào:
“Đại quân đồn đóng cửa đông,
Về sau chẳng biết vân mồng làm sao”
Trước Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều cũng đã đưa vân mồng
vào tác phẩm “Cung oán ngân khúc”:
“Ai ngờ tiếng dế ran ri-rỉ,
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng
Vắng tanh nào thấy vân-mồng
Hơi thê-lương lạnh ngắt song phi-huỳnh”
Vân mồng không chỉ được giới quý tộc ưa dùng
mà trong văn chương dân dã cũng có mặt:
Chúa nghe tâu hết vân mồng,
Nhà yên, nước trị, hanh thông an nhàn
(Hoàng Trừu)
Vân mồng được xem như là một từ cổ, tần số xuất hiện của nó rất ít, thế nhưng những thập niên cuối thế kỷ XX, từ vân mồng lại xuất hiện một cách đình đám đầy bất ngờ khi nhà thơ Bùi Giáng dùng từ này làm bút hiệu cho bản dịch tiểu thuyết “Khung cửa hẹp” (La porte étroite, 1909) của André Gide (giải Nobel văn chương 1947), gây cho độc giả một cảm giác là lạ, một hạnh ngộ, một ngẫu nhĩ trùng lai phiêu hốt, hồn xưa hòa lẫn hiện đại, hoa hồng lung linh trên sắc xanh cỏ nội, chỉ có ở Bùi Giáng, rất riêng cho Bùi Giáng. Đã thế ông còn đưa vân mồng vào thơ:
“ Người đã bỏ
đường kia ở lại
Ðể đi vào đối diện hư không
Bờ thánh thót thu sau về vạn đại
Lời chào kia nức nở lạnh vân mồng”
(Lá Hoa Cồn)
.
“ Chốn nào mộng mị chiêm bao
Chốn này tỉnh táo tiêu tao vân mồng”
Đào Duy Anh giảng Vân mồng là tin tức. Lê
Mạnh Liêu trong “Thúy Kiều truyện tường chú”, Thiền
sư Thích Nhất Hạnh trong “Thả một bè lau” đều cho
vân mồng chỉ tin tức, manh mối do từ văn vọng chuyển âm qua.
Nếu nói vân mồng là tin tức thì chưa đủ,
Nguyễn Gia Thiều dùng vân mồng như một từ chỉ không
gian: thấy ( vắng tanh nào thấy vân mồng), tác phẩm
Hoàng Trừu dùng như một từ chỉ thời gian : nghe (
Chúa nghe tâu hết vân mồng). Ta có thể nghe
tin tức chứ không thể thấy, khi thấy là thấy tăm dạng. Vậy
vân mồng vừa chỉ tin tức vừa chỉ tăm dạng. Bùi
Giáng cũng vậy, có khi ông dùng vân
mồng theo nghĩa không gian (lạnh vân mồng) có khi
theo nghĩa thời gian (tiêu tao vân mồng).
Vân là mây còn mồng là sao? Vân
đã rõ là mây như vậy không thể hiểu
là do từ văn (nghe) chuyển âm qua, vậy mồng không
thể do vọng (thấy) biến âm được.
Ta có chữ mồng để gọi mười ngày đầu tháng mồng
một, mồng hai…mồng mười. Chữ mồng này cùng một dạng với
chữ mồng gà ở trên đầu gà, nghĩa là che ở
trên. Mồng có biến âm là mùng. Họ
Nùng có thể đọc là Nồng mà cũng đọc
là Nông. Vậy mùng cũng có thể đọc là
mồng là mông. Mồng mười hay mùng mười, mùng
gà hay mồng gà cũng nghĩa như nhau. Mông cũng
có nghĩa là che chắn. Theo Khang Hy tự điển, chữ vụ 霧
là mù (sương) theo “Tập vận” đọc là mô bồng
thiết = mồng (《集韻》謨蓬切,音蒙。Tập vận, mô bồng thiết, âm
mông). Như vậy vân mồng chính là vân
vụ, hai chữ này chỉ mây mù che khuất không
thấy tăm dạng. Chữ vụ 霧, âm Mân Nam đọc là [mu 6] =
mù, Quảng vận (âm trung cổ) đọc là [mung]
=mùng. Người Khách gia (người Hẹ) có nơi đọc
là [ wu5] có nơi đọc là [mu5].Thành ngữ
có câu “vân vụ mê mông” chỉ mây
mù che lấp khiến cảnh vật mơ hồ không thấy tăm dạng.
Nói cho cùng “vân mồng” là từ cổ, từ chữ
vân vụ mà ra chứ không do “văn vọng” chuyển qua.
Nó có nghĩa về không gian chỉ mây mù,
khi có mây mù thì cảnh vật thường bị che
khuất không trông thấy hình dạng, khi nhớ về ai
mà không gặp được ta thường dùng từ ngữ “chẳng thấy
vân mồng” để chỉ sự biệt tăm, biệt dạng của họ như bóng
chim tăm cá biết đâu mà tìm.
Cùng là hơi nước bốc lên gặp lạnh đông lại
thành từng đám trên không trung, ở xa
thì gọi là vân, ở gần gọi là vụ. Vân
là mây, vụ là mù (sa mù, mù
sương).
Nói vân vụ thì phải giải nghĩa mới hiểu được, nhưng
nói mây mù thì ai cũng hiểu.
Ta còn nhiều
ví dụ khác:
Mong > vọng (Quảng Châu, Mân Nam), Quảng vận = müang
Múa > vũ (quảng châu = [mou5] )
Mây > vân
Mưa > vũ
Mùa > vụ
Mùi > vị
Màn > vi
Muộn > vãn
Muỗi > văn
Muôn > vạn
Những ví dụ này cho thấy có liên hệ giữa m
và v, m -> v
Thông thường thì vụ được xếp vào tiếng Hán
Việt, mù xếp vào tiếng thuần Việt, nhưng thực sự
thì mù lại là âm cổ của vụ.
Theo lối nghĩ “ nhà trường” tiếng Việt có đến 70% tiếng
Hán Việt, tiếng gì cũng cho từ Hán Việt mà
ra. Đây là lối suy nghĩ sai lầm phản lại tiến trình
lịch sử. Chính tiếng gọi là thuần Việt có trước
rồi mới sinh ra tiếng gọi là Hán Việt.
Thời Tiền sử chủng Việt ở khắp nơi trên lãnh thổ
Đông Á, từ Đông Nam Á cho đến tận Đông
Bắc Á, người Hoa đến sau đánh tan dân Bách
Việt ra bốn phía họ lọt vào giữa chiếm giữ Trung
Nguyên, để cai trị số dân Bách Việt quá
đông, lãnh thổ quá rộng họ phải học tiếng Việt, thu
nhận văn hóa Việt. Họ bị dân Việt đồng hóa,
mãi đến thời Đường Tống tiếng Việt vẫn là chủ thể, cho
đến khi quân Nguyên tràn vào rồi ảnh hưởng
của nhà Thanh dai dẳng tiếng Việt dần dần biến đổi thành
tiếng Hoa như là một phương ngữ của tiếng Việt.
Hiện nay ở Trung Quốc người ta đã phục nguyên âm đọc
thơ Đường theo giọng Trung cổ, giọng đó hoàn toàn
giống với giọng đọc của người Việt Nam ngày nay mà
khác với giọng Bắc kinh bây giờ.
Thử nghe bài thơ “Tỉnh dạ tư” của Lý Bạch trên trang Youtube.com:
Tỉnh dạ tư:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương,
Cử đầu mong (vọng) minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương.
(Cách phiên âm theo chữ la tinh của người Hoa
khác người Việt nhưng đọc lên thì rất giống nhau
nếu có khác thì cũng chỉ là giọng bắc
khác giọng nam, hay giọng Bắc khác giọng Huế, giọng Quảng
thôi)
李白 靜夜思 中古漢語朗讀(Lý Bạch Tỉnh Dạ Tư Trung CỔ Hán ngữ lãng đọc)
牀前明月光 疑是地上霜
舉頭望明月 低頭思故鄉
zriang zen mieng ngyat kuang,
ngi zjex diih zjangx sriang.
kiox du myangh mieng ngyat,
te du si koh hiang.
(http://www.youtube.com/watch?v=4xI_cJDIgr4&feature=related)
I.
“Đầu giường tắm ánh trăng
Đất trời ngờ đẩm sương
Ngẫng đầu mong trăng sáng
Cúi đầu nhớ cố hương”
II.
“Đầu giường loang loáng ánh trăng
Đất trời cứ ngỡ sương giăng dầm dề
Ngẫng đầu mong bóng trăng về,
Cúi đầu thương nhớ chốn quê xa vời”.
(Bản dịch của Nguyễn Thiếu Dũng)
Để ý có
một chỗ rất lý thú là chữ ta đọc theo Hán
Việt là vọng thì thời Trung cổ đọc là
mong(myangh). Hiện nay tiếng Quảng Châu, Mân Nam vẫn đọc
là mong. Lúc đầu tôi dịch vọng là
trông, nhưng suy lại thì chữ này không phải
dịch mà để nguyên như cách đọc thời trung cổ
là mong lại chính xác hơn, ở trên trăng như
sương, mờ mờ mịt mịt, ở dưới mong trăng sáng để thấy rõ
chốn quê mơ về (mong/vọng minh nguyệt, mong/vọng, tư cố hương).
Vậy nếu nói tiếng Hán Việt vọng cho ra tiếng Việt
là mong có phải là sai không? Chữ này
dân Bách Việt đều đọc là mong (Việt Nam, Quảng
Châu, Mân Nam), âm này có trước
âm vọng nghĩa là âm Việt có trước âm
Hán Việt.
Tại sao có hiện tượng này? Âm Hán Việt cũng
chỉ là âm Việt, tiếng mà ta nghe và hiểu
liền được gọi là âm thuần Việt, tiếng này
đúng ra phải gọi là tiếng dân dã (hay
bình dân) còn tiếng Hán Việt chỉ là
tiếng Việt cuả tầng lớp thượng lưu, quí tộc, tầng lớp cai trị
chỉ nên gọi là tiếng quan phương (hay bác học/
thượng lưu), không phải đợi đến đời Đường ta mới học được tiếng
này, mà cho đến đời Đường trên khắp lục địa Trung
Hoa (bây giờ) người ta vẫn nói tiếng Việt.
Trong khi khảo sát về âm đọc của bản Cao thượng ngọc
hoàng bổn hạnh tập kinh âm thích tìm được ở
Linh Tiêu Quán, xã Đức Thượng, huyện Hoài
Đức, tỉnh Hà Sơn Bình, Nguyễn Tài Cẩn đã
phát hiện:
a) nếu đọc bản âm thích này theo hệ thống ngữ
âm ở Quảng vận thì sẽ được 93 ô đồng âm.
b) Nếu đọc theo cách đọc âm Hán Việt hiện nay
thì sẽ được 110 ô đồng âm
c) Nếu đọc theo âm Trung Nguyên âm vận(TNAV)
thì sẽ có 160 ô đồng âm
d) Nếu đọc theo âm Bạch thoại hiện nay thì sẽ có
173 ô đồng âm.
Rồi kết luận “ Nên nhớ rằng bản âm thích của
chúng ta là một bản chủ yếu dùng phương
pháp cho chữ đồng âm để giải thích cách đọc
các chữ khó thì chúng ta sẽ thấy rằng những
con số trên đây rất có ý nghĩa, chúng
cho ta thấy rằng bản âm thích này dạy một
cách đọc không phải theo âm Hán Việt đầu thời
Lê Sơ mà dạy theo một cách đọc của người Hán
ở Trung Quốc. Hơn thế nữa, vì khắc in vào khoảng
1434-1443 mà lại có xu thế gần Bạch Thoại hơn TNAV, vậy
bản âm thích này phải dạy một cách đọc của
người Hán vào thời kỳ gần nhất với lúc khắc in:
tiếng Hán cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV” (Nguồn gốc và
quá trình hình thành cách đọc
Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, 1979, tr79).
Cách khảo sát của tác giả rất công phu,
nghiêm túc và khoa học nhưng kết luận lại nghịch
đảo chỉ vì ông quan niệm người Việt học tiếng Hán
Việt đột xuất từ đời Đường khi bị Bắc thuộc mà không hề
biết đến người Việt đã làm chủ Trung Nguyên từ mấy
ngàn năm trước tiếng Việt được người Hoa sử dụng cho đến khi
người Mông Cổ tràn vào mới bắt đầu tách
biệt. Cả đến văn tự được gọi là Hán tự cũng đã bị
gọi sai, văn tự đó chính là văn tự của người Việt,
do người Việt sáng chế bị cưỡng bức gọi lệch đi.
Làm sao mà người Việt khi bị Bắc thuộc học được tiếng
Hán Việt, đến khi độc lập (thế kỷ X) thì tách xa
hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một
cách đọc riêng biệt của người Việt (sdd, tr.15) mà
lại có xu thế gần Bạch Thoại hiện nay nếu không phải
là do tiếng Việt là nền tảng sinh ra tiếng Hán
thì làm thế nào hiện tượng này xảy ra.
Chữ Hán chính là chữ Việt, do người Việt
sáng chế, cách đọc cũng đọc theo tiếng Việt nên
đương nhiên tiền nhân chúng ta cứ ung dung mà
dùng, mà nói , mà viết sách. Những
di sản đó bị người Hoa tung hỏa mù thu tóm, cất
dấu thì còn biết vân mồng là đâu. Hỏi
sách vở của ông cha ta ở đâu sao không thấy
thì ở trong khối bị gọi sai là chữ Hán chứ ở
đâu. Nếu người Hoa có chữ, có tiếng riêng,
có nền văn minh khả thủ thì tại sao những hoàng đế
khai sinh họ lại mang cấu trúc Việt :Thần nông, đế
Nghiêu, đế Thuấn…, tên đất của họ cũng thế: Thượng Hải thay
vì Hải Thượng, Sơn Đông thay vì Đông Sơn,
Giang Tả thay vì Tả Giang …cho đến kinh điển của họ cũng
là kinh điển của người Việt : Kinh Dịch, kinh Thi …, mà
đến cả người mở đầu trang sử văn học của họ cũng là người Việt:
Khuất Nguyên với Sở Từ, thậm chí đến ông tổ triết
học cũng là người Việt: Lão Tử với Đạo Đức Kinh (đều
là người Bách Việt miền Hoa Nam, Trung Nguyên chưa
có người, đấy là không muốn kể Khổng Tử người
có tổ tiên là Việt nhưng lại trở giọng “Ngô
tùng Chu”, họ là người Việt, tác phẩm của họ đương
nhiên phải viết bằng chữ Việt), những triều đại đầu tiên
của chính sử Trung Hoa cũng là triều đại của Việt,
nhà Hạ từ Đại Việt lên (tên gọi vùng
Ngô Việt), nhà Thương từ biển vào (Đông Di,
mang theo con sò làm quốc hiệu) là hai triều đại
mà vua cuối đời bị dân nguyền rủa bằng tiếng tục của người
Việt: vua Kiệt (vua cặc), vua Trụ (vua đ.), các nền văn
hóa khảo cổ Long Sơn, Ngưỡng Thiều, Lương Chữ…cũng là
Việt thôi.
Nguyễn Thiếu Dũng
Ghi chú:
Trong bài “Đế Vương và Trung Thiên Đồ” tôi
có ghi sai “giả định của Quách Mạt Nhược: Chữ Hán
có nguồn gốc từ Kinh Dịch” đúng ra là “ giả định
của Phạm Văn Lan: chữ Hán có nguồn gốc từ Kinh Dịch”
Quách Mạt Nhược thì ngược lại chủ trương Chữ Hán
ảnh hưởng đến cách cấu tạo quẻ Dịch. Xin sửa lại cho
đúng. Nên nhớ Kinh Dịch là sản phẩm của người Việt,
nói chữ Hán bắt nguồn từ Kinh Dịch chỉ là để che
đậy sự thật Chữ Hán là chữ của người Việt. NTD