Năm Thứ 4888

www.vietnamvanhien.org
www.vietnamvanhien.net









Trang Tham Luận
 về

HIẾN  PHÁP



Đề Mục

1- Hiến Pháp cuả Hoa Kỳ
2- Hiến Pháp cuả Việt Nam Cộng Hoà
3- Hiến Pháp cuả Việt Nam Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghiả
4- Nhận Xét Tổng Quát về Hiến Pháp CHXHCNVN năm 1992
5- Dự Thảo Hiến Pháp (trên quan điểm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên)
6- Dự Thảo Hiến Pháp Văn Hiến.
7- Lòng Yêu Nước: Điều Kiện Tiên Quyết Cho Tu Chính Hiến Pháp 1992 (trang 2)
8- Hiến Pháp 1946 Vẫn còn nguyên nhưng thiếu sót (trang2)








HIẾN PHÁP CỦA  HOA KỲ


    Toàn văn Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sau đây phản ánh câu chữ và cách sử dụng nguyên bản. Các dấu ngoặc vuông [] thể hiện những phần đã bị thay đổi hoặc bị thay thế bởi các sửa đổi. Các đoạn thêm vào có tiêu đề “Chú thích”, không phải là nội dung của Hiến pháp. Các đoạn này giải thích nghĩa của một số câu, hay mô tả việc áp dụng thực tiễn của một số đoạn nào đó.

Lời mở đầu

Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.

Ðiều I, Khoản 1

NGÀNH LẬP PHÁP

Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được trao cho Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện.

    CHÚ THÍCH:
    Ba điều đầu tiên của Hiến pháp phân chia quyền của Chính phủ Hoa Kỳ giữa ba ngành riêng biệt: (1) ngành lập pháp, đại diện bởi Quốc hội; (2) ngành hành pháp, đại diện bởi Tổng thống; (3) và ngành tư pháp, đại diện bởi Tòa án Tối cao. Sự phân chia theo hiến pháp này, tức là sự phân chia quyền lực, là nhằm tránh làm cho bất kỳ ngành nào của chính phủ trở nên quá mạnh. Ngoài ra, Hiến pháp thiết lập sự kiểm soát và cân bằng thông qua cung cấp các phương tiện để mỗi ngành được yêu cầu phải phối hợp với các ngành khác nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Ví dụ, Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán liên bang nhưng Thượng viện phải khẳng định phê chuẩn họ.

    Quốc hội hai viện hay lưỡng viện là một trong những thỏa hiệp quan trọng nhất của Đại hội Lập hiến. Các bang nhỏ tại Đại hội đã ủng hộ Kế hoạch New Jersey, theo đó mỗi bang sẽ có số đại diện bằng nhau. Các bang lớn ủng hộ Kế hoạch Virginia với số đại diện tùy theo số dân. Thỏa hiệp là mỗi viện được chọn lựa ra theo mỗi kế hoạch.

Ðiều I, Khoản 2

HẠ VIỆN

(1) Hạ viện sẽ gồm có các thành viên cứ 2 năm một lần được dân chúng ở các bang bầu ra. Ðại cử tri ở mỗi bang phải có phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.

    CHÚ THÍCH:
    Thành viên của Hạ viện được bầu theo nhiệm kỳ hai năm. Nếu một người đủ tư cách bầu cho “cơ quan có số đông nhất” của cơ quan lập pháp bang của mình, thì người đó cũng đủ tư cách bỏ phiếu bầu nghị sỹ Quốc hội. (Tất cả các bang trừ Nebraska đều có cơ quan lập pháp bang gồm hai viện). Vấn đề ai có thể bỏ phiếu bầu các nhà lập pháp bang là do bang quyết định và phải theo các quy định hạn chế của Hiến pháp và luật liên bang, ví dụ như Đạo luật về Quyền bầu cử năm 1965. Các điều bổ sung sửa đổi thứ 15, 19, 24 và 26 cấm các bang từ chối hay hạn chế quyền bỏ phiếu của công dân với lý do chủng tộc, giới tính, hay không trả thuế; hay tuổi tác nếu người đó ít nhất là 18 tuổi.

(2) Những người có thể được bầu làm hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên và phải là công dân của Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.

    CHÚ THÍCH:
    Mỗi bang tự quyết định các yêu cầu về cư trú hợp pháp, theo các quy định hạn chế của Hiến pháp. Hầu hết các Hạ Nghị sỹ không chỉ sống trong bang mà còn ở các quận nơi họ được chọn.

(3) Hạ nghị sĩ và các loại thuế trực thu sẽ được phân bổ theo các bang [mà có thể tính gộp vào trong Liên bang tùy theo số lượng tương ứng  được xác định bằng cách tính tổng số gồm những người tự do, kể cả những người làm việc theo thời hạn và 3/5 số những người còn lại, không tính những người da đỏ vốn không nộp thuế] . Công việc thống kê thực sự sẽ tiến hành trong vòng ba năm sau cuộc họp đầu tiên của Quốc hội Hoa Kỳ và 10 năm một lần tiến hành theo luật định. Mỗi hạ nghị sĩ sẽ đại diện cho không quá 30000 người. Nhưng mỗi bang sẽ có ít nhất một hạ nghị sĩ. Và trước khi việc thống kê và điều tra dân số được tiến hành, thì bang New Hampshire sẽ được quyền bầu ba đại biểu, bang Massachusetts được bầu tám đại biểu, bang đảo Rhodes và Providence Plantations được bầu một đại biểu, bang Connecticut được bầu năm đại biểu, bang New York được bầu sáu đại biểu, bang New Jersey bốn đại biểu, bang Pennsynvania tám đại biểu, bang Delaware một đại biểu, bang Maryland sáu đại biểu, bang Virginia mười đại biểu, bang Bắc Carolina năm đại biểu, bang Nam Carolina năm đại biểu và bang Georgia ba đại biểu.

    CHÚ THÍCH:
    Tác động của đoạn này đã bị thay đổi nhiều bởi các điều bổ sung sửa đổi và những điều kiện mới. Hiện nay nó chỉ quy định ba điều: (1) số Hạ Nghị sỹ của mỗi bang phải dựa vào số dân bang đó; (2) Quốc hội phải biết rằng dân số Hoa Kỳ được điều tra 10 năm một lần; (3) và mỗi bang có ít nhất một Hạ Nghị sỹ.

    Những từ “và khoản thuế trực thu” có nghĩa là thuế bầu cử. Điều bổ sung sửa đổi thứ 16 cho Quốc hội quyền đánh thuế người dân tùy theo thu nhập của người đó, thay vì theo số dân của bang nơi họ đang sống.

    Khi nói đến “ba phần năm tất cả số những người khác”, “những người khác” có nghĩa là nô lệ. Vì hiện không còn nô lệ nữa nên nội dung này của đoạn không còn mang ý nghĩa nào. Yêu cầu nên có không quá một Hạ Nghị sỹ trên 30.000 dân hiện không có hiệu lực thực tế nữa. Năm 1929, Quốc hội đã cố định tổng số Hạ Nghị sỹ là 435 và con số này vẫn giữ nguyên kể từ đó.

(4) Khi khuyết ghế dân biểu ở bất cứ một bang nào thì chính quyền ở đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào những chỗ trống đó.

    CHÚ THÍCH:
    Nếu có một ghế bị khuyết trong Hạ viện, thống đốc bang phải tổ chức một cuộc bầu cử đặc biệt để bổ sung vị trí này. Tuy nhiên, nếu cuộc bầu cử theo kế hoạch định kỳ kế tiếp sắp được tổ chức thì thống đốc có thể để ghế này vẫn khuyết thay vì tổ chức một cuộc bầu cử đặc biệt.

(5) Hạ viện sẽ bầu ra Chủ tịch và các quan chức khác của Viện và họ là những người duy nhất có quyền kết tội các quan chức.

    CHÚ THÍCH:
    Hạ viện chọn ra một viên chức làm Chủ tịch Hạ viện để điều khiển các cuộc họp. Riêng Hạ viện có quyền buộc tội một quan chức liên bang. Hạ viện đã luận tội 16 quan chức liên bang, trong đó có hai tổng thống là Andrew Johnson năm 1868 và William Jefferson Clinton năm 1998. Thượng viện sẽ xử các vụ luận tội này.

Ðiều I, Khoản 3

THƯỢNG VIỆN

(1) Thượng viện Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang [do cơ quan lập pháp ở đó bầu ra] với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một phiếu biểu quyết.

    CHÚ THÍCH:
    Đầu tiên, Hiến pháp quy định rằng cơ quan lập pháp mỗi bang nên chọn hai Thượng Nghị sỹ của bang đó. Điều bổ sung sửa đổi thứ 17 thay đổi điều này bằng cách cho phép cử tri mỗi bang được chọn ra Thượng Nghị sỹ của mình.

(2) Ngay sau khi Thượng viện được bầu ra và nhóm họp lần đầu, các thượng nghị sĩ sẽ được phân chia sao cho đồng đều thành ba cấp. Thượng nghị sĩ cấp 1 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ, thượng nghị sĩ cấp 2 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ tư, thượng nghị sĩ cấp 3 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ 6, sao cho sau mỗi hai năm có thể bầu lại một phần ba thượng nghĩ sĩ. [Và khi có chỗ trống do từ chức hoặc nguyên nhân nào khác trong thời gian ngừng họp của cơ quan lập pháp ở bất cứ bang nào, thì chính quyền ở đó có thể tạm thời bổ nhiệm cho đến kỳ họp tiếp đó của cơ quan lập pháp và khi đó sẽ bổ sung vào chỗ trống].

    CHÚ THÍCH:
    Các thượng nghị sỹ được bầu theo nhiệm kỳ sáu năm. Hai năm một lần, một phần ba số Thượng Nghị sỹ được bầu lại và hai phần ba lưu nhiệm. Sự sắp xếp này làm cho Thượng viện trở thành cơ quan mang tính liên tục, không giống như Hạ viện khi toàn bộ thành viên được bầu hai năm một lần. Điều bổ sung sửa đổi thứ 17 thay đổi phương thức lấp ghế khuyết. Thống đốc chọn ra một Thượng Nghị sỹ cho đến khi cử tri bầu ra một người mới.

(3) Những người được bầu làm thượng nghị sĩ phải ở độ tuổi 30 trở lên và có 9 năm là công dân Hoa Kỳ, đồng thời khi được bầu phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.

    CHÚ THÍCH:
    Năm 1806, Henry Clay của bang Kentucky được bổ nhiệm lấp vào một ghế chưa hết nhiệm kỳ trong Thượng viện. Ông mới chỉ 29 tuổi, trẻ hơn một vài tháng so với độ tuổi tối thiểu, nhưng không ai phản đối việc bổ nhiệm này. Năm 1793, Albert Gallatin được bầu vào Thượng viện từ bang Pennsylvania. Ông bị cấm nhậm chức vì chưa đủ chín năm là công dân Hoa Kỳ.

(4) Phó Tổng thống Hoa Kỳ sẽ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu chống ngang nhau khi biểu quyết.

    CHÚ THÍCH:
    Phó Tổng thống làm Chủ tịch Thượng viện. Ông này chỉ bỏ phiếu khi tỷ lệ phiếu là ngang bằng nhau. Quyền phá vỡ thế cân bằng của Phó Tổng thống có thể rất quan trọng. Ví dụ năm 1789, Phó Tổng thống John Adams bỏ lá phiếu quyết định Tổng thống có thể cách chức các thành viên Nội các mà không cần Thượng viện phê chuẩn.

(5) Thượng viện lựa chọn những quan chức khác và cả Chủ tịch Lâm thời khi Phó Tổng thống Hoa Kỳ vắng mặt hoặc khi Phó Tổng thống đảm nhận chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ.

    CHÚ THÍCH:
    Thượng viện bầu ra một quan chức gọi là Chủ tịch Lâm thời để chủ trì các cuộc họp khi Phó Tổng thống vắng mặt.

(6) Thượng viện là nơi duy nhất có quyền xét xử tất cả các vụ bị kết tội. Khi nhóm họp để xét xử, thượng nghị sĩ sẽ phải tuyên thệ hoặc thề. Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ chủ tọa phiên tòa. Không một ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sĩ có mặt.

    CHÚ THÍCH:
    Điều khoản quy định Chánh án, chứ không phải là Phó Tổng thống, sẽ đứng đầu Thượng viện khi Tổng thống bị xét xử có lẽ xuất phát từ thực tế là việc Thượng viện kết tội Tổng thống sẽ làm cho Phó Tổng thống trở thành Tổng thống thay thế. Cụm từ “tuyên thệ hay xác nhận” có nghĩa là các Thượng Nghị sỹ phải tuyên thệ khi xử các vụ luận tội, cũng như các thành viên ban hội thẩm trong phiên tòa bình thường.

(7) Mức án áp dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chủng quốc, tuy vậy họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định.

    CHÚ THÍCH:
    Nếu một người bị luận tội có tội thật, người đó có thể bị cách chức và cấm không được giữ các chức vụ liên bang nữa. Thượng viện không thể áp đặt bất kỳ hình phạt nào khác, nhưng người đó cũng có thể bị xử trong các phiên tòa bình thường. Thượng viện đã kết tội bảy người, tất cả họ đều là thẩm phán. Tất cả những người này đã bị cách chức, nhưng chỉ có hai trong số này không được giữ bất kỳ chức vụ liên bang nào.

Ðiều I, Khoản 4

TỔ CHỨC CỦA QUỐC HỘI

(1) Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành bầu cử thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ do cơ quan lập pháp của mỗi bang qui định. Nhưng vào bất cứ lúc nào Quốc hội cũng có thể dựa theo luật đặt ra hoặc thay đổi các qui định đó, [chỉ trừ qui định về địa điểm bầu thượng nghị sĩ].

    CHÚ THÍCH:
    Chừng nào các cơ quan lập pháp bang còn bầu ra Thượng Nghị sỹ thì các cơ quan này sẽ không để cho Quốc hội quyết định nơi bầu cử. Điều này có thể sẽ cho Quốc hội quyền ra lệnh cho từng bang phải đặt thủ phủ ở đâu. Những từ “ngoại trừ những nơi chọn Thượng Nghị sỹ” bị gạt bỏ bởi Điều bổ sung sửa đổi thứ 17.

(2) Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần [và phiên họp này sẽ vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng 12], trừ trường hợp Quốc hội có thể qui định một ngày khác dựa theo luật.

    CHÚ THÍCH:
    Ở châu Âu, các vị vua có thể ngăn không cho quốc hội họp, đôi khi trong nhiều năm liền, đơn giản là bằng cách không triệu tập họ lại. Đây là lý do để yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ phải họp ít nhất một lần một năm. Điều bổ sung sửa đổi thứ 20 đã thay đổi ngày khai mạc phiên họp sang ngày 3 tháng 1, trừ khi Quốc hội định ra một ngày khác theo luật.

Ðiều I, Khoản 5

(1) Mỗi viện sẽ có thẩm quyền về cuộc bầu cử của mình, về kết quả của cuộc bầu cử đó và về việc đánh giá tiêu chuẩn của các nghị sĩ. Ða số trong mỗi Viện sẽ tổ chức một nhóm đại biểu theo qui định để triển khai công việc, còn thiểu số có quyền trì hoãn phiên họp và có thể được trao quyền buộc những thành viên vắng mặt phải tham gia công việc theo đúng thể thức và phải nhận một hình thức kỷ luật theo qui chế của mỗi Viện.

    CHÚ THÍCH:
    Mỗi viện xác định các thành viên của mình có đủ tư cách phù hợp với Hiến pháp và có được bầu ra theo đúng quy cách hay không. Khi xem xét tiêu chuẩn của các thành viên, mỗi viện có thể chỉ xem xét tuổi tác, tư cách công dân và các yêu cầu về nơi cư trú được nêu trong Hiến pháp. Tuy nhiên khi kiến nghị sa thải một thành viên, mỗi viện trong Quốc hội có thể xem xét các vấn đề khác có liên quan đến khả năng làm việc của thành viên đó. Thảo luận và tranh luận có thể tiếp tục về việc có đủ số đại biểu cần thiết hay không, chừng nào còn cần đủ số đại biểu để bỏ phiếu cuối cùng.

(2) Mỗi Viện có thể quy định những qui chế của mình, thi hành kỷ luật những thành viên có hành vi sai phạm và khai trừ một thành viên với sự nhất trí của hai phần ba số thành viên.

    CHÚ THÍCH:
    Mỗi viện đề ra quy định riêng của mình. Ví dụ, Hạ viện đề ra giới hạn thời gian chặt chẽ đối với tranh luận để đẩy nhanh công việc. Chấm dứt tranh luận ở Thượng viện thì khó hơn nhiều. Theo quy định của Thượng viện, một Thượng Nghị sỹ có thể phát biểu bao lâu tùy ý trừ khi Thượng viện bỏ phiếu kết thúc, tức là kiến nghị chấm dứt tranh luận. Đối với hầu hết các vấn đề, việc kết thúc cần có phiếu thuận của 60 thượng nghị sỹ, hay ba phần năm tổng số thượng nghị sỹ. Mỗi viện có thể cách chức một thành viên của mình bằng hai phần ba số phiếu.

(3) Mỗi Viện ấn hành một tờ nội san về công việc của mình và thông báo theo định kỳ các công việc đó trên tờ nội san, trừ những việc mà Viện cho là cần phải giữ bí mật. Những phiếu thuận và phiếu chống của các thành viên thuộc hai Viện về mọi vấn đề sẽ được công bố trên nội san theo yêu cầu của một phần năm các thành viên có mặt.

    CHÚ THÍCH:
    Biên bản Hạ viện và Biên bản Thượng viện được xuất bản cuối mỗi kỳ họp Quốc hội. Trong đó có tất cả các dự luật và nghị quyết được xem xét trong kỳ họp, cũng như mọi cuộc bỏ phiếu. Tất cả các thông điệp của Tổng thống gửi Quốc hội cũng được đưa vào đây.

    Điều quan trọng hơn là Hồ sơ Quốc hội được xuất bản hàng ngày và đăng tải nguyên văn các cuộc tranh luận.

(4) Trong thời gian khóa họp của Quốc hội, nếu không được sự đồng ý của Viện kia, thì không một Viện nào có thể nghỉ họp quá ba ngày hoặc chuyển sang địa điểm khác với địa điểm mà hai Viện đã quyết định.

Ðiều I, Khoản 6

(1) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ được nhận một khoản trợ cấp cho công việc của mình do luật định và được Ngân khố của Hợp chủng quốc thanh toán. Trong mọi trường hợp, trừ khi có tội phản quốc, trọng tội và tội vi phạm nền an ninh, họ được hưởng đặc quyền không bị bắt giam trong thời gian tham dự khóa họp của Viện, trong khi tới cuộc họp và trở về nhà từ cuộc họp. Ðối với những lời phát biểu và tranh luận của họ trong cả hai Viện này, họ có quyền không bị chất vấn ở những nơi khác.

    CHÚ THÍCH:

    Đặc quyền miễn trừ (không bị bắt giữ) khi đi họp quốc hội nay hầu như không còn ý nghĩa gì. Thành viên Quốc hội, cũng như bất kỳ ai khác, có thể bị bắt giữ khi vi phạm luật pháp. Họ có thể bị xét xử, kết tội và đi tù.

    Sự miễn trừ của quốc hội đối với các cáo buộc bôi nhọ và vu khống vẫn rất quan trọng. Bôi nhọ là một tuyên bố bằng văn bản sai sự thật nhằm phá hoại thanh danh của một người. Vu khống là một phát ngôn cũng nhằm mục đích như vậy. Miễn trừ theo điều khoản phát ngôn và tranh luận có nghĩa là thành viên Quốc hội có thể nói bất cứ gì theo ý mình về công việc của quốc hội mà không sợ bị kiện. Quyền miễn trừ này mở rộng ra bất cứ lời phát ngôn nào của thành viên trong các cuộc tranh luận, trong báo cáo chính thức hay khi đang bỏ phiếu.

(2) Trong thời gian được bầu làm thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hoa Kỳ. Trong thời gian đó tiền lương của họ sẽ không bị giảm và không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội.

    CHÚ THÍCH:
    Những điều khoản này ngăn không cho các thành viên Quốc hội tạo ra các công việc mà có thể họ sẽ được bổ nhiệm sau này, hay khi đang phục vụ trong Quốc hội thì không được tăng lương của những công việc mà họ hy vọng sẽ đảm nhận trong tương lai, và không được giữ chức vụ khác trong các ngành khác của chính phủ.

    Năm 1909, Thượng Nghị sỹ Philander C. Knox rút khỏi Thượng viện để trở thành Ngoại trưởng. Nhưng lương của Ngoại trưởng đã được tăng khi Knox còn làm Thượng Nghị sỹ. Để ông Knox chấp nhận chức vụ mới, Quốc hội đã thôi không tăng lương trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ của ông Knox.

Ðiều I, Khoản 7

(1) Tất cả dự luật về tích lũy tổng thu nhập sẽ do Hạ viện đề xuất, nhưng Thượng viện có quyền đề nghị hoặc chấp thuận những điều sửa đổi trong các dự luật này cũng như đối với những dự luật khác.

    CHÚ THÍCH:
    Các dự luật thuế phải xuất phát từ Hạ viện. Truyền thống luật thuế xuất phát từ Hạ viện của cơ quan lập pháp có từ nước Anh. Ở Anh Quốc, Hạ viện phản ánh chính xác hơn mong muốn của người dân vì người dân bầu ra các thành viên. Họ không bầu ra các Thượng Nghị sỹ. Ở Mỹ, kể từ khi thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 17, quy định này không còn ý nghĩa vì người dân bầu ra cả Thượng Nghị sỹ và Hạ Nghị sỹ. Ngoài ra, Thượng viện có thể sửa đổi một dự luật thuế đến mức trên thực tế có thể soạn thảo mới lại toàn bộ.

(2) Mỗi dự luật đã được thông qua tại Hạ viện và Thượng viện trước khi trở thành luật đều phải đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ. Nếu tán thành, Tổng thống sẽ ký nhận, nếu không Tổng thống sẽ trả lại Viện đưa ra dự luật đó cùng với ý kiến không tán thành. Viện này sẽ thông báo rộng rãi ý kiến không tán thành trong nội san và tiến hành xem xét lại dự luật. Nếu sau khi xem xét lại và hai phần ba thành viên của Viện đó đồng ý thông qua dự luật, thì nó sẽ được gửi cho Viện kia, kèm theo ý kiến không tán thành. Và Viện đó cũng sẽ xem xét. Nếu được hai phần ba thành viên của Viện đó phê chuẩn, thì nó sẽ trở thành một đạo luật. Nhưng trong các trường hợp này, phiếu bầu của cả hai Viện đều phải ghi rõ tán thành hay không tán thành. Tên của những người tán thành và không tán thành dự luật sẽ được đưa vào nội san của mỗi Viện. Những dự luật mà Tổng thống không gửi trả lại trong vòng 10 ngày (không kể chủ nhật) sau khi đệ trình lên sẽ trở thành đạo luật, coi như Tổng thống đã ký phê chuẩn, trừ trường hợp Quốc hội đang không nhóm họp nên Tổng thống không thể gửi trả lại cho Quốc hội được và trong trường hợp đó thì dự luật sẽ không trở thành luật.

    CHÚ THÍCH:
    Một dự luật do Quốc hội thông qua sẽ được đệ trình lên cho Tổng thống ký. Nếu Tổng thống không đồng ý với dự luật, ông có 10 ngày không kể chủ nhật để trả lại nơi đệ trình kèm theo văn bản phản đối. Hành động này gọi là phủ quyết. Quốc hội có thể thông qua một điều luật bất chấp Tổng thống phủ quyết với tỷ lệ phiếu bầu là hai phần ba số thành viên có mặt ở mỗi viện. Tổng thống cũng có thể để cho một dự luật thành luật mà không cần ký sau 10 ngày. Nhưng một dự luật đệ trình lên Tổng thống trong 10 ngày cuối của một kỳ họp Quốc hội không thể trở thành luật trừ khi nó được ký. Nếu một dự luật bị Tổng thống phản đối đến tay Tổng thống gần cuối kỳ họp, dự luật đó đơn giản có thể bị giữ lại chưa ký. Khi Quốc hội ngừng họp, dự luật đó bị loại bỏ. Trường hợp này được gọi là phủ quyết ngầm.

    (3) Những mệnh lệnh, nghị quyết hoặc biểu quyết cần sự nhất trí của Thượng viện và Hạ viện (trừ trường hợp Quốc hội nghỉ họp), sẽ được đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ, và trước khi có hiệu lực, chúng phải qua sự phê chuẩn của Tổng thống, hoặc nếu Tổng thống không chấp thuận, cần phải có sự chấp thuận lần thứ hai của hai viện với hai phần ba thành viên của mỗi viện, theo đúng các qui chế và giới hạn được qui định cho các trường hợp về dự luật.


Ðiều I, Khoản 8

QUYỀN HẠN CỦA QUỐC HỘI

Quốc hội sẽ có quyền:

    (1) Đặt ra và thu các khoản thuế, thuế quan, thuế môn bài để trả các khoản nợ và chi phí cho quốc phòng và phúc lợi công cộng của Hoa Kỳ. Nhưng các khoản thuế quan và thuế môn bài đều phải thống nhất trên toàn cõi Hoa Kỳ.

        CHÚ THÍCH:
        Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Thuế nội địa là thuế đánh vào việc buôn bán, sử dụng hoặc sản xuất, và đôi khi đánh vào các quy trình kinh doanh hay các đặc quyền. Ví dụ, thuế doanh nghiệp, thuế thuốc lá và thuế giải trí là thuế nội địa. Thuế hải quan là thuật ngữ chung bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế nội địa.

    (2) Vay tiền theo tín dụng cho Hoa Kỳ.

    (3) Qui định về thương mại với ngoại quốc, giữa các bang và với các bộ lạc da đỏ.

        CHÚ THÍCH:
        Phần này, được gọi là điều khoản thương mại, quy định một số quyền hạn cao nhất của Quốc hội. Tòa án Tối cao đã giải thích thương mại không chỉ là buôn bán mà còn là tất cả các dạng hoạt động thương mại khác. Tòa án Tối cao quy định rằng "thương mại giữa các bang" – thương mại liên bang – không chỉ là các giao dịch qua ranh giới giữa các bang mà còn là bất cứ hoạt động nào ảnh hưởng đến thương mại của hơn một bang. Quyền quản lý thương mại là quyền khuyến khích, xúc tiến, cấm hoặc hạn chế thương mại. Do vậy, Quốc hội có thể thông qua các điều luật và cung cấp tài chính để nâng cấp đường thủy, quy định các biện pháp an toàn đường không và cấm vận chuyển giữa các bang một số hàng hóa nhất định. Quốc hội có thể quy định việc đi lại của người dân, sự di chuyển của tàu hỏa, dòng chuyển dịch của cổ phiếu và trái phiếu và tín hiệu truyền hình cũng như Internet. Quốc hội có thể quy định việc chạy trốn khỏi cảnh sát bang hay địa phương qua các đường ranh giới bang để sử dụng thương mại liên bang cho các hành vi phạm tội khác nhau là tội phạm liên bang. Quốc hội cũng cấm những người vận hành các phương tiện liên bang hay phục vụ các hành khách liên bang đối xử bất công với khách hàng do chủng tộc, giới tính, dân tộc, tuổi già hay sự tàn tật của họ.

    (4) Xây dựng đạo luật thống nhất về việc nhập quốc tịch và luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn đề phá sản.

    (5) Ðúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn cân đo.

        CHÚ THÍCH:
        Từ phần này, cùng với phần cho phép Quốc hội quản lý thương mại và vay tiền, Quốc hội đã có quyền thành lập các ngân hàng quốc gia và thiết lập Hệ thống Dự trữ Liên bang.

    (6) Trừng phạt những vụ làm giả trái phiếu và đồng tiền đang lưu hành ở Hoa Kỳ.

        CHÚ THÍCH:
        Công trái là trái phiếu chính phủ.

    (7) Xây dựng các trạm bưu điện và mạng lưới bưu điện.

    (8) Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các nghệ thuật hữu ích bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của các tác giả và nhà phát minh đối với các tác phẩm và phát minh trong thời gian hạn định.

        CHÚ THÍCH:
        Sách, âm nhạc, tranh ảnh, băng video, đĩa video kỹ thuật số (DVD), và phim có thể đăng ký bản quyền theo luật này.

    (9) Thiết lập các tòa án dưới quyền của Tòa án tối cao.

        CHÚ THÍCH:
        Các tòa án liên bang "dưới Tòa án Tối cao" bao gồm các tòa án cấp hạt của Hoa Kỳ và các tòa phúc thẩm Hoa Kỳ.

    (10) Xác định rõ và trừng phạt các tội cướp biển và trọng tội xẩy ra trên biển và những sự vi phạm luật pháp quốc tế.

        CHÚ THÍCH:
        Quốc hội, chứ không phải là các bang, có quyền xét xử các tội phạm phạm tội tại các vùng biển.

    (11) Tuyên chiến, ban bố văn bản trao quyền cho các tầu tư nhân được phép tấn công các tầu nước ngoài và soạn thảo những luật liên quan tới sự chiếm dụng đất và nguồn nước.

    CHÚ THÍCH:
    Chỉ có Quốc hội mới có thể tuyên bố chiến tranh. Tuy nhiên, Tổng thống, với tư cách là Tổng Tư lệnh, có thể đưa Hoa Kỳ vào chiến tranh mà không cần có tuyên bố chiến tranh chính thức từ Quốc hội. Các cuộc chiến không được tuyên bố là Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Chiến tranh Việt Nam (1957-1975) và các cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (1991, 2003).

    Giấy phép chặn bắt và trả đũa là các tài liệu cho phép các tàu tư nhân có thể tấn công tàu địch. Những giấy tờ này hiện nay không còn được ban hành nữa.

(12) Nuôi dưỡng và cung cấp cho quân đội, nhưng việc chi tiêu khoản tiền này chỉ trong thời hạn không quá hai năm.

(13) Thiết lập và duy trì quân chủng hải quân.

(14) Soạn thảo các luật lệ và các qui chế về lực lượng lục quân và hải quân.

(15) Trù liệu việc xây dựng lực lượng dự bị nhằm thực thi luật pháp của Liên bang, trấn áp các cuộc phiến loạn và đẩy lùi xâm lăng.

    CHÚ THÍCH:
    Quốc hội trao cho Tổng thống quyền quyết định lúc nào thì coi là có sự xâm chiếm hay khởi nghĩa (nổi loạn) của một bang. Lúc đó, Tổng thống có thể kêu gọi lực lượng dân quân của bang, nay là Lực lượng Phòng vệ Quốc gia, cũng như các lực lượng vũ trang thường trực khác.

(16) Trù liệu sự tổ chức, vũ trang và duy trì kỷ luật các lực lượng dự bị của các bang, và trù liệu việc lãnh đạo các lực lượng này khi nào được huy động vào lực lượng liên bang Hoa Kỳ, trong khi vẫn giành cho các bang cụ thể quyền bổ nhiệm sỹ quan và quyền huấn luyện lực lượng dự bị của mỗi bang theo chuyên ngành mà quốc hội đã quy định.

    CHÚ THÍCH:
    Chính phủ liên bang hỗ trợ các bang duy trì quân đội, còn được coi là Lực lượng Phòng vệ Quốc gia. Cho đến năm 1916, các bang vẫn được quyền kiểm soát hoàn toàn lực lượng dân quân của mình. Năm đó, Đạo luật Quốc phòng ra đời quy định về tài chính cho Lực lượng Phòng vệ các bang và để biệt phái các lực lượng này tham gia vào quân đội quốc gia trong những hoàn cảnh nhất định.

(17) Thực thi quyền lập pháp đặc biệt trong mọi trường hợp đối với những quận huyện (diện tích không quá 10 hải lý vuông) bằng cách Quốc hội tiếp nhận sự nhượng quyền của các bang đặc biệt, trở thành cơ quan lãnh đạo của Chính phủ Hoa Kỳ và thực thi quyền lãnh đạo đối với tất cả những địa điểm đã được mua lại theo sự đồng ý của cơ quan lập pháp của bang và cũng theo cách như vậy xây dựng các pháo đài, kho vũ khí, xưởng chế tạo vũ khí, kho cảng và các cơ sở cần thiết khác.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này quy định Quốc hội là cơ quan lập pháp không chỉ cho Quận Columbia, mà còn cho các khu vực thuộc sở hữu liên bang nơi tọa lạc các pháo đài, căn cứ hải quân, kho vũ khí và các công trình hoặc các tòa nhà liên bang khác.

(18) Soạn thảo mọi điều luật cần thiết và đúng đắn để thực thi những quyền lực nói trên, cũng như tất cả những quyền lực khác đã được Hiến pháp này trao cho Chính phủ Hoa Kỳ, hoặc cho bất cứ một cơ quan và quan chức nào khác.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này, chính là điều khoản “cần thiết và thích hợp” nổi tiếng, cho phép Quốc hội giải quyết nhiều vấn đề không được nêu cụ thể trong Hiến pháp này. Sự linh hoạt này giải thích vì sao Hiến pháp này là một trong những hiến pháp thành văn lâu đời nhất và vì sao nó cần ít sự sửa đổi chính thức như vậy.

Ðiều I, Khoản 9

CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI QUỐC HỘI

(1) Việc nhập cư hoặc nhập khẩu của những người hiện đang sống ở bất cứ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận, sẽ không bị Quốc hội cấm đoán trước năm 1808, nhưng sẽ đánh thuế không quá 10 đôla cho mỗi người nhập cư.

    CHÚ THÍCH:
    Đoạn này liên quan đến việc buôn bán nô lệ. Những người buôn bán nô lệ, cũng như một vài chủ nô, muốn chắc chắn rằng Quốc hội không thể ngăn cản bất kỳ ai đem nô lệ châu Phi vào đất nước trước năm 1808. Năm 1808, Quốc hội đã cấm việc nhập khẩu nô lệ.

(2) Quyền được tòa án thẩm định lý do bắt giam sẽ không bị tước đoạt, trừ trường hợp có phiến loạn và xâm lược và do yêu cầu nhằm đảm bảo nền an ninh chung.

    CHÚ THÍCH:
    Lệnh về đình quyền giam giữ là lệnh của tòa án yêu cầu các nhà chức trách đang giam giữ một người nào đó phải đưa người đó ra xét xử tại tòa. Các nhà chức trách phải giải thích cho quan tòa vì sao người kia lại bị giam giữ. Nếu họ không giải thích thỏa đáng thì quan tòa có thể yêu cầu phòng thích tù nhân.

(3) Lệnh tước quyền công dân và tử hình không cần xét xử sẽ không được thông qua.

    CHÚ THÍCH:
    Lệnh tước quyền công dân và tử hình không cần xét xử là một đạo luật đã được một cơ quan lập pháp thông qua nhằm trừng phạt một người mà không cần xét xử. Luật hồi tố là luật khiến một hành động phạm tội trở thành một hành động không bất hợp pháp khi nó đã diễn ra. Luật này cũng bao gồm một đạo luật nhằm tăng hình phạt đối với một hành động phạm tội của quá khứ.

(4) Sẽ không đặt ra loại thuế thân [hoặc các loại thuế trực thu khác], nếu không tương ứng với cuộc điều tra dân số kể trên trong điều này.

    CHÚ THÍCH:
    Thuế thân là thuế thu quân bình đối với tất cả mọi người. Nó còn được gọi là thuế thân hay thuế bầu cử. Tòa án Tối cao cho rằng phần này nghiêm cấm thuế thu nhập, tuy nhiên Điều bổ sung sửa đổi lần thứ 16 đã hủy bỏ hiệu lực quyết định của tòa án.

(5) Sẽ không đặt ra loại thuế hoặc thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu từ bất cứ bang nào.

    CHÚ THÍCH:
    Trong câu này, xuất khẩu có nghĩa là được gửi đến các bang khác hoặc ra nước ngoài. Các bang miền Nam lo sợ rằng chính phủ mới sẽ đánh thuế vào các hàng hóa xuất khẩu của họ và khiến nền kinh tế của họ bị thiệt hại. Câu này ngăn cấm loại thuế như vậy. Tuy nhiên, Quốc hội có thể ngăn cấm việc vận chuyển một số mặt hàng nhất định cũng như quy định các điều kiện vận tải của các mặt hàng.

(6) Trong những quy chế về thương mại và thu nhập sẽ không có sự ưu tiên nào đối với bến cảng của bất cứ bang nào so với những bang khác. Tầu thuyền từ một bang nào đó sẽ không bị bắt buộc phải cập bến, chịu sự kiểm tra và nộp thuế ở một bang khác.

    CHÚ THÍCH:
    Quốc hội không được thiết lập các bộ luật liên quan đến thương mại bênh vực một bang này hơn bang khác. Tàu đi từ một bang này đến một bang khác không cần phải trả thuế.

(7) Sẽ không được rút bất cứ khoản tiền nào từ Ngân khố, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Bản báo cáo tài chính thu chi thường kỳ của những khoản tiền công cộng phải được công bố thường xuyên.

    CHÚ THÍCH:
    Không được sử dụng tiền của chính phủ mà không được sự cho phép của Quốc hội. Quốc hội phải chuẩn bị đầy đủ số liệu để phát hành các báo cáo tài chính định kỳ.

(8) Hoa Kỳ sẽ không ban tặng các tước hiệu quý tộc. Những người đảm nhận những chức vụ có lợi tức nếu không được sự đồng ý của Quốc hội sẽ không được phép nhận bất cứ quà tặng, lương bổng, hoặc bất cứ danh hiệu, tước vị nào do vua chúa hoặc chính phủ nước ngoài nào trao tặng.

    CHÚ THÍCH:
    Quốc hội không được phép trao cho bất cứ người nào danh hiệu quý tộc, như bá tước hay công tước. Các quan chức liên bang không được phép nhận quà tặng, văn phòng, các khoản thanh toán hay các chức danh của nước ngoài mà không được sự đồng ý của Quốc hội.

Ðiều I, Khoản 10

CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI CÁC BANG

(1) Không một bang nào được phép tham gia vào bất cứ một hiệp ước, khối đồng minh hoặc liên hiệp nào; không được phép cấp giấy phép trưng dụng, bắt giữ tàu thuyền nước ngoài; không được đúc tiền hoặc phát hành trái phiếu; hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ; không được thông qua luật trừng phạt con người mà không qua xét xử và luật trừng phạt con người về một hành vi không vi phạm pháp luật hoặc một đạo luật nào phương hại đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; không được ban tặng các tước hiệu quý tộc.

(2) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đặt ra thuế và thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ trường hợp hết sức cần thiết cho việc thực hiện các điều luật về thanh tra, và hệ thống thuế đánh vào hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu do một bang nào đó đặt ra sẽ phải đóng góp cho Ngân khố Hoa Kỳ, đồng thời tất cả các điều luật này đều phải đệ trình lên để Quốc hội xét duyệt và kiểm soát.

    CHÚ THÍCH:
    Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, một bang không được đánh thuế vào các hàng hóa xuất hoặc nhập vào bang trừ các khoản phí nhỏ để thanh toán chi phí kiểm tra.

(3) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đánh thuế tàu, duy trì các đội quân và tàu chiến trong thời kỳ hòa bình, ký kết hiệp định hoặc thỏa ước với một bang khác hoặc với lực lượng nước ngoài hoặc tham gia vào cuộc chiến tranh, trừ trường hợp thực sự bị xâm lược hoặc lâm vào tình trạng sắp xẩy ra nguy biến và không thể trì hoãn.

    CHÚ THÍCH:
    Chỉ có chính phủ liên bang có quyền lập hiệp ước hoặc đàm phán với các quốc gia nước ngoài.

Ðiều II, Khoản 1

NGÀNH HÀNH PHÁP

(1) Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thống giữ chức vụ của mình trong nhiệm kỳ 4 năm và cùng với Phó Tổng thống cũng được bầu ra theo cùng một nhiệm kỳ và được bầu cử theo thể thức sau đây:

(2) Theo thể thức mà cơ quan lập pháp ở đó qui định, mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang sẽ bầu ra trong Quốc hội. Nhưng không một thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ hoặc một quan chức nào đảm nhiệm chức vụ có lợi tức sẽ được chọn làm đại cử tri.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này thiết lập Đại cử tri đoàn, là một nhóm người được lựa chọn trong mỗi bang theo cách thức luật pháp bang đó quy định. Tất cả các bang hiện tại đều quy định rằng các cử tri bầu ra các đại cử tri này. Các đại cử tri này sẽ bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống.

(3) [Các đại cử tri sẽ họp ở bang của mình và bỏ phiếu bầu hai người và ít nhất một trong hai người không phải là cư dân trong cùng một bang vớingười kia. Họ sẽ lập bản danh sách về những người đi bầu và số phiếu bầu của mỗi người, ký và xác nhận vào danh sách, gắn xi niêm phong và chuyển lên cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ, đệ trình lên Chủ tịch Thượng viện. Với sự có mặt của Thượng viện và Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện sẽ mở tất cả cứ liệu đã được xác nhận và sẽ đếm số lượng phiếu bầu. Người có nhiều phiếu bầu nhất sẽ là Tổng thống, nếu như số phiếu bầu này chiếm đa số trong tổng số các đại cử tri được bầu ra, và nếu từ hai người trở lên có đa số phiếu bầu và có số phiếu bầu bằng nhau, thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu để bầu một trong những người đó làm Tổng thống. Nếu không người nào có đa số phiếu bầu, thì Hạ viện cũng theo thể thức như vậy, chọn 5 người có số phiếu bầu nhiều nhất trong danh sách để bầu ra Tổng thống. Nhưng trong việc bầu Tổng thống, công việc bầu cử tiến hành ở các bang, hạ nghị sĩ ở mỗi bang có một phiếu bầu. Số đại biểu tiến hành công việc này sẽ gồm một thành viên hoặc những thành viên thuộc hai phần ba số bang và điều cần thiết cho cuộc bầu cử phải gồm đại biểu của đa số các bang. Trong mọi trường hợp, sau khi bầu Tổng thống, người có số phiếu nhiều nhất do các đại cử tri bầu cho sẽ là Phó Tổng thống. Nhưng nếu từ hai người trở lên có số phiếu bầu bằng nhau, thì Thượng viện sẽ chọn trong số đó để bỏ phiếu bầu ra Phó Tổng thống].

    CHÚ THÍCH:
    Điều bổ sung sửa đổi thứ 12 của Hiến pháp đã thay đổi thủ tục bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống này.

(4) Quốc hội có thể quyết định thời gian bầu các đại cử tri và ngày mà các đại cử tri sẽ bỏ phiếu để bầu cử và đó sẽ là cùng một ngày trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

(5) Người có đủ tiêu chuẩn được bầu làm Tổng thống phải là công dân sinh ra tại bản địa hoặc là công dân Hoa Kỳ trong thời gian thực hiện Hiến pháp này, từ 35 tuổi trở lên và đã có 14 năm cư trú ở Hoa Kỳ.

(6) Trong trường hợp Tổng thống bị cách chức hoặc qua đời, từ chức hoặc không đủ năng lực trong việc thực thi quyền lực và nhiệm vụ của mình, thì mọi quyền lực và nhiệm vụ sẽ chuyển giao cho Phó Tổng thống. Quốc hội sẽ căn cứ vào luật bổ khuyết một quan chức vào ghế trống trong các trường hợp truất quyền, tử vong, từ chức hoặc không đủ năng lực của cả Tổng thống và Phó Tổng thống; quan chức nào thay quyền Tổng thống hoặc Phó Tổng thống sẽ thi hành nhiệm vụ cho đến khi chấm dứt tình trạng không đủ năng lực và khi đã bầu được Tổng thống mới.

    CHÚ THÍCH:
    Vào ngày 9/8/1974, Tổng thống Richard M. Nixon đã từ chức tổng thống và Phó Tổng thống Gerald R. Ford đã kế nhiệm. Cho đến nay, chỉ có cái chết mới có thể rút ngắn nhiệm kỳ của một Tổng thống Hoa Kỳ. Điều bổ sung sửa đổi thứ 25 quy định rằng Phó Tổng thống kế nhiệm chức tổng thống nếu Tổng thống bị tàn phế, và xác định cụ thể các điều kiện áp dụng cho sự kế nhiệm này.

(7) Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống sẽ được nhận một khoản tiền lương trả cho công việc của mình, khoản tiền này sẽ không tăng và cũng không giảm trong suốt nhiệm kỳ này và Tổng thống cũng không có quyền được nhận bất cứ một khoản tiền nào khác của Hoa Kỳ hoặc bất cứ một bang nào.

    CHÚ THÍCH:
    Hiến pháp cho phép một người nghèo có thể trở thành Tổng thống bằng cách trả lương cho chức vị đó. Lương của Tổng thống không thể tăng hay giảm trong suốt thời gian đương nhiệm của ông ta/bà ta. Tổng thống có thể không nhận bất cứ khoản thanh toán nào từ chính phủ liên bang hoặc các bang, nhưng dĩ nhiên là được trả bằng rất nhiều các dịch vụ khác.

(8) Trước khi bắt đầu điều hành văn phòng của mình, Tổng thống sẽ tuyên thệ hoặc thề như sau: "Tôi trân trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ".

    CHÚ THÍCH:
    Hiến pháp không quy định ai sẽ thực hiện lễ tuyên thệ cho Tổng thống mới được bầu. Tổng thống George Washington được Robert R. Livingston, sau này là một quan chức bang New York, làm lễ tuyên thệ. Sau đó việc Chánh án Tòa án Tối cao  của Hoa Kỳ điều hành buổi lễ tuyên thệ cho Tổng thống trở thành thông lệ. Calvin Coolidge được bố của ông, một thẩm phán hòa giải, thực hiện lễ tuyên thệ cho mình tại quê nhà Vermont. Coolidge thực hiện lại lễ tuyên thệ trước Thẩm phán Adolph A. Hoehling của Tòa án Tối cao của Quận Columbia.

Ðiều II, Khoản 2

(1) Tổng thống sẽ là Tổng tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của lực lượng dự bị ở một số bang. Khi bắt đầu thực sự bắt tay vào công, Tổng thống có thể yêu cầu các quan chức phụ trách các cơ quan hành pháp đề xuất ý kiến bằng văn bản về bất cứ vấn đề nào liên quan tới nhiệm vụ của những cơ quan đó. Tổng thống có quyền hủy bỏ bản án hoặc ân xá đối với những hành vi chống lại Hoa Kỳ, trừ những trường hợp xét xử các vụ trọng tội.

    CHÚ THÍCH:
    Quyền hạn của Tổng thống trong vai trò Tổng Tư lệnh rất rộng lớn. Tuy nhiên, kể cả trong thời chiến, Tổng thống vẫn phải tuân thủ luật pháp của đất nước.

(2) Theo thỏa thuận và sự đồng ý của Thượng viện - với sự nhất trí của hai phần ba số thượng nghị sĩ có mặt, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước. Và cũng theo thỏa thuận, đồng ý của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ, các công sứ, lãnh sự, các quan tòa của Tòa án tối cao và những quan chức khác của Hoa Kỳ. Những việc bổ nhiệm này không làm trái với những qui định và sẽ được thực hiện theo luật định, nhưng Quốc hội có thể căn cứ vào các điều luật mà thực hiện quyền bổ nhiệm các quan chức cấp dưới trong các tòa án hoặc các vụ viện mà họ cho là phù hợp.

    CHÚ THÍCH:
    Các quy định trong Hiến pháp cho rằng trong một vài vấn đề Thượng viện sẽ hoạt động như là cơ quan cố vấn của Tổng thống, ở một mức độ nào đó cũng giống như Thượng viện Anh cố vấn cho nhà vua tại Vương quốc Anh.

    Tổng thống có thể ký kết các hiệp ước và bổ nhiệm nhiều quan chức chính phủ. Tuy nhiên hai phần ba đại diện có mặt của Thượng viện phải phê duyệt trước khi hiệp ước được xác nhận. Ngoài ra, các trường hợp bổ nhiệm cao cấp cần có sự chấp thuận của quá nửa số Thượng Nghị sỹ có mặt.

(3) Tổng thống sẽ có quyền bổ sung vào những chỗ trống có thể xẩy ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của Thượng viện bằng cách cấp giấy ủy nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau của Thượng viện.

    CHÚ THÍCH:
    Khi Thượng viện đang không trong kỳ họp, Tổng thống có thể tạm thời bổ nhiệm các chức vụ cần có sự chấp thuận của Thượng viện.

Ðiều II, Khoản 3

Theo thường lệ, Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Trong trường hợp cần thiết, Tổng thống có quyền triệu tập hai Viện hoặc một trong hai Viện. Trong trường hợp bất đồng giữa hai Viện về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao giờ mà Tổng thống cho là thích hợp. Tổng thống sẽ tiếp kiến các đại sứ và các công sứ. Tổng thống đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn và sẽ giao phó nhiệm vụ cho tất cả các quan chức của Hoa Kỳ.

    CHÚ THÍCH:
    Hàng năm Tổng thống phát biểu Thông điệp Liên bang trước Quốc hội. Tổng thống George Washington và John Adams tự mình trực tiếp phát biểu các thông điệp. Trong hơn 100 năm sau đó, hầu hết các Tổng thống đều thực hiện thông điệp bằng văn bản và đọc trước Quốc hội. Tổng thống Woodrow Wilson đã phát biểu thông điệp trực tiếp, cũng như Tổng thống Franklin D. Roosevelt và tất cả các tổng thống sau Roosevelt. Thông điệp trước Quốc hội nổi tiếng nhất là Học thuyết Monroe và Tuyên bố “Mười bốn điểm” của Tổng thống Wilson.

    Trong suốt thế kỷ XIX, Tổng thống thường triệu tập phiên họp Quốc hội. Ngày nay, Quốc hội tổ chức họp thường xuyên. Chưa có Tổng thống nào từng yêu cầu ngừng họp Quốc hội.

    Trách nhiệm “quan tâm sao cho các bộ luật được thực thi một cách trung thực” đưa Tổng thống lên thành người đứng đầu quản lý việc thực thi luật pháp của chính phủ quốc gia. Mọi quan chức liên bang, dân sự hay quân sự, đều nhận quyền hạn của mình từ Tổng thống.

Ðiều II, Khoản 4

Tổng thống, Phó Tổng thống và các quan chức dân sự của Hoa Kỳ sẽ bị cách chức khi bị buộc tội phản quốc, tội nhận hối lộ cùng những tội nghiêm trọng khác.

Ðiều III, Khoản 1

NGÀNH TƯ PHÁP

Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp. Các quan tòa của Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi chính đáng, và trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó.

    CHÚ THÍCH:
    Hiến pháp trao cho các tòa án liên bang một sự độc lập đáng kể đối với cả Quốc hội và Tổng thống. Việc đảm bảo cho các quan tòa duy trì nhiệm vụ của mình với “tư cách đạo đức tốt” có nghĩa là chỉ cần họ không bị tố cáo và kết tội thì họ có thể đương nhiệm suốt đời. Điều này bảo vệ các quan tòa khỏi bất cứ nguy cơ sa thải nào từ phía Tổng thống đã bổ nhiệm họ hay bất cứ Tổng thống nào trong suốt cuộc đời họ. Quy định không được giảm lương của thẩm phán đã bảo vệ các thẩm phán khỏi áp lực của Quốc hội, cơ quan có thể đe dọa cố định mức lương của họ ở mức thấp đến nỗi họ buộc phải từ chức.

Ðiều III, Khoản 2

(1) Quyền lực tư pháp căn cứ vào Hiến pháp này sẽ có hiệu lực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý, các điều luật của Hoa Kỳ, các hiệp ước đã hoặc sẽ ký dưới thẩm quyền của Chính phủ; đối với các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, đối với các trường hợp liên quan tới luật pháp hàng hải và hải quân; đối với các tranh chấp mà Hoa Kỳ là một bên, đối với các cuộc tranh chấp giữa hai bang trở lên, giữa một bang với các công dân của bang khác, giữa các công dân của các bang khác nhau, giữa các công dân trong một bang tranh chấp đất đai do các bang khác nhau cấp, giữa một bang hoặc các công dân của bang đó với các bang khác [hoặc các công dân và đối tượng của bang khác].

    CHÚ THÍCH:
    Quyền giải quyết “các vụ việc nảy sinh từ Hiến pháp này” của các tòa án liên bang là cơ sở cho quyền của Tòa án Tối cao có thể tuyên bố các bộ luật của Quốc hội là không phù hợp với Hiến pháp. Quyền “xem xét lại của tòa án” là một quyết định lịch sử của Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall trong vụ Marbury kiện Madison năm 1803.

    Điều bổ sung sửa đổi thứ 11 đã xóa cụm từ "giữa một bang và các công dân của bang khác" và loại bỏ các vụ tố tụng của các công dân chống lại một bang khỏi phạm vi giải quyết của các tòa án liên bang.

(2) Trong các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, và các trường hợp mà một bang thuộc về một bên, thì Tòa án tối cao phải mở phiên tòa sơ thẩm. Trong những trường hợp khác, căn cứ vào luật pháp, vụ việc và cả những ngoại lệ và tuân theo những quy chế do Quốc hội đề xuất, Tòa án tối cao sẽ mở phiên tòa phúc thẩm.

    CHÚ THÍCH:
    Tuyên bố rằng Tòa án Tối cao có quyền lực pháp lý đầu tiên trong các vụ việc ảnh hưởng đến các chính phủ nước ngoài và các đại diện của họ và trong các vụ việc mà chính quyền của một bang là một trong các bên tham gia có nghĩa là các vụ việc thuộc dạng này sẽ được tống đạt trực tiếp lên Tòa án Tối cao. Trong các trường hợp khác, Tòa án Tối cao có thẩm quyền chống án. Điều này có nghĩa là các vụ việc được xét xử đầu tiên tại một tòa án cấp thấp hơn và có thể gửi lên đến Tòa án Tối cao để xem xét lại nếu Quốc hội cho phép kháng cáo đối với các dạng vụ việc này. Quốc hội không được tước bỏ hay sửa đổi quyền lực pháp lý đầu tiên của Tòa án Tối cao, tuy nhiên nó có thể tước bỏ quyền kháng cáo gửi lên đến tòa án đó hoặc sửa đổi các điều kiện mà một bên phải đáp ứng để thực hiện kháng án.

(3) Trừ những trường hợp bị buộc trọng tội, việc xét xử các tội sẽ phải thông qua Bồi thẩm đoàn và phiên tòa xét xử sẽ mở tại bang đã xẩy ra vụ việc phạm tội. Nhưng nếu vụ việc không xẩy ra trong bất cứ bang nào, thì phiên tòa sẽ họp ở một nơi mà Quốc hội căn cứ vào luật để quyết định.

Ðiều III, Khoản 3

(1) Tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ bao gồm hành vi gây chiến tranh tấn công nước này hoặc ủng hộ kẻ thù, trợ giúp và úy lạo chúng. Không một ai bị phán quyết về tội phản quốc, trừ phi có hai người làm chứng về hành vi phạm tội hoặc có sự thú tội công khai trước tòa.

    CHÚ THÍCH:
    Không ai có thể bị buộc tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ trừ khi ông ta/bà ta thú nhận điều đó trong một tòa án công khai, hoặc trừ khi có hai nhân chứng chứng nhận rằng ông ta hoặc bà ta đã thực hiện một hành động phản quốc. Nói chuyện hoặc suy nghĩ về một hành động phản quốc không phải là tội phản quốc.

(2) Quốc hội có quyền xác định hình phạt cho tội phản quốc. Nhưng không một sự trừng phạt nào hay việc tịch thu tài sản lại thực hiện đối với những người thân của kẻ phạm tội, mà chỉ thực hiện đối với bản thân họ mà thôi.

    CHÚ THÍCH:
    Cụm từ "việc tịch thu tài sản và quyền công dân đối với một người phản quốc sẽ không ảnh hưởng đến thân nhân" có nghĩa là gia đình của một kẻ phản bội không phải chịu chung tội lỗi đó. Trước đây, gia đình của một tội phạm cũng có thể bị trừng phạt.

Ðiều IV*
(*Hầu hết nội dung của điều này đều lấy nguyên bản từ các Điều khoản Hợp bang cũ).

Ðiều IV, Khoản 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BANG

Mỗi bang đều phải tin tưởng tuyệt đối vào các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng của các bang khác. Quốc hội bằng những luật có tính chất chung quy định cách thức chứng thực các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng đó, cũng như hiệu lực của chúng.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này yêu cầu các bang tôn trọng các đạo luật, hồ sơ và quy tắc xử án của các bang khác.

Ðiều IV, Khoản 2

(1) Công dân của mỗi bang sẽ được hưởng mọi đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm như công dân của các bang khác.

    CHÚ THÍCH:
    Điều này có nghĩa là các công dân đi lại giữa các bang có quyền được hưởng tất cả các đặc quyền và sự miễn trừ được tự động áp dụng với công dân của các bang đó. Một vài đặc quyền như quyền bầu cử không được tự động áp dụng đối với quyền công dân mà yêu cầu một thời gian cư trú và có thể các tiêu chí khác nữa. Từ “công dân” trong điều khoản này không bao gồm các tập đoàn.

(2) Cá nhân bị truy tố về tội phản quốc, trọng tội hoặc một tội nào khác mà trốn tránh pháp luật và bị tìm thấy ở một bang khác, thì theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của bang mà người đó chạy trốn, sẽ bị trao trả lại và dẫn độ về bang có thẩm quyền xét xử.

    CHÚ THÍCH:
    Nếu một người phạm tội tại một bang và chạy trốn sang bang khác, thống đốc của bang nơi phạm nhân đó thực hiện hành vi phạm tội có thể yêu cầu trao trả kẻ chạy trốn đó. Quá trình trao trả một người bị buộc tội được gọi là dẫn độ. Trong một vài trường hợp, một thống đốc có thể từ chối dẫn độ. Thống đốc có thể làm như vậy do việc phạm tội đã cách đây nhiều năm, hoặc do ông ta hoặc bà ta tin rằng người bị buộc tội có thể đã không được xét xử công bằng tại bang kia.

(3) [Không một cá nhân nào vốn bị giam cầm, quản thúc, khổ sai ở một bang bỏ trốn sang một bang khác lại có thể dựa vào luật lệ và qui chế ở địa phương mới để trốn tránh những hình phạt nói trên, ngược lại cá nhân đó phải được trao trả lại theo yêu cầu của bên mà cá nhân đó buộc phải làm việc và lao động].

    CHÚ THÍCH:
    Một "người được giữ để phục vụ hoặc lao động" là một nô lệ hoặc một nô bộc khế ước (một người bị ràng buộc bởi một hợp đồng phục vụ cho một ai đó trong nhiều năm). Hiện tại không một ai tại Hoa Kỳ bị ràng buộc vào tình trạng nô lệ, do vậy phần này của Hiến pháp đã được loại bỏ trong Điều bổ sung sửa đổi thứ 13 và hiện không còn hiệu lực.

Ðiều IV, Khoản 3

MỐI QUAN HỆ GIỮA BANG VÀ LIÊN BANG

(1) Những bang mới có thể được Quốc hội chấp nhận gia nhập vào Liên bang này; nhưng không một bang mới nào sẽ được thành lập hoặc dựng nên dưới thẩm quyền của bất cứ bang nào khác; cũng không một bang nào sẽ được hình thành bằng cách sát nhập hai bang trở lên hoặc các vùng của các bang khác nếu không được sự đồng ý của cơ quan lập pháp ở các bang có liên quan cũng như của Quốc hội.

    CHÚ THÍCH:
    Các bang mới không được phép hình thành bằng cách chia cắt hay sát nhập vào các bang khác mà không được sự tán thành của các cơ quan lập pháp bang và Quốc hội. Trong suốt cuộc Nội chiến (1861-1865), bang Virginia đấu tranh cho phe Liên minh, tuy nhiên nhân dân miền Tây của bang lại ủng hộ Liên bang. Sau khi miền Tây Virginia tách khỏi Virginia, Quốc hội đã chấp nhận một bang mới trên vùng đất mà Virginia đã nổi dậy.

(2) Quốc hội có quyền hoạch định và xây dựng các luật lệ và qui chế cần thiết liên quan tới lãnh thổ hoặc sở hữu khác thuộc về Hoa Kỳ; và không một điều nào trong Hiến pháp này sẽ được giải thích làm tổn hại đến bất cứ tuyên bố nào của Hoa Kỳ hay của bất cứ một bang cụ thể nào khác.

Ðiều IV, Khoản 4

Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho mỗi bang trong Liên bang này một thể chế chính quyền cộng hoà; và sẽ bảo vệ mỗi bang chống lại sự xâm lược; và theo yêu cầu của cơ quan lập pháp hoặc hành pháp (khi cơ quan lập pháp không thể nhóm họp) để chống lại tình trạng bạo lực trong nước.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này yêu cầu Chính phủ Liên bang đảm bảo rằng mọi bang đều có “tổ chức chính quyền cộng hòa”. Một chính quyền cộng hòa là một chính quyền trong đó nhân dân bầu ra các đại diện để quản lý bang. Tòa án Tối cao quy định rằng Quốc hội, chứ không phải các tòa án, phải quyết định xem một chính quyền bang có tính chất cộng hòa hay không. Nếu Quốc hội chấp nhận các Thượng Nghị sỹ và Hạ Nghị sỹ của một bang thì hành động đó biểu thị rằng Quốc hội cho rằng chính quyền bang đó là cộng hòa.

    Cơ quan lập pháp hoặc thống đốc của một bang có thể yêu cầu sự trợ giúp của liên bang trong việc giải quyết các cuộc nổi loạn hay các dạng tội ác nội bộ khác. Tuy nhiên Tổng thống không cần sự chấp thuận của một bang trong việc gửi các lực lượng liên bang, bao gồm cả các lực lượng quân đội để thực hiện các đạo luật liên bang. Trong cuộc bãi công Pullman năm 1894, Chính phủ Liên bang đã gửi các sư đoàn tới Illinois mặc dù thống đốc bang không muốn. Năm 1957 Tổng thống Eisenhower đã quốc hữu hóa Lực lượng Phòng vệ bang Arkansas nhằm tước bỏ quyền chỉ huy của Thống đốc bang Arkansas Orval Faubus và gửi Quân đội Hoa Kỳ đến Arkansas để giúp đỡ họ thực hiện các mệnh lệnh của tòa án hạt liên bang nhằm xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc tại trường Little Rock.

Ðiều V

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Khi hai phần ba thành viên của cả hai Viện đều xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp ở hai phần ba các bang, Quốc hội sẽ đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp này và sẽ triệu tập Ðại hội để đề xuất những điều sửa đổi; cả trong hai trường hợp chúng đều có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang, hoặc bởi Ðại hội của ba phần tư các bang, theo một thể thức phê chuẩn do Quốc hội đề nghị với điều kiện là không một điều sửa đổi nào có thể được đề xuất trước năm 1808 theo một cách thức ảnh hưởng đến đoạn 1 và đoạn 4 trong khoản 9 của Ðiều 1; và không một bang nào, nếu bản thân không đồng ý, lại có thể bị tước đoạt quyền bỏ phiếu bình đẳng trong Thượng viện.

    CHÚ THÍCH:
    Hiến pháp có thể được đề nghị sửa đổi nếu có hai phần ba phiếu bầu của mỗi viện của Quốc hội hoặc do một hội nghị quốc gia do Quốc hội triệu tập theo yêu cầu của hai phần ba các bang. Để trở thành một phần của Hiến pháp, các điều bổ sung sửa đổi phải được các cơ quan lập pháp hoặc các hội nghị trong ba phần tư các bang thông qua (phê chuẩn).

    Ý tưởng của những người soạn thảo Hiến pháp là nhằm gây khó khăn cho việc thông qua một điều bổ sung sửa đổi. Quốc hội  đã xem xét hơn 9.000 điều bổ sung sửa đổi nhưng chỉ đề xuất 33 bản và đệ trình cho các bang. Trong số này, chỉ có 27 điều được phê chuẩn. Chỉ có một điều bổ sung sửa đổi thứ 21 được các hội nghị bang phê chuẩn. Tất cả các điều khác đều được các cơ quan lập pháp bang phê chuẩn.

    Hiến pháp không giới hạn thời gian quy định các bang phê chuẩn một điều bổ sung sửa đổi được đề xuất. Tuy nhiên, tòa án quy định rằng các điều bổ sung sửa đổi phải được thông qua trong một “thời gian hợp lý” và Quốc hội phải quyết định thời gian như thế nào là hợp lý, như trường hợp xảy ra khi Điều bổ sung sửa đổi thứ 27 ngày 7/5/1992 được phép ban hành - hơn 202 năm sau khi được đề xuất. Từ đầu những năm 1900, hầu hết các điều bổ sung sửa đổi được đề xuất đều yêu cầu phê chuẩn trong vòng bảy năm.

Ðiều VI

CÁC KHOẢN NỢ QUỐC GIA

(1) Mọi khoản nợ đã ký kết và những cam kết có trước khi thông qua Hiến pháp này vẫn có hiệu lực đối với Liên bang được thành lập trong khuôn khổ Hiến pháp này cũng như đối với Liên minh cũ.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này cam kết rằng tất cả các khoản nợ và các nghĩa vụ Hoa Kỳ thực hiện trước khi ban hành Hiến pháp này sẽ được tôn trọng.

QUYỀN TỐI CAO CỦA CHÍNH PHỦ QUỐC GIA

(2) Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang đều không có giá trị.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này, được xem là điều khoản tối cao, được gọi là then chốt của Hiến pháp - tức là phần giữ cho toàn bộ kết cấu ổn định nguyên vẹn. Nó đơn giản nghĩa là khi các đạo luật liên bang xung đột với luật quốc gia thì luật quốc gia có hiệu lực cao hơn. Nó cũng có nghĩa là luật quốc gia muốn có hiệu lực phải phù hợp với Hiến pháp.

(3) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, các thành viên của cơ quan lập pháp các bang, các quan chức trong cơ quan hành pháp của Liên bang lẫn tiểu bang đều phải tuyên thệ hoặc xác nhận sự ủng hộ Hiến pháp này. Nhưng không một điều kiện tôn giáo nào bị coi là bắt buộc như tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các chức vụ, công sở của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

    CHÚ THÍCH:
    Phần này yêu cầu các quan chức của bang và liên bang phải tuyệt đối trung thành đối với Hiến pháp của Hoa Kỳ chứ không phải là hiến pháp của bất kỳ bang nào. Phần này cũng nghiêm cấm bất cứ hình thức kiểm tra tín ngưỡng nào có mục đích xem xét việc trao quyền cho các quan chức liên bang. Điều khoản này chỉ áp dụng đối với chính quyền quốc gia, tuy nhiên Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 áp dụng cùng một nguyên tắc này đối với các chính quyền bang và địa phương.

Ðiều VII

PHÊ CHUẨN HIẾN PHÁP

Việc các đại hội của 9 bang phê chuẩn là đủ điều kiện để thiết lập hiến pháp giữa các bang (vốn cũng tham gia phê chuẩn Hiến pháp này).

(Tuyên bố sau đây cho thấy những sửa chữa của người sao chép đối với tài liệu gốc)

Từ "the" viết xen vào giữa dòng thứ bảy và thứ tám của trang thứ nhất, từ “thirty" được viết một phần vào phần xóa bỏ trong dòng thứ 15 của trang thứ nhất, từ "is tried" được viết xen vào giữa dòng thứ 32 và 33 của trang thứ nhất và từ "the" được viết xen vào giữa dòng thứ 43 và 44 của trang thứ hai.
                                                 -- Thư ký William Jackson chứng thực

Hiến pháp được đại biểu các bang có mặt nhất trí thông qua trong đại hội vào ngày 17 tháng 9 năm 1787 Thiên chúa Giáng sinh, vào năm độc lập thứ 12 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ðể chứng thực, chúng tôi có mặt tại đây đồng ý và ký tên.

Nguồn: http://www.hienphapvietnam.org

                                        



HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HOÀ
(năm 1967)

QUỐC HỘI LẬP HIẾN Chung quyết trong phiên họp Ngày 18 tháng 3 năm 1967

-------o0o--------

LỜI MỞ ĐẦU

       Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.

       Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc Lập Tự Do Dân Chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

       Chúng tôi một trăm mười bảy (117) Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi   thảo luận, chầp thuận Bản Hiến Pháp sau đây :

CHƯƠNG I: Điều khoản căn bản
ĐIỀU 1
1- VIỆT NAM là một nước CỘNG HÒA, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân
2- Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân
ĐIỀU 2
1- Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân
2- Quốc Gia chủ trương sự bìng đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt ,nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc
3- Mọi công dân có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc
ĐIỀU 3
Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội
ĐIỀU 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ
ĐIỀU 5
1- Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận các nguyên tắc quốc tế pháp không trái với chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc
2- Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xay dựng nền an ninh và hòa bình thế giới

CHƯƠNG II: Quyền lợi và Nghĩa vụ công dân
ĐIỀU 6
1- Quốc Gia tôn trọng nhân phẩm
2- Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân
ĐIỀU 7
1- Quốc Gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ
2- Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp
3- Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thờ hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan Tư Pháp
4- Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn. Đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội
5- Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng
6- Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong moi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn
7- Bị can về các tội Tiểu Hình, chưa có tiền án quá ba (3) tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình. Có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, nếu có thai trên ba (3) tháng
8- Bị can được suy đoán là vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhất định.
Sự nghi vấn có lợi cho bị can
9- Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc Gia bồi Thường thiệt hại trong những điều kiện luật định
10- Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ
ĐIỀU 8
1- Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng
2- Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của Tòa Aùn hoặc cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định
3- Luật pháp bảo vệ tánh cách riêng tư của thư tín, những hạn chế, nếu có phải do một (1) đạo luật qui định
ĐIỀU 9
1- Quốc Gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi quốc gia, không phương hại đến an ninh, trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục
2- Quốc Gia không thừa nhận một tôn giáo nào là Quốc Giáo. Quốc Gia vô tư đối với sự phát triển của các tôn giáo
ĐIỀU 10
1- Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục
2- Nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí
3- Nền giáo dục Đại Học được tự trị
4- Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn
5- Quốc Gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật
ĐIỀU 11
1- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản
2- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục
ĐIỀU 12
1- Quốc Gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục
2- Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường
3- Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí
ĐIỀU 13
1- Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định
2- Mọi công dân đều có quyền bầu cử , ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định
3- Quốc Gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp
ĐIỀU 14
Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương, ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng
ĐIỀU 15
1- Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm
2- Quốc Gia nỗ lực tạo công việc làm cho mọi công dân
ĐIỀU 16
Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định
ĐIỀU 17
1- Quốc Gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc Gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và thai nhi
2- Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng
3- Quốc Gia tán trợ sự thuần nhất gia đình
ĐIỀU 18
1- Quốc Gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội
2- Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng
3- Quốc Gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sĩ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử
ĐIỀU 19
1- Quốc Gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu
2- Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân
3- Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả đáng theo thời giá
ĐIỀU 20
1- Qsuyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường
2- Quốc Gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tánh cách tương trợ
3- Quốc Gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế
ĐIỀU 21
Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác
ĐIỀU 22
Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi, công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định
ĐIỀU 23
1- Quân Nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử, hay tham chánh tại cấp bậc trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ giả hạn không lương, tuỳ theo sự lựa chọn của đương sự
2- Quân Nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái
ĐIỀU 24
1- Quốc Gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam
2- Quốc Gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số
3- Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số
ĐIỀU 25
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa
ĐIỀU 26
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến Pháp và tôn trọng luật pháp
ĐIỀU 27
Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định
ĐIỀU 28
Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định
ĐIỀU 29
Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được qui định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tánh cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.

CHƯƠNG III: Lập Pháp 
ĐIỀU 30
Quyền Lập Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc Hội.
Quốc Hội gồm hai viện :
- Hạ Nghị Viện
- Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 31
Hạ Nghị Viện gồm từ một trăm (100) đến hai trăm (200) Dân Biểu
1- Dân Biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh
2- Nhiệm kỳ Dân Biểu là bốn (4) năm. Dân Biểu có thể được tái cử
3- Cuộc bầu cử tân Hạ Nghị Viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một (1) tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt
ĐIỀU 32
Được quyền ứng cử Dân Biểu những công dân :
1- Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy (7) năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm (5) năm tính đến ngày bầu cử
2- Đủ hai mươi lăm (25) tuổi tính đến ngày bầu cử
3- Được hưởng các quyền công dân
4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch
5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân Biểu
ĐIỀU 33
Thượng Nghị Viện gồm từ ba mươi (30) đến sáu mươi (60) Nghị Sĩ
1- Nghị Sĩ được cử tri đoàn toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức Liên Danh đa số. Mỗi Liên Danh gồm từ một phần sáu (1/6) đến một phần ba (1/3) tổng số Nghị Sĩ
2- Nhiệm kỳ Nghị Sĩ là sáu (6) năm, mỗi ba (3) năm bầu lại phân nửa (1/2). Nghị Sĩ có thể được tái cử
3- Các Nghị Sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau, theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu (6) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba (3) năm
4- Cuộc bầu cử các tân Nghị Sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một (1) tháng trước khi phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ chấm dứt pháp nhiệm
ĐIỀU 34
Được quyền ứng cử Nghị Sĩ những công dân đủ ba mươi (30) tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị Sĩ và các điều kiện qui định ở Điều 32
ĐIỀU 35
1- Trong trường hợp khống khuyết Dân Biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn ba (3) tháng, nếu sự khống khuyết xảy ra trên hai (2) năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm
2- Trong trường hợp khô&ng khuyết Nghị Sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ gần nhất
ĐIỀU 36
Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân Biểu và Nghị Sĩ, kể cả Dân Biểu đồng bào Thiểu số, sẽ do những đạo luật quy định
ĐIỀU 37
1- Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc Hộ
2- Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ
3- Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan
4- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc Hội
5- Dân Biểu và Nghị Sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác
6- Dân Biểu và Nghị Sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật
7- Dân Biểu, Nghị Sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền
ĐIỀU 38
1- Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, Dân Biểu hay Nghị Sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền
2- Sự truất quyền phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ đề nghị
3- Quyết định truất quyền phải được ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ chấp thuận
4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền
ĐIỀU 39
Quốc Hội có thẩm quyền :
1- Biểu quyết các đạo luật
2- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế
3- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa
4- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh
5- Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chánh sách Quốc Gia
6- Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân Biểu hay Nghị Sĩ
ĐIỀU 40
1- Mỗi viện với một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ có quyền yêu cầu Thủ Tướng hay các nhân viên chính phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chánh sách quốc gia
2- Chủ tịch Uũy Ban của mỗi viện có quyền yêu cầu các nhân viên chánh phủ tham dự các phiên họp của Uũy Ban để trình bày về các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan
ĐIỀU 41
Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chánh sách quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này
ĐIỀU 42
1- Quốc Hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ
2- Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực
3- Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc Hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc Hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết
ĐIỀU 43
1- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các dự án luật
2- Tổng Thống có quyền đề nghị các dự thảo luật
3- Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật phải được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện
4- Trong mọi trường hợp Hạ Nghị Viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật. Viện này đều chuyển dự luật sang văn phòng Thượng Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn
5- Nếu Thượng Nghị Viện đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được chuyển sang Tổng Thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ
6- Nếu Thượng Nghị Viện không đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được gởi về văn phòng Hạ Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lý do
7- Trong trường hợp sau này, Hạ Nghị Viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu
8- Nếu Hạ Nghị Viện không hội đủ đa số hai phần ba (2/3) nói trên, quan điểm của Thượng Nghị Viện được coi là chung quyết
9- Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng Nghị Viện chỉ có thể bằng phân nửa (1/2) thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ Nghị Viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ Nghị Viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 44
1- Các dự luật được Quốc Hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng Thống trong thời hạn ba (3) ngày tròn
2- Thời gian ban hành là mười lăm (15) ngày tròn kể từ ngày Tổng Thống tiếp nhận dự luật
3- Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy (7) ngày tròn
4- Nếu Tổng Thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc Hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ Tịch Thượng Nghị Viện ban hành
ĐIỀU 45
1- Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật
2- Trong trường hợp này, Quốc Hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật vớ đa số quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Nếu Quốc Hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng Thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng Thống để ban hành
ĐIỀU 46
1- Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện trước ngày ba mươi tháng chín (30-09)
2- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương
3- Hạ Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một (30-11) và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến văn phòng Thượng Nghị Viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai (1-12)
4- Thượng Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai (31-12)
5- Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng Nghị Viện yêu cầu Hạ Nghị Viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục qui định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này Tổng Thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai (1/12) ngân sách thuộc tài khoá trước cho đến khi Hạ Nghị Viện chung quyết xong dự thảo ngân sách
ĐIỀU 47
1- Mỗi Viện họp những khóa thường lệ và những khóa ba^’t thường
2- Hằng năm mỗi viện họp hai khóa thường lệ. Một khóa họp bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi (90) ngày. Tuy nhiên Hạ Nghị Viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách
3- Mỗi viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ. Nế khóa họp bất thường do Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng Thống ấn định
ĐIỀU 48
1- Quốc Hội họp công khai trừ khi quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ hiện diện yêu cầu họp kín
2- Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc Hội sẽ được đăng trên Công Báo
ĐIỀU 49
1- Mỗi viện bầu Chủ Tịch và các nhân viên văn phòng
2- Mỗi viện thành lập các Uũy Ban thường trực và các Uũy Ban đặc biệt
3- Mỗi viện trọn quyền ấn định nội quy
4- Văn phòng hai (2) viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai (2) viện
ĐIỀU 50
1- Chủ Tịch Thượng Nghị Viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng viện
2- Trường hợp Chủ Tịch Thượng Nghị Viện bị ngăn trở, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện sẽ thay thế Chủ Tịch Thượng Nghị Viện trong nhiệm vụ này

CHƯƠNG IV: Hành Pháp 
ĐIỀU 51
Quyền Hành Pháp được Quốc Dân ủy nhiệm cho Tổng Thống
ĐIỀU 52
1- Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín
2- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là bốn (4) năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử một lần
3- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám (48) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lức ấy
4- Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày chúa nhật bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt
ĐIỀU 53
Được quyền ứng cử Tổng Thống hoạc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây :
1- Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử
Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà
2- Đủ ba mươi lăm (35) tuổi tính đến ngày bầu cử
3- Được hưởng các quyền công dân
4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch
5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống
ĐIỀU 54
1- Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả
2- Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử
3- Một đạo luật sẽ qui định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống
ĐIỀU 55
Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc Hội : “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ Quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ”
ĐIỀU 56
1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :
    a- Mệnh chung
    b- Từ chức
    c- Bị truất quyền
   d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa
2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ
Tổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới
3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền
4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống
ĐIỀU 57
Tổng Thống ban hành các đạo luật trong thời hạn qui định ở điều 44
ĐIỀU 58
1- Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng; theo đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống bổ nhiệm các nhân viên Chánh Phủ
2- Tổng Thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chánh Phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc Hội
ĐIỀU 59
1- Tổng Thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng Nghị Viện :
    a- Các trưởng nhiệm sở ngoại giao
    b- Viện Trưởng các viện Đại Học
2- Tổng Thống thay mặt Quốc Gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao
3- Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc Hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế
ĐIỀU 60
Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
ĐIỀU 61
1- Tổng Tống ban các loại huy chương
2- Tổng Thống có quyền ân xá và ân giảm hình phạt các phạm nhân
ĐIỀU 62
1- Tổng Thống hoạch định chánh sách quốc gia
2- Tổng Thống chủ tọa Hội Đồng Tổng Trưởng
ĐIỀU 63
1- Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống thông báo cho Quốc Hội biết tình hình quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh Phủ
2- Thủ Tướng và các nhân viên Chánh Phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc Hội hoặc của các Uũy Ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chánh sách quốc gia và sự thi hành chánh sách quốc gia
ĐIỀU 64
1- Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng Thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ
2- Quốc Hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai (12) ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi hoặc bải bỏ
3- Trong trường hợp Quốc Hội bải bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng Thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực
ĐIỀU 65
Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được, với sự chấp thuận của hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ, Tổng Thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số tỉnh trưởng
ĐIỀU 66
1- Phó Tổng Thống là Chủ tịch hội đồng văn hóa giáo dục, hội đồng kinh tế xã hội và hội đồng các Sắc Tộc thiểu số.
2- Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chánh phủ
ĐIỀU 67
1- Thủ Tướng điều khiển Chánh Phủ và các cơ cấu hành chánh quốc gia
2- Thủ Tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách quốc gia trước Tổng Thống
ĐIỀU 68
1- Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các nhân viên Chánh Phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không
2- Trong mọi trường hợp người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan công quyền
ĐIỀU 69
1- Hội Đồng An Ninh Quốc Gia có nhiệm vụ :
    - Nghiên cứ các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng
    - Đề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh quốc gia
    - Đề nghị tuyên bố tình trạng bắo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh
    - Đề nghị tuyên chiến hay nghị hòa
2- Tổng Thống là Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
ĐIỀU 70
1- Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như : xã, tỉnh, thị xã và thủ đô
2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương
ĐIỀU 71
1- Các cơ quan quyết định và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín
2- Riêng ở cấp xã, xã trưởng có thể do hội đồng xã bầu lên trong số các hội viên hội đồng xã
ĐIỀU 72
Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là :
    - Xã trưởng ở cấp xã
    - Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh
    - Thị trưởng ở cấp thị xã Đô trưởng ở thủ đô
ĐIỀU 74
Chánh Phủ bổ nhiệm bên cạnh các Đô Trưởng, Thị Trưởng, Xã Trưởng hai (2) viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác
ĐIỀU 75
Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến Pháp, luật pháp quốc gia hay chánh sách quốc gia.

CHƯƠNG V: Tư Pháp
ĐIỀU 76
1- Quyền Tư Pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án
2- Một đạo kuật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành ngành Tư Pháp
ĐIỀU 77
Mọi Tòa Án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ
ĐIỀU 78
1- Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có qui chế riêng biệt
2- Thẩm Phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện
3- Thẩm Phán công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp
ĐIỀU 79
Thẩm Phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỷ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất
ĐIỀU 80
1- Tối Cao Pháp Viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm Phán. Tối Cao Pháp Viện do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn bầu lên
2- Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện phải là những Thẩm Phán hay Luật Sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành Tư Pháp
3- Nhiệm kỳ của Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm
4- Thành phần cử tri thuộc Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn phải đồng đều
5- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện
ĐIỀU 81
1- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh
2- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng Hòa
3- Trong trường hợp này, Tối Cao Pháp Viện sẽ họp khoáng đại toàn viện, các đại diện Lập Pháp hoặc Hành Pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm
4- Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện
ĐIỀU 82
Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm
ĐIỀU 83
Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành Tư Pháp
ĐIỀU 84
1- Hội Đồng Thẩm Phán có nhiệm vụ :
    - Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỷ luật các Thẩm Phán xử án
    - Cố vấn Tối Cao Pháp Viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư Pháp
3- Hội Đồng Thẩm Phán gồm các Thẩm Phán xử án do các Thẩm Phán xử án bầu lên
4- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Thẩm Phán

CHƯƠNG VI: Các Định Chế Đặc Biệt
Đặc Biệt Pháp Viện
ĐIỀU 85
Đặc Biệt Pháp Viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện và các Giám Sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác
ĐIỀU 86
1- Đặc Biệt Pháp Viện do Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện giữ chức Chánh Thẩm và gồm năm (5) Dân Biểu và năm (5) Nghị Sĩ
2- KHI Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện là bị can, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện giữ chức Chánh Thẩm
ĐIỀU 87
1- Đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận
Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận
2- Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết
3- Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số nhân viên
4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố
5- Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các tòa án có thẩm quyền
6- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Đặc Biệt Pháp Viện
Giám Sát Viện
ĐIỀU 88
Giám Sát Viện có thẩm quyền :
1- Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia
2- Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh
3- Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỉ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện
4- Riêng đối với Chủ Tịch Giám Sát
5- Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách
ĐIỀU 89
1- Giám Sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền
2- Giám Sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra
ĐIỀU 90
1- Giám Sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) Giám Sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc Hội, một phần ba (1/3) do Tổng Thống và một phần ba (1/3) do Tối Cao Pháp Viện chỉ định
2- Giám Sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ
ĐIỀU 91
Giám Sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.
Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Giám Sát Viện
Hội Đồng Quân Lực
ĐIỀU 92
1- Hội Đồng Quân Lực cố vấn Tổng Thống về các vấn đề liên quan đến Quân Lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp
2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Quân Lực
Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
ĐIỀU 93
1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh Phủ soạn thảo và thực thi chánh sách văn hóa giáo dục
Một Lâm Viện Quốc Gia sẽ được thành lập
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội Đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 94
1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục gồm :
    - Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
    - Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử
2- Nhiệm kỳ củ Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội
ĐIỀU 95
1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 96
1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội gồm :
    - Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
    - Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức công kỹ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tánh cách kinh tế và xã hội đề cử
2- Nhiệm kỳ Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội
Hội Đồng các Sắc Tộc
ĐIỀU 97
1- Hội Đồng các Sắc Tộc có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng các Sắc Tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội Đồng các Sắc Tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 98
1- Hội Đồng các Sắc Tộc gồm có :
    - Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
    - Hai phần ba (2/3) hội viên do các Sắc Tộc Thiểu Số đề cử
2- Nhiệm kỳ Hội Đồng các Sắc Tộc là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng các Sắc Tộc

CHƯƠNG VII: Chính Đảng và Đối Lập
ĐIỀU 99
1- Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ
2- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định
ĐIỀU 100
Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng
ĐIỀU 101
Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị
ĐIỀU 102
Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị

CHƯƠNG VIII: Tu Chính Hiến Pháp
ĐIỀU 103
1- Tổng Thống, quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay quá bán (1/2) tổng số Nghị Sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến Pháp
2- Đề nghị phải viện dẫn lý do và được đệ nạp tại văn phòng Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 104
Một Uũy Ban lưỡng Viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến Pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng Viện
ĐIỀU 105
Quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ
ĐIỀU 106
Tổng Thống ban hành đạo luật tu chính Hiến Pháp theo thủ tục quy định ở Điều 44
ĐIỀU 107
Không thể huỷ bỏ hoặc tu chính điều một (1) và điều này của Hiến Pháp

CHƯƠNG IX: Điều khoản Chuyển Tiếp
ĐIỀU 108
Hiến Pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước Pháp tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (19.06.1965) đương nhiên hết hiệu lực
ĐIỀU 109
Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đại diện Quốc Dân trong phạm vi lập pháp
1- Soạn thảo và chung quyết :
    - Các đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống, Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện
    - Cá đạo luật tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát Viện
    - Các quy chế chánh đảng và báo chí
2- Phê chuẩn các Hiệp Ước
ĐIỀU 110
Kể từ khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đảm nhiệm quyền Lập Pháp cho đến khi Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được triệu tập
ĐIỀU 111
Trong thời gian chuyển tiếp, Uũy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Uũy Ban Hành Pháp Trung Ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức
ĐIỀU 112
Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa Aùn hiện hành vẫn tiếp tục hành xử quyền Tư Pháp cho đến khi các định chế Tư Pháp qui định trong Hiến Pháp này được thành lập
ĐIỀU 113
Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức và tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1)
ĐIỀU 114
Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng Thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng
ĐIỀU 115
Cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống phải được tổ chức chậm nhất sáu (6) tháng kể từ ngày ban hành Hiến Pháp này
ĐIỀU 116
Cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Pháp, việc tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát
Chủ Tịch Ủy Ban Thảo Hiến
ĐINH THÀNH CHÂU
Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai (12) tháng kể từ ngày Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức
ĐIỀU 117
Các cơ cấu khác do Hiến Pháp qui định phải được thiết lập chậm nhất là hai (2) năm kể từ ngày Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được thành lập
Bản Văn Hiến Pháp này đã được Quốc Hội chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng ba năm 1967

Sài gòn, ngày 18 tháng 3 năm 1967
Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến

PHAN KHẮC SỬU

Nguồn: http://hqvnch.org





HIẾN PHÁP

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

NĂM 1992

 

LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Tiếp đó, suốt mấy chục năm, nhân dân các dân tộc nước ta đã liên tục chiến đấu, với sự giúp đỡ quý báu của bè bạn trên thế giới, nhất là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, lập nên những chiến công oanh liệt, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân và đế quốc, giải phóng đất nước, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc hội nước Việt Nam thống nhất đã quyết định đổi tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế.

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980.

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng. Quốc hội quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.

Hiến pháp này quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

CHƯƠNG I

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

Điều 1

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức.

Điều 3

Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 5

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

Điều 6

Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Điều 7

Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.

Điều 8

Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng.

Điều 9

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.

Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.

Điều 10

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 11

Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng.

Điều 12

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.

Điều 13

Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Mọi âm mưu và hành động chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đều bị nghiêm trị theo pháp luật.

Điều 14

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng; tích cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

CHƯƠNG II

CHẾ ĐỘ KINH TẾ

Điều 15

Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Điều 16

Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới.

Điều 17

Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 18

Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.

Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài.

Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật.

Điều 19

Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

Điều 20

Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi.

Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

Điều 21

Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.

Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.

Điều 22

Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ.

Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Điều 23

Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá.

Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường.

Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Điều 24

Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước.

Điều 25

Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.

Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.

Điều 26

Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách; phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý Nhà nước giữa các ngành, các cấp; kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước.

Điều 27

Mọi hoạt động kinh tế, xã hội và quản lý Nhà nước phải thực hành chính sách tiết kiệm.

Điều 28

Mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng.

Điều 29

Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường.

 

CHƯƠNG III

VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

Điều 30

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục.

Điều 31

Nhà nước tạo điều kiện để công dân phát triển toàn diện, giáo dục ý thức công dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giữ gìn thuần phong mỹ tục, xây dựng gia đình có văn hóa, hạnh phúc, có tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, có tinh thần quốc tế chân chính, hữu nghị và hợp tác với các dân tộc trên thế giới.

Điều 32

Văn học, nghệ thuật góp phần bồi dưỡng nhân cách và tâm hồn cao đẹp của người Việt Nam.

Nhà nước đầu tư phát triển văn hoá, văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.

Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn học, nghệ thuật, khuyến khích các hoạt động văn học, nghệ thuật quần chúng.

Điều 33

Nhà nước phát triển công tác thông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, xuất bản, thư viện và các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam.

Điều 34

Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hoá dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hoá, các công trình nghệ thuật, các danh lam, thắng cảnh.

Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử, cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh lam, thắng cảnh.

Điều 35

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu.

Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giầu nước mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 36

Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng.

Nhà nước phát triển cân đối hệ thống giáo dục: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiêp, giáo dục đại học và sau đại học, phổ cập giáo dục tiểu học, xoá nạn mù chữ; phát triển các hình thức trường quốc lập, dân lập và các hình thức giáo dục khác.

Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.

Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên bảo đảm phát triển giáo dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt khó khăn.

Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Điều 37

Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Nhà nước xây dựng và thực hiện chính sách khoa học, công nghệ quốc gia; xây dựng nền khoa học, công nghệ tiên tiến; phát triển đồng bộ các ngành khoa học nhằm xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách và pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.

Điều 38

Nhà nước đầu tư và khuyến khích tài trợ cho khoa học bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, ưu tiên cho những hướng khoa học, công nghệ mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật nhất là những người có trình độ cao, công nhân lành nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện để các nhà khoa học sáng tạo và cống hiến; phát triển nhiều hình thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học, đào tạo với sản xuất, kinh doanh.

Điều 39

Nhà nước đầu tư, phát triển và thống nhất quản lý sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, huy động và tổ chức mọi lực lượng xã hội xây dựng và phát triển nền y học Việt Nam theo hướng dự phòng; kết hợp phòng bệnh với chữa bệnh; phát triển và kết hợp y dược học cổ truyền với y dược học hiện đại; kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ.

Nhà nước ưu tiên thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào miền núi và dân tộc thiểu số.

Nghiêm cấm tổ chức và tư nhân chữa bệnh, sản xuất, buôn bán thuốc chữa bệnh trái phép gây tổn hại cho sức khoẻ của nhân dân.

Điều 40

Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình.

Điều 41

Nhà nước và xã hội phát triển nền thể dục, thể thao dân tộc, khoa học và nhân dân.

Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục, thể thao; quy định chế độ giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học; khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục, thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo các điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao.

Điều 42

Nhà nước và xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế.

Điều 43

Nhà nước mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực văn hoá, thông tin, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao.

 

CHƯƠNG IV

BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Điều 44

Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định.

Điều 45

Các lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng, cùng toàn dân xây dựng đất nước.

Điều 46

Nhà nước xây dựng quân đội nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xây dựng lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu trên cơ sở kết hợp xây dựng với bảo vệ Tổ quốc, kết hợp sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân với sức mạnh của toàn dân, kết hợp sức mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Điều 47

Nhà nước xây dựng công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm sự ổn định chính trị và các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng ngừa và chống các loại tội phạm.

Điều 48

Nhà nước phát huy tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh cho toàn dân, thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm trang bị cho lực lượng vũ trang, kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ và chiến sĩ, công nhân, nhân viên quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh, không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ đất nước.

 

CHƯƠNG V

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN

Điều 49

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.

Điều 50

ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật.

Điều 51

Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội.

Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định.

Điều 52

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Điều 53

Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Điều 54

Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 55

Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động.

Điều 56

Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động.

Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

Điều 57

Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 58

Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất được Nhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18.

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.

Điều 59

Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Bậc tiểu học là bắt buộc, không phải trả học phí.

Công dân có quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều hình thức.

Học sinh có năng khiếu được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng.

Nhà nước có chính sách học phí, học bổng.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hoá và học nghề phù hợp.

Điều 60

Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp.

Điều 61

Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.

Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí.

Công dân có nghĩa vụ thực hiện các quy định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng.

Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm.

Điều 62

Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch và pháp luật. Quyền lợi của người thuê nhà và người có nhà cho thuê được bảo hộ theo pháp luật.

Điều 63

Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình.

Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.

Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật.

Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ.

Điều 64

Gia đình là tế bào của xã hội.

Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình.

Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt. Con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ.

Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con.

Điều 65

Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

Điều 66

Thanh niên được gia đình, Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc.

Điều 67

Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thương binh được tạo điều kiện phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có đời sống ổn định.

Những người và gia đình có công với nước được khen thưởng, chăm sóc.

Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.

Điều 68

Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật.

Điều 69

Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.

Điều 70

Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.

Điều 71

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân.

Điều 72

Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.

Điều 73

Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.

Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.

Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật.

Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật.

Điều 74

Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào.

Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định.

Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự.

Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.

Điều 75

Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Nhà nước tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước.

Điều 76

Công dân phải trung thành với Tổ quốc.

Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất.

Điều 77

Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân.

Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân.

Điều 78

Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng.

Điều 79

Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng.

Điều 80

Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy định của pháp luật.

Điều 81

Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam.

Điều 82

Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

 

CHƯƠNG VI

QUỐC HỘI

Điều 83

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.

Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.

Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Điều 84

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

2- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

3- Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;

4- Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

5- Quyết định chính sách dân tộc của Nhà nước;

6- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương;

7- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và an ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

8- Quyết định thành lập, bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;

9- Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội;

10- Quyết định đại xá;

11- Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp Nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

12- Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

13- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia theo đề nghị của Chủ tịch nước;

14- Quyết định việc trưng cầu ý dân.

Điều 85

Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm.

Hai tháng trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong. Thể lệ bầu cử và số đại biểu Quốc hội do luật định.

Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình.

Điều 86

Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập.

Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.

Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và do Chủ tịch Quốc hội khoá trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khoá mới.

Điều 87

Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội.

Thủ tục trình Quốc hội dự án luật, kiến nghị về luật do luật định.

Điều 88

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, trừ các trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội quy định tại Điều 7, rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội quy định tại Điều 85 và sửa đổi Hiến pháp quy định tại Điều 147, thì phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

Luật, nghị quyết của Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua.

Điều 89

Quốc hội bầu Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội và căn cứ vào báo cáo của Uỷ ban mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội.

Điều 90

Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có:

- Chủ tịch Quốc hội;

- Các Phó Chủ tịch Quốc hội;

- Các ủy viên.

Số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội của mỗi khoá Quốc hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Uỷ ban thường vụ Quốc hội mới.

Điều 91

Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;

2- Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;

3- Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

4- Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao;

5- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

6- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân;

7- Chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội;

8- Trong thời gian Quốc hội không họp, phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

9- Trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và trình Quốc hội phê chuẩn quyết định đó tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội;

10- Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

11- Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

12- Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.

Điều 92

Chủ tịch Quốc hội chủ toạ các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.

Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.

Điều 93

Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại.

Điều 94

Quốc hội bầu Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên.

Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phải tham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc.

Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc.

Hội đồng dân tộc còn có những nhiệm vụ, quyền hạn khác như các Uỷ ban của Quốc hội quy định tại Điều 95.

Hội đồng dân tộc có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 95

Quốc hội bầu các Uỷ ban của Quốc hội.

Các Uỷ ban của Quốc hội nghiên cứu, thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, dự án pháp lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội giao; trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vị hoạt động của Uỷ ban.

Mỗi Uỷ ban có một số thành viên làm việc theo chế độ chuyên trách.

Điều 96

Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và viên chức Nhà nước hữu quan khác trình bày hoặc cung cấp tài liệu về những vấn đề cần thiết. Người được yêu cầu có trách nhiệm đáp ứng yêu cầu đó.

Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm nghiên cứu và trả lời những kiến nghị của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội.

Điều 97

Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.

Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó.

Đại biểu Quốc hội phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.

Điều 98

Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Người bị chất vấn phải trả lời trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.

Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời hạn luật định.

Điều 99

Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội.

Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định.

Điều 100

Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu.

Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.

 

CHƯƠNG VII

CHỦ TỊCH NƯỚC

Điều 101

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại.

Điều 102

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới bầu Chủ tịch nước mới.

Điều 103

Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

2- Thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh;

3- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

4- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

5- Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá;

6- Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

7- Đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua; nếu pháp lệnh, nghị quyết đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

8- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

9- Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm cấp Nhà nước khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước;

10- Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu Nhà nước khác; quyết định phê chuẩn hoặc tham gia điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định;

11- Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

12- Quyết định đặc xá.

Điều 104

Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ủy viên.

Chủ tịch nước đề nghị danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội phê chuẩn. Thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Hội đồng quốc phòng và an ninh động viên mọi lực lượng và khả năng của nước nhà để bảo vệ Tổ quốc.

Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt.

Hội đồng quốc phòng và an ninh làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 105

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ.

Điều 106

Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Điều 107

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.

Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ.

Điều 108

Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch.

Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.

CHƯƠNG VIII

CHÍNH PHỦ

Điều 109

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Điều 110

Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội.

Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.

Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của Chính phủ.

Điều 111

Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

Điều 112

Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;

2- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân;

3- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

4- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước;

5- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường;

6- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

7- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;

8- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại của Nhà nước; ký kết, tham gia, phê duyệt điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

9- Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

10- Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

11- Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.

Điều 113

Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ mới.

Điều 114

Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; chủ toạ các phiên họp của Chính phủ;

2- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ; trình Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;

3- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

4- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên;

5- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

6- Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.

Điều 115

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.

Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 116

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở.

Điều 117

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.

CHƯƠNG IX

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN

Điều 118

Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:

Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã;

Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.

Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định.

Điều 119

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

 

 

Điều 120

Căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.

Điều 121

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý Nhà nước.

Điều 122

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân. Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời hạn do luật định.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan Nhà nước ở địa phương. Người phụ trách cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.

Điều 123

Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân.

Điều 124

Uỷ ban nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định, ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân.

Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của các cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân và các văn bản sai trái của Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới, đồng thời đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ những nghị quyết đó.

 

Điều 125

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân và được mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương.

CHƯƠNG X

TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Điều 126

Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Điều 127

Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.

ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.

Điều 128

Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

Chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân ở Toà án nhân dân các cấp do luật định.

Điều 129

Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

 

Điều 130

Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Điều 131

Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.

Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.

Điều 132

Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình.

Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Điều 133

Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án.

Điều 134

Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự.

Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập Toà án đó.

Điều 135

Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Chánh án Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân.

Điều 136

Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

Điều 137

Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm do luật định.

Điều 138

Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Việc thành lập Uỷ ban kiểm sát, những vấn đề Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân có quyền quyết định, những vấn đề quan trọng mà Uỷ ban kiểm sát phải thảo luận và quyết định theo đa số do luật định.

Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.

Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.

Điều 139

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.

Điều 140

Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân.

CHƯƠNG XI

QUỐC KỲ, QUỐC HUY, QUỐC CA

THỦ ĐÔ, NGÀY QUỐC KHÁNH

Điều 141

Quốc kỳ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.

Điều 142

Quốc huy nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, chung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Điều 143

Quốc ca nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài "Tiến quân ca".

Điều 144

Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.

Điều 145

Ngày tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945 là ngày Quốc khánh.

CHƯƠNG XII

HIỆU LỰC CỦA HIẾN PHÁP

VÀ VIỆC SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Điều 146

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Điều 147

Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.

----------------------------------

Bản Hiến pháp này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nan khoá VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1992, hồi 11 giờ 45 phút.

 Chủ Tịch Quốc Hội

Nông Đức Mạnh
( Đã Ký )

 Nguồn: http://vbqppl.moj.gov.vn/law/vi




NHẬN XÉT TỔNG QUÁT VỀ
HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 NĂM 1992

Luật Sư Đào Tăng Dực


                 (Trích cuốn “Việt Nam Dân Chủ Tranh Đấu Luận” của Luật Sư Đào Tăng Dực, Việt Luận Xuất Bản năm 1997,tt172-194, Tại Sydney, Úc Đại Lợi)

         Trong khi hàng ngũ quốc gia chưa được củng cố thực sự thì người cộng sản đã có những biện pháp trên nguyên tắc để biện minh cho
         sự hiện hữu tiếp tục của họ trong lịch sử, và trên thực tế, để củng cố quyền hành của đảng.
         Đó là sự sáng tạo và đề cao quan điểm mà họ mệnh danh một cách kiêu sa là “Pháp chế xã hội chủ nghiã”, được thể hiện trọn vẹn trong
          bản hiến pháp 1992. Sau khi đã đọc bản hiến pháp này rồi thì chúng ta nhận thấy rằng, nếu các đảng phái quốc gia làm cho chúng ta thất
        vọng vì tính chất thiếu chuyên nghiệp của họ như là những tổ chức chính trị, thì đảng cộng sản Việt Nam lại càng làm cho chúng ta thất
       vọng lớn lao hơn vì sự thiếu lương tri và lòng tham không đáy của họ.
       Thật vậy ngày 19.7.1992, người cộng sản Việt Nam cho bầu quốc hội theo hiến pháp mới. Là những người Việt quan tâm đến vận mệnh
       của đất nước, khi đọc bản hiến pháp năm 1992, ở mặt tiêu cực chúng ta nhận thấy văn kiện này chỉ nhằm thể hiện quyền lợi cá nhân của
       một số lãnh tụ chóp bu của đảng cộng sản Việt Nam qua các phương thức sau đây:

      1. Tạo ra một bản hiến pháp với một hệ thống quyền lực phức tạp nhưng dưới sự khống chế tuyệt đối của đảng CSVN, để đảng
       này có thể  phân chia quyền lợi cho nhiều lãnh tụ và phe phái khác nhau trong giới lãnh đạo đảng, hầu tránh sự đổ vỡ nội bộ.


       2. Với một tinh thần “sáng tạo” mà không một luật gia nào của thế giới văn minh có thể hiểu nổi, cộng sản Việt Nam đưa ra một quan
       niệm gọi là “pháp chế xã hội chủ nghĩa” để làm căn bản cho bản hiến pháp (điều 12). Bởi vì chế độ “pháp chế xã hội chủ nghĩa” là
       một chế độ rất “sáng tạo” nên, theo bản hiến pháp này, đảng Cộng Sản Việt Nam, qua các đoàn thể ngoại vi (nhất là Mặt Trận
      Tổ Quốc) muốn làm gì thì làm.
      Chính vì vậy, chế độ “pháp chế xã hội chủ nghĩa” mang nhiều đặc tính mà các luật gia thế giới văn minh thấy rất gần gũi
       với “luật rừng”. Có nghĩa là thật sự không có luật lệ gì cả, vì luật lệ chỉ là sự phát huy (manifestation) ý chí của kẻ có sức mạnh.

3. Nới lỏng quyền tư hữu một chút, trong niềm tin tưởng chủ quan rằng người dân Việt Nam không giống những con người khác trên thế giới như Tân Gia Ba, Đài Loan, Đại Hàn, Úc, Thái Lan, Hoa Kỳ, Pháp... Người Việt Nam chỉ cần có một chút cơm ăn là đủ, không cần suy nghĩ nhân phẩm, nhân quyền gì cả. Cộng sản Việt Nam hy vọng rằng như một đám súc vật, dân Việt Nam sau khi được cho ăn đủ sống sẽ chấp nhận làm nô lệ cho cộng sản Việt Nam cả đời.

Tuy nhiên ở bình diện tích cực, bản hiến pháp năm 1992 của cộng sản Việt Nam qui định chính thức vị trí đứng của đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ vị trí đứng “kỳ quặc” nhưng rõ rệt này, chúng ta có thể đả phá cộng sản Việt Nam một cách rốt ráo trên cả hai bình diện: đấu tranh quần chúng và quốc tế vận, để đưa đến sự cáo chung nhanh chóng của bản hiến pháp này, hầu thiết lập một thể chế dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên trên quê hương Việt Nam.
Vì các lãnh tụ đảng cộng sản Việt Nam mang nhiều bản chất của một tập thể lãnh đạo một quốc gia chậm tiến, sống nhiều với quá khứ, thiếu sự hiểu biết về những nguyên tắc căn bản để quản trị quốc gia hiện đại, cá nhân các lãnh tụ muốn chia chác quyền lợi, nên bản hiến pháp 1992 được uốn nắn để thể hiện các đặc tính nêu trên.

                 a.    Lời nói đầu của bản hiến pháp

   Trong một kỷ nguyên mà ý thức hệ đã hoàn toàn bị đẩy lui vào bóng tối của lịch sử, để nhường bước cho ánh sáng của trí tuệ và khoa học, thì hiến pháp này mở đầu bằng sự ca ngợi đảng Cộng Sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác Lê.
Sự kiện đảng Cộng Sản Việt Nam ngoan cố giam giữ tinh thần sáng tạo của dân tộc Việt Nam trong cái khung thoái hóa và nhỏ bé của ý thức hệ Mác-xít, mặc dù chính người cộng sản không còn tin tưởng nơi ý thức hệ này nữa, là một sự phản bội tổ quốc lớn lao nhất của lịch sử Việt nam.

               b.    Chế độ chính trị của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

   Chế độ chính trị được qui định bằng các điều khoản trong chương 1 của hiến pháp 1992. Chương 1 nói lên một cách rõ rệt tính cách độc tài đảng trị của chế độ qua các điều khoản sau đây:

1. Điều 4: Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

2. Điều 9: Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam (MTTQ) và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt Trận Tổ Quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả.

3. Điều 10: Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Qua điều 4, đảng CSVN xác quyết tính cách độc đảng trên nguyên tắc. Qua các điều 9 và 10, đảng CSVN hiến định hóa sự cai trị độc đảng qua 2 cơ sở ngoại vi của đảng là Mặt Trận Tổ quốc và Công Đoàn. Chẳng hạn Mặt Trận Tổ Quốc có quyền “giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử” như theo điều 9 của hiến pháp.
Dưới con mắt của luật pháp tại các nước tự do thì đó là phản dân chủ và không nước nào dám làm, lý do là vì Mặt Trận Tổ Quốc không có tư cách đại diện dân cử và do một đảng chính trị giật dây. Tuy nhiên, dưới chế độ “pháp chế xã hội chủ nghĩa” thì đảng CSVN không có đối lập, nên không ai dám phản đối cả, cứ như thế mà làm ra hiến pháp.
Sự hiến định hóa chế độ độc tài đảng trị của đảng CSVN là thành quả đương nhiên của một hiện tượng thoái hóa mà các nhà xã hội học thường gọi là quá trình thể chế hóa phương tiện (Institutionalisaction des Moyens).
Đảng CSVN là một ví dụ rất dễ hiểu của quá trình này. Chẳng hạn, trên nguyên tắc đảng CSVN được thành lập với mục đích xây dựng độc lập và thiên đường cộng sản cho dân tộc Việt Nam. Như thế đảng chỉ là phương tiện, và một khi nước nhà đã được độc lập và thiên đường cộng sản được xây dựng, thì phương tiện đó phải triệt tiêu.
Tuy nhiên, mặc dù nước nhà tuy độc lập, và cộng sản chủ nghĩa đã đổ vỡ toàn diện trên khắp thế giới và ngay trong lòng của từng đảng viên cộng sản Việt Nam, thì những tay lãnh đạo già nua của đảng vẫn không chịu dẹp đảng. Trái lại, những người này biến đảng này từ một phương tiện trở thành một thể chế (institution), có tính cách trường tồn, không lệ thuộc vào các mục tiêu khởi đầu khi đảng được thành lập nữa.
Trong hoàn cảnh dân tộc Việt Nam lại càng bi đát hơn, vì đảng CSVN lại là “thể chế” nắm quyền duy nhất mà không có đối lập. Với một tình huống như vậy, hậu quả đương nhiên là việc quản trị hành chánh, kinh tế sẽ vô cùng thiếu hiệu năng. Đồng thời sự tham nhũng và bất công xã hội sẽ gia tăng mãi mãi, vì quyền lực được tập trung vào một đảng duy nhất, không có một cơ quan nào độc lập ngoài đảng để kiểm soát, thay thế để chấn chỉnh và đưa quốc gia tiến lên, cạnh tranh trong một thế giới mà sự làm việc hiệu năng là yếu tố tương tranh giữa các dân tộc.
Tóm lại từ một đảng phái là công cụ của dân tộc, quá trình thể chế hóa phương tiện đã biến cả dân tốc Việt Nam trở thành một công cụ khổng lồ để phục vụ cho quyền lợi và tham vọng cá nhân của một số lãnh tụ chóp bu của đảng. Hơn nữa, toàn bộ bản hiến pháp 1992 và đặc biệt là Chương 1 (chế độ chính trị), là bằng chứng hùng hồn rằng các lãnh tụ cộng sản đã mất đi khả năng ý thức khách quan về thời gian tính của lịch sử. Họ đang sống ở ngưỡng cữa của thế kỷ 21, ở thời điểm mà các quan niệm về tự do dân chủ, nhân quyền, đa nguyên đang nở hoa ngay tại cựu đế quốc xã hội chủ nghĩa Liên Sô, mà họ vẫn mơ mộng độc tài đảng trị của các thập niên 40 và muốn đi ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại.
Thêm vào đó, sự bám víu trên nguyên tắc vào các điều 4, 9 và 10 của hiến pháp còn biểu lộ một thực tại bi đát nữa của nhóm lãnh tụ cộng sản này. Đó là họ không còn nhận thức một cách sáng suốt là đảng CSVN không còn khả năng kiểm soát hàng ngũ đảng viên và các cơ cấu ngoại vi một cách tuyệt đối nữa. Kết quả là hiến pháp khắc ghi trên nguyên tắc một thể chế chính trị sắt máu kiểu Stalin, trong khi những điều kiện khách quan cho thấy đảng CSVN không thể nào khống chế xã hội và chính quyền theo kiểu Stalin được nữa, vì cán bộ đã thoái hóa, tham nhũng cùng cực, mất niềm tin và bi quan cho tương lai của đảng.

            c.    Chế độ kinh tế



Chương 2, nói về chế độ kinh tế, có nhiều khía cạnh tương đối mới mẻ. Tuy nhiên, sau khi phân tích kỹ lưỡng, chúng ta sẽ thấy sự cải tổ kinh tế nửa vời này sẽ không giải quyết được vấn đề kinh tế dài hạn cho Việt Nam, vì cộng sản Việt Nam còn bị ý thức hệ giáo điều ràng buộc quá nhiều. Hơn nữa, các điều khoản qui định chế độ kinh tế (từ điều 15 đến điều 29) không thể được hiểu như những điều khoản độc lập, mà phải được hiểu như là những thành phần bất khả phân ly với toàn diện bản hiến pháp.
Chính vì thế, tính cách độc tài đảng trị của các điều khoản qui định chế độ chính trị, tính cách thiếu vô tư và độc lập của những điều khoản qui định quyền tư pháp (Toà án Nhân dân và Viện Kiểm soát nhân dân)... sẽ vô hiệu hoá phần lớn những khía cạnh tích cực của các điều khoản qui định chế độ kinh tế, nhất là các điều khoản qui định tư hữu và kinh tế thị trường.
Một cách tóm lược, sau đây là những điều khoản quan trọng của Chương 2:

1. Điều 15: Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

2. Điều 18:...nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, xử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất được nhà nước giao theo qui định của pháp luật.

3. Điều 19: Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những ngành và lãnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

4. Điều 20: Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

5. Điều 21: Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được cho hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.

6. Điều 23: Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, hoặc tổ chức theo thời giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.
Nêu trên là những điều khoản quan trọng nhất của bản hiến pháp 1992, trên phương tiện cải tổ kinh tế. Đây là phương tiện duy nhất có những tiến bộ thật sự. Tuy nhiên dù ở phương diện này, sự cải tổ còn quá nhiều khuyết điểm, sẽ di hại về sau cho nền kinh tế quốc gia, nhất là khi nền kinh tế đã vượt qua được giai đoạn phát triển căn bản và đang đứng trước ngưỡng cữa của sự cất cánh thật sự.

   Trước hết, cộng sản Việt Nam hy vọng rằng khi nới rộng về kinh tế, nhưng siết chặt về chính trị, họ sẽ khai phóng một phần nào khả năng sáng tạo vật chất của người Việt Nam, ổn định và phát triển kinh tế, đồng thời giữ được độc quyền chính trị theo kiểu Singapore, Đài Loan hoặc Nam Hàn và Nhật Bổn.
Tuy nhiên họ đã quên những sự sai biệt căn bản giữa thể chế chính trị tại Việt Nam và tại các nước nêu trên.

   Trước hết trên bình diện thể chế, các nước nêu trên không được dân chủ bằng các nước Tây phương mà thôi, chứ các nước đó không phải có những thể chế độc tài tuyệt đối hoặc độc đảng. Các đảng đối lập thật sự vẫn hiện hữu tại các quốc gia Á châu nói trên. Mọi người dân đều thật sự được ứng cử vào các chức vụ chính quyền, chứ không phải bắt buộc phải được Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu mới được ra ứng cử như theo luật bầu cử quốc hội cộng sản Việt Nam.
Chính vì thế, tinh thần tự do sáng tạo của các dân tộc trên ở mức độ cao hơn tại Việt Nam.

  Thứ đến là các quốc gia Á châu nói trên đều đặt nền kinh tế của họ trên “một quan điểm tuyệt đối và triệt để về tư hữu”, không hề bị một chút hoen ố gì về ý thức hệ Mác-Lê. Chỉ có như thế, họ mới khai phóng được toàn diện khả năng sáng tạo vật chất của toàn dân, theo kịp cá nước Tây phương, trong một thế giới mà sự cạnh tranh về kinh tế vô cùng gắt gao.
Trong khi đó thì toàn thể hiến pháp 1992 và ngay cả chương 2 nói về chế độ kinh tế, đều bày tỏ rõ rệt ý thức hệ Mác-Lê lỗi thời. Chúng ta có thể ví dụ nước Việt Nam theo hiến pháp cộng sản này, như một người đã ốm yếu bệnh hoạn rồi, mà còn phải gánh thêm một sức nặng ngàn cân (ý thức hệ Mác-Lê) trong một cuộc chạy đua kinh tế với các lực sĩ Singapore, Đài Loan, Nam Hàn... đã khỏe rồi mà không phải khuân vác gì thêm cả.
Thật vậy, chỉ trong chương 2 thôi, chúng ta thấy rõ ý thức hệ Mác-Lê qua các quan điểm: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.... theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa” (điều 15).
Mặc dầu nền kinh tế gồm có 3 thành phần rõ rệt: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và kinh tế cá thể, bản hiến pháp hầu như qui định một cách rõ rệt thứ tự ưu tiên của 3 thành phần trên:

(i) Kinh tế quốc doanh là ưu tiên số một (điều 19).
(ii) Thứ đến là kinh tế tập thể như hợp tác xã (điều 20).
(iii) Sau chót là kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân (điều 21).

Thứ tự ưu tiên trên cho chúng ta thấy quan niệm về tư hữu trong hiến pháp là một quan niệm có thứ tự ưu tiên chót. Không thể so sánh với quan điểm tích cực và tuyệt đối về tư hữu của Singapore, Đài Loan, Nam Hàn và Nhật Bổn được.

   Ngoài ra, một hiểm họa lớn cho nền kinh tế quốc gia, là bản hiến pháp này sẽ tạo ra một hiện tượng “tê liệt kinh niên của nền kinh tế như các quốc gia Châu Mỹ La Tinh”, hoặc Ấn độ. Lý do là vì nền kinh tế quốc doanh, đã và đang là một nền kinh tế thiếu hiệu năng, tham nhũng, nay được chính thức hiến định hóa để trở thành căn bản của kinh tế quốc gia, sẽ làm cho quốc gia vỡ nợ nhanh chóng hơn. Thêm vào đó, kinh tế tập thể (một hình thức hợp tác xã) không phải là một hình thức tổ chức kinh doanh có hiệu năng cao nhất. Thật vậy, trong môi trường cạnh tranh ráo riết về kinh tế thế giới hiện nay, các hợp tác xã chỉ là những tàn tích của một quan niệm tổ chức kinh tế lỗi thời.
 
  Hiến định hóa vị trí ưu tiên của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể (hợp tác xã) so với kinh tế cá thể và tư bản tư nhân, trong thời điểm này, là một hành động cố chấp, vô trách nhiệm và sẽ di hại nặng nề cho nền kinh tế quốc gia. Trên phương diện luật hiến pháp (constitutional law) thì ngay cả khi chính phủ muốn tư hữu hóa những cơ sở kinh tế quốc doanh lỗ lã, thiếu hiệu năng, cũng chưa chắc được vì theo tinh thần của hiến pháp, sẽ là một hành động vi hiến.
Chính vì những khuyết điểm trên, Chương 2 của bản hiến pháp này sẽ đưa nước Việt Nam vào hàng ngũ của các quốc gia bệnh hoạn trầm kha về kinh tế như các quốc gia Châu Mỹ La Tinh, trong suốt nhiều thập niên của thế kỷ 21.
 
  Hơn nữa, điều 23 (dẫn thượng), trong một chế độ độc đảng, không thể bảo đảm quyền tư hữu được. Lý do là vì đảng Cộng Sản Việt Nam là trung tâm quyền lực bao trùm cả 3 ngành: Hành pháp (gồm quân đội và công an), Lập pháp (các dân biểu bù nhìn) và Tư pháp (tòa án thật sự chỉ theo lệnh đảng). Dù cho Hành pháp có trắng trợn vi hiến và tước đoạt quyền tư hữu của một cá nhân, thì không có một tòa án nào dám bênh vực cho cá nhân ấy.
Các dân biểu bù nhìn sẽ không ngần ngại tuân lệnh đảng, đưa ra những luật lệ ngang nhiên vi hiến, tước quyền tư hữu. Lúc đó cũng sẽ không có một tòa án nào lên tiếng được, vì ý kiến của đảng sẽ là tuyệt đối và không có đối lập.

   Quan điểm “tư hữu” trong hiến pháp như vậy chỉ là một quan điểm nửa vời mà cộng sản Việt Nam buộc lòng phải xử dụng qua loa để mong sống còn, chứ không phải một sự cải tổ kinh tế thật sự để đưa quốc gia vào đà phát triển chung của thế giới.
Trên bình diện nhu cầu kinh tế, quốc gia Việt Nam, vì đã qua hơn 40 năm cộng sản tại miền Bắc, hơn 20 năm cộng sản tại miền Nam, không còn trì hoãn được. Yếu tố thời gian vô cùng cấp bách. Một quan điểm tích cực và toàn diện về tư hữu như các nước Singapore, Đài Loan cũng chưa chắc đã giải quyết được phương trình kinh tế Việt Nam, huống hồ là một quan điểm tư hữu què quặc, nặng mùi ý thức hệ và tham quyền cố vị của những người cộng sản Việt Nam. Những mức độ phát triển kinh tế tương đối khả dĩ hiện nay (GDP: 9.5% cho 1996, 9.5% cho 1995 và 8.8% cho 1994 theo tạp chí The Vietnam Business Journal,op. cit. tr.16) một phần phản ảnh sự bộc phát không kềm hãm được của một nền kinh tế từ lâu bị một bàn tay sắt khống chế, và một phần phản ảnh mức độ kinh tế thấp một cách cưỡng bách giả tạo của một quốc gia quá nghèo. Một khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ cao hơn và đứng trước ngưỡng cữa của thế giới những quốc gia tự do về kinh tế thật sự, thì nội dung trên của bản hiến pháp sẽ biến thành một trở lực lớn lao cho dân tộc.

   Chúng ta phải đau buồn mà kết luận rằng trong cuộc thử thách lớn lao này, người cộng sản Việt Nam cũng như giới sĩ phu triều Nguyễn, chứng tỏ rõ ràng với dân tộc và lịch sử rằng, họ đã đặt quyền lợi của phe nhóm và cá nhân trên quyền lợi của dân tộc Việt Nam.

   Sau cùng, bản hiến pháp 1992 một lần nữa hiến định hoá sự độc đảng. Với sự độc đảng này, tệ nạn tham nhũng vốn đã là một căn bệnh kinh niên không thuốc chữa (vì không có đối lập) sẽ trở nên tệ hại hơn đưa đến sự đổ vỡ xã hội và có thể kéo theo luôn sự cáo chung của chính đảng Cộng Sản Việt Nam. Có thể nói, bằng cách hiến định hóa sự độc đảng, cộng sản Việt Nam đã gián tiếp hiến định hóa sự tham nhũng theo câu châm ngôn phổ thông là “quyền lực tuyệt đối sẽ làm tham nhũng tuyệt đối” (Absolute power corrupts absolutely).

        d.    Chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ

  Chương 3 của bản hiếp pháp qui định chế độ này. Điều đáng tiếc là chế độ văn hóa giáo dục có quá nhiều yếu tố ý thức hệ lỗi thời, trong một kỷ nguyên mà khoa học, nhân bản, nhân quyền đã chói sáng khắp nơi trên thế giới.

Thật vậy, điều 30 nói đến “tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động”.

Điều 31: Yêu chế độ Xã hội Chủ nghĩa
Điều 34: Nghiêm cấm các hành động xâm phạm đến các di tích lịch sử cách mạng.
Điều 36: Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn Thanh Niên Hồ Chí Minh... có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Thay vì, tôn trọng nhân phẩm và sự thông minh của người Việt Nam, bằng cách cho giảng dạy các văn kiện của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền và dân quyền theo mô thức các nước Đông Âu, thì cộng sản Việt Nam muốn khuynh đảo tư tưởng của giới trẻ Việt Nam bằng ý thức hệ Mác-Lê.
Tuy nhiên, đây chỉ là một hành động tuyệt vọng của một tập thể không còn ý thức được thực trạng xã hội và giới hạn quyền lực của mình. Thực trạng xã hội là không còn ai tin tưởng đảng và ý thức hệ Mác-Lê nữa.
Có nêu ra trong hiến pháp cũng chỉ là hình thức suông. Giới hạn quyền lực của đảng là sự tham nhũng và thối nát đã quá hoành hành, quyền lực không còn vô giới hạn để thực thi các điều khoản nêu ra trong hiến pháp nữa.

        e.    Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa

  Chương 4 của hiến pháp qui định điều khoản này. Chương này qui định vị trí của vấn đề quốc phòng và an ninh nội bộ của quốc gia. Quốc phòng là trách nhiệm của “Lực lượng vũ trang nhân dân” nhưng đồng thời lực lượng vũ trang nhân dân còn có trách nhiệm “bảo vệ chế độ Xã hội Chủ nghĩa và những thành quả cách mạng” (điều 45). Điều này có nghĩa là lực lượng vũ trang này phải có trách nhiệm đàn áp tất cả các phong trào, tổ chức và khuynh hướng chính trị đưa đến dân chủ đa nguyên và nhân quyền đúng theo nghĩa được qui định bởi Liên Hiệp Quốc.
An ninh nội bộ quốc gia là trách nhiệm của “Công an nhân dân cách mạng”. Ngoài ra, công an còn có trách nhiệm bảo vệ “tài sản Xã hội Chủ nghĩa” (điều 47).
Tóm lại quân đội và công an đáng lẽ phải bảo vệ tổ quốc, tài sản của dân chúng, nhân quyền một cách vô vị lợi và phi ý thức hệ như các quốc gia khác trên thế giới, thì lại được cộng sản Việt Nam qui cho trách nhiệm bảo vệ “Xã hội Chủ nghĩa”. Dĩ nhiên nếu cần thiết, các lực lượng trên sẽ đàn áp dân chúng và dẫm nát nhân quyền nhân danh Xã hội Chủ nghĩa.

        f.    Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân


Chương 5 qui định quyền lợi và trách nhiệm của công dân là một trong những chương phức tạp nhất của bản hiến pháp. Chương này gồm 34 điều khoản. Các điều khoản quan trọng gồm có:

1. Điều 54: Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào quốc hội, hội đồng nhân dân theo qui định của pháp luật.

2. Điều 66: Thanh niên được gia đình, nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập... phát triển... lý tưởng Xã hội Chủ nghĩa, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ tổ quốc.

3. Điều 76: Công dân phải trung thành với tổ quốc. Phản bội tổ quốc là tội nặng nhất.

4. Điều 79: Công dân có nghĩa vụ... giữ gìn bí mật quốc gia.

5. Điều 82: Người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hòa bình hoặc sự nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú.

Trong tất cả các điều khoản của Chương 5, điều 54 quan trọng hơn cả. Điều này cũng là một điều khoản thông thường có mặt trong hiến pháp của mọi quốc gia dân chủ thực sự. Tuy nhiên, một phần vì tính cách độc tài đảng trị của toàn bộ hiến pháp, và một phần vì thiếu kiến thức về luật hiến pháp, cộng sản Việt Nam đã hiểu thành ngữ “theo qui định của pháp luật” như là: luật pháp muốn qui định như thế nào cũng được.
Chính vì thế, bản hiến pháp 1992 rất thường xuyên xử dụng thành ngữ này với mục tiêu che mắt mọi người bằng một bản hiến pháp “mờ ảo coi có vẻ được” nhưng kỳ thực đằng sau bản hiến pháp có những luật pháp khắc khe tước bỏ mọi nhân quyền và dân quyền. Bằng cớ rõ rệt nhất là “Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội” từ điều 25 đến điều 36 qui định rõ rệt là Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (cơ quan ngoại vi của đảng CSVN) có tiếng nói quyết định trong việc giới thiệu người ra ứng cử, và chỉ có người được giới thiệu mới ra ứng cử được mà thôi.
Chắc chắn trong một quốc gia dân chủ thực sự, với một cơ quan Tư pháp (Tối cao Pháp viện) hoàn toàn độc lập, thì các điều khoản trên của luật bầu cử sẽ bị tuyên bố là vi hiến và vô hiệu lực. Lý do là vì thành ngữ “theo qui định của pháp luật” không cho phép pháp luật vi phạm tinh thần của điều 54 của hiến pháp. Tinh thần của điều 54 của hiến pháp là “mọi công dân đủ 21 tuổi đều có quyền ứng cử vào Quốc hội”. Trong khi đó thì trên thực tế Luật Bầu Cử đã sửa tinh thần của hiến pháp trở thành “mọi công dân đủ 21 tuổi, với sự cho phép của đảng Cộng Sản Việt Nam, qua Mặt Trận Tổ Quốc, đều có quyền ứng cử vào Quốc hội”.
Một luật bầu cử như vậy xung đột với tinh thần của điều khoản 54 của hiến pháp. Bởi vì hiến pháp là luật căn bản (fundamental Law) nên những điều khoản 25 đến 36 của Luật Bầu Cử phải triệt tiêu và vô hiệu lực vì “vi hiến”.
Tuy nhiên, như sẽ phân tích ở Chương 10 của hiến pháp, cơ quan tư pháp tối cao dưới chế độ cộng sản Việt Nam (Tòa án Nhân dân Tối cao) không có đủ sự độc lập mà hoàn toàn bị sự khống chế của đảng. Hơn nữa việc giải thích hiến pháp, luật, pháp lệnh (điều 91) đáng lẽ phải là trách nhiệm của Tư pháp, thì lại được qui là trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (dưới sự kiểm soát chặc chẽ của đảng). Điều này vượt ra ngoài những qui ước về luật pháp căn bản của những chế độ dân chủ tự do. Trong một chế độ dân chủ, thực sự không thể chấp nhận được việc một thực thể pháp lý vừa làm ra qui luật, vừa được quyền thẩm xét những qui luật mình đặt ra có đúng hay không. Lý do là vì sẽ thiếu sự khách quan, thiếu yếu tố nhân quyền, thiếu sự kiểm soát và sẽ đưa đến độc tài. Tuy nhiên theo chế độ “pháp chế Xã hội Chủ nghĩa” thì đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn trơ trẽn theo luật rừng vì quyền lực tuyệt đối phát xuất từ quân đội và công an chứ không phải từ công bằng và lẽ phải.

Điều 66 (nêu trên) là một trong nhiều điều khoản của bản hiến pháp có tính cách ý thức hệ thoái hóa và không thực tế. Hơn nữa giới thanh niên đã hoàn toàn đổ vỡ niềm tin với lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Điều 76 và 79 (nêu trên) cũng chỉ là những xảo thuật để chụp mũ những cá nhân, thành phần chống lại sự độc tài của đảng mà không có một thực chất pháp lý nào cả.
Điều 82 (nêu trên) vừa thiếu thực tế, vừa gượng ép vì quá khôi hài. Hằng trịêu người bỏ nước CHXHCN/VN đi tìm tự do chứ có bao nhiêu người lại tìm đến nước CHXHCN/VN để tỵ nạn đâu?

      g.    Quốc Hội

 Chương 6 từ điều 83 cho đến điều 100 nói về quyền lực và trách nhiệm của quốc hội. Điều 83 nói về quốc hội như sau:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN/VN.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc Hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước.
Cũng vì tính cách quan trọng của Quốc hội, cộng sản Việt Nam xử dụng nhiều mánh khoé nhất để khống chế Quốc hội trong bản hiến pháp này.
Thêm vào đó, như đã trình bày ở phần (f) trên, luật bầu cử đã qui định chỉ có những công dân trên 21 tuổi được sự giới thiệu của đảng (qua ngoại vi đảng là Mặt Trận Tổ Quốc) mới được ứng cử vào Quốc hội mà thôi. Những mánh khoé để khống chế Quốc hội trong hiến pháp gồm có:

1. Điều 85: Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 5 năm... trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình.
2. Điều 86: Quốc hội họp mỗi năm họp 2 kỳ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập.
3. Điều 87: Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm soát Nhân dân Tối cao, Mặt trận Tổ quốc VN và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật ra trước Quốc hội.
4. Điều 90: Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có:
- Chủ tịch Quốc hội.
- Các phó chủ tịch Quốc hội.
- Các ủy viên.
Điều 85 (nêu trên) có hậu quả là mặc dù nhiệm kỳ được ấn định 5 năm, trên thực tế, nếu cần thiết, đảng CSVN (qua việc kiểm soát 2/3 đại biểu quốc hội) có thể miễn việc bầu cử một cách hoàn toàn hợp hiến.
Điều 86 phối hợp với điều 90 (nêu trên) sẽ làm cho việc đảng kiểm soát Quốc hội dễ dàng hơn nữa. Lý do là vì Quốc hội mỗi năm chỉ họp 2 kỳ do UBTVQH triệu tập. Bình thường thì tất cả quyền hành lớn lao của QH do UBTVQH hành xử theo điều 91 của hiến pháp. Đảng Cộng Sản Việt Nam không cần phải kiểm soát khoảng 400 đại biểu mà chỉ cần đưa những đảng viên cao cấp của mình vào UBTVQH và kiểm soát số người nhỏ này là quá đủ.
Tuy nhiên, để củng cố sự độc quyền tuyệt đối của đảng đối với một cơ quan “dân cử” (mặc dù “dân cử” theo kiểu XHCN) thì điều 87 nêu trên minh thị cho phép các cơ quan ngoại vi của đảng được quyền đưa ra các dự án luật như là những đại biểu Quốc hội. Điều này hoàn toàn phi lý và không thể chấp nhận được tại một quốc gia dân chủ bình thường, tuy nhiên theo “pháp chế XHCN” thì được hiến định hóa rõ rệt như là luật căn bản.

            h.    Chủ tịch nước

  Chương 7 của hiến pháp từ điều 101 đến điều 108 qui định quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước vốn là nguyên thủ quốc gia. Điều 102 qui định Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội. Điều 103 qui định chi tiết hơn quyền hạn và nhiệm vụ của Chủ tịch nước.
Tuy nhiên một điều đáng tiếc là vì sự tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng quá cao, nhu cầu phân quyền hợp lý trong hiến pháp phải nhường bước cho nhu cầu phân quyền một cách phi lý và đôi khi dẫm chân lên nhau giữa quyền hạn của Chủ tịch nước (điều 103), Ủy ban Thường vụ Quốc hội dưới sự lãnh đạo của Chu3  tịch Quốc hội (điều 91) và Thủ tướng (điều 112). Đây là một vấn đề vô cùng nan giải và sẽ đưa đến tình trạng xung đột, đổ vỡ trong tương lai trong nội bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Lý do là vì sự cố gắng thái quá để chia chác quyền lực và giải quyết vấn đề tranh quyền nội bộ, làm cho bản hiến pháp mất hẳn căn bản luận lý khách quan. Mầm móng tranh chấp giữa Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng và Chủ tịch nước sẽ phát xuất từ bản hiến pháp kỳ quặc này:
1. Chẳng hạn khi nói đến Hội đồng Nhân dân Tỉnh thì UBTVQH có quyền ”bãi bỏ các quyết định sai trái của Hội đồng” (điều 91(6)), trong khi đó Thủ tướng có quyền ”đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng Nhân dân Tỉnh... trái với hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ” (điều 114 (5)). Thủ tướng lại có quyền cách chức và miễn nhiệm Chủ tịch, các Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh (điều 114 (3)).
Vấn đề đặt ra là nếu không có sự đề nghị của Thủ tướng (mà qua sự đề nghị của Viện giám sát chẳng hạn) thì UBTVQH có quyền bãi bỏ các quyết định của Hội đồng Nhân dân Tỉnh hay không? Nếu có, và Thủ tướng không đồng ý với UBTVQH và Viện giám sát, thì khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ theo lời đề nghị của Viện giám sát, Thủ tướng có bắt buộc phải ra lệnh HĐND Tỉnh ngưng thi hành các quyết định sai trái hay không?
Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong muôn vàn khó khăn mà sự phân chia quyền lực tạm bợ này sẽ gây ra.

2. Khi nói đến vấn đề bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức vụ Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ, thì sự chia chác quyền lực càng trở nên giả tạo và phức tạp hơn nữa. Lần này thì cả 3 trung tâm quyền lực dính vào: Thủ tướng thì “trình” lên Quốc Hội hoặc Ủy ban TVQH (nếu Quốc hội không họp) (điều 114(2)). UBTVQH thì “phê chuẩn” và Chủ tịch nước thì “căn cứ vào Nghị quyết của UBTVQH để bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm...” (điều 103 (4)).
Điều nan giải tại Việt Nam là các quốc gia XHCN vốn không có một truyền thống ước lệ về luật hiến pháp (constitutional conventions). Hậu quả là nếu hiến pháp không ghi rõ sự “bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm” các chức vụ Phó Thủ tướng, Bộ trưởng... của Chủ tịch nước là “nhiệm vụ” hay là “quyền hạn” thì sẽ có những tranh chấp lớn. Chúng ta có thể lập luận rằng nếu là “nhiệm vụ” thì Chủ tịch nước chỉ là bù nhìn ở phần vụ này, nếu Thủ tướng “đề nghị” và Quốc hội (hoặc UBTVQH) “phê chuẩn” thì bắt buộc phải “bổ nhiệm”, “miễn nhiệm” hoặc “bãi nhiệm”, tùy theo trường hợp.
Tuy nhiên nếu là “quyền hạn” thì vấn đề trở nên vô cùng phức tạp. Thủ tướng có thể “đề nghị”, Quốc hội có thể “phê chuẩn”, nhưng trên nguyên tắc Chủ tịch nước có quyền hành xử hay không hành xử quyền “bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm” một Phó Thủ tướng, một bộ trưởng hoặc một thành viên nào đó.
Nếu Chủ tịch có quyền đi ngược lại sự “đề nghị” của Thủ tướng và sự “phê chuẩn” của Quốc hội, thì sẽ có một sự khủng hoảng quyền lực lớn lao.
Lãnh vực này của hiến pháp là một con dao hai lưỡi của đảng Cộng Sản Việt Nam. Sự phân chia quyền lực phi lý và tạm bợ này giải quyết những tranh giành nội bộ ngắn hạn. Tuy nhiên, trên đường dài sẽ đào sâu thêm hố chia rẽ giữa các phe nhóm và lãnh tụ đảng.

                i.    Chính Phủ:

   Chương 8 nói đến quyền hạn và trách nhiệm của chính phủ “là cơ quan chấp hành của QH, cơ quan hành chánh cao nhất của nước CHXHCHVN” (điều 109). Ngoài việc qui định những quyền hạn và trách nhiệm bình thường của một cơ quan hành pháp, bản hiến pháp 1992 còn có những điều khoản đặc biệt sau đây:

1. Điều 110: Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác. Ngoài Thủ tướng, các thành viên khác của chính phủ không nhất thiết là đại biểu Quốc hội... Phó Thủ tướng giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân công của Thủ tướng. Khi Thủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng ủy nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác của chính phủ.

2. Điều 111: Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan.

3. Điều 114: Thủ tướng chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương... đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ.

Điều 110 (nêu trên) là một kỹ thuật tiểu xảo nữa của đảng CSVN để kiểm soát chính phủ. Thật vậy, trong một bản hiến pháp mà mọi quyền lực trên nguyên tắc đều phát xuất từ Quốc hội dân cử (mặc dù thật sự do CSVN giật dây trắng trợn), thì việc một thành viên của chính phủ (cấp Bộ trưởng) không nhất thiết là đại biểu Quốc hội là một sự phản dân chủ lớn lao. Điều 110 cho phép đảng CSVN bổ nhiệm vào chính phủ một Thủ tướng (là một đại biểu Quốc hội) và toàn thể “nội các” (kể cả một hay nhiều Phó Thủ tướng không cần là đại biểu Quốc hội), và như thế nếu đảng CSVN cảm thấy cần cho Thủ tướng “nghỉ bệnh” dài hạn thì điều 110 sẽ cho phép một Phó Thủ tướng lên xử lý cho Thủ tướng mà không cần qui định thời hạn. Kết quả là dân Việt Nam sẽ có một chính phủ không cần phát xuất từ Quốc hội mà chỉ cần phát xuất trực tiếp từ Đảng CSVN.
Thêm vào đó, điều 111 là một xảo thuật để đảng CSVN, qua các tổ chức ngoại vi, có thể được “mời tham dự các phiên họp của chính phủ” nhưng kỳ thực để thanh tra hay coi chừng các thành viên của chính phủ giùm cho đảng.
Điều 114 cho ta thấy mặc dầu trên nguyên tắc, các chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được bầu, tuy nhiên Thủ tướng có quyền khống chế hoàn toàn các cơ cấu địa phương.

               j.    Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân

   Đây là Chương 9 của hiến pháp, qui định sinh hoạt và quyền hạn trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đoạn này gồm 8 điều khoản từ điều 118 đến điều 125. Tuy nhiên, bản hiến pháp này hầu như không đặt nặng vấn đề chính quyền địa phương. Chính vì thế, Chương 9 của hiến pháp hoàn toàn không qui định rõ rệt việc bầu cử vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân, mặc dù vị này có trách nhiệm quan trọng là “điều hành hoạt động của Ủy ban Nhân dân” (điều 124). Quả vậy, điều này chỉ được thoáng qua một cách gián tiếp ở chương 8, điều 114 (3), khi nói về quyền hạn và nhiệm vụ của Thủ tướng chính phủ, tức là chính quyền trung ương. Điều 114 (3) chỉ nói lờ mờ là Thủ tướng có quyền “phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”.
Phương thức bầu cử vị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân địa phương (do dân bầu trực tiếp hay là do các đại biểu Hội đồng Nhân dân, hay do các Ủy viên của UBND bầu lên), rất mù mờ.
Điều 118 lại nói: “Việc thành lập Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân ở các đơn vị hành chánh do luật định”.
Điều này có nghĩa là chính phủ cộng sản qui định luật bầu của các cơ quan hành chánh địa phương và có thể hoàn toàn độc tài khống chế bằng các phương thức bầu cử kỳ quặc như luật bầu cử đại biểu Quốc hội vậy.
Bản hiến pháp này cũng hoàn toàn bác bỏ quan niệm “địa phương phân quyền”. Điều 119 qui định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Tuy nhiên, quyền hạn của Thủ tướng ở điều 114 quá lớn (có thể cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng như đình chỉ, bãi bỏ các quyết nghị của Hội đồng nhân dân...), cho nên trên thực tế, các chính quyền địa phương không có thực quyền gì cả và điều 6 của hiến pháp (ghi rõ “nguyên tắc tập trung dân chủ” vốn là một chiêu bài của Lê Nin để thi hành nguyên tắc “tập trung quyền lực độc tài”) sẽ phủ quyết tuyệt đối chương 9.
Lộ liễu hơn nữa là điều 125 cho phép Mặt Trận Tổ Quốc quyền tham gia hội họp các kỳ họp của HĐND để hầu như canh chừng và kiểm soát cơ quan “dân cử” này.

              k.    Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm soát Nhân dân

   Chương 10 từ điều 126 đến 140 nói đến 2 cơ quan tư pháp của chế độ.
Như chúng ta đều biết, trong một chế độ dân chủ pháp trị, theo tinh thần thượng tôn luật pháp, thì sự độc lập và tôn kính cơ quan tư pháp là tối quan trọng. Chính vì thế, tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Úc, Anh Quốc... các vị chánh án của những tòa án cấp cao đều phải được Quốc hội bổ nhiệm (theo sự đề nghị của Hành pháp). Nhiệm kỳ của các chánh án này thường thường vô hạn định, hoặc đến mãn đời, hoặc đến tuổi hưu trí, trừ khi can án hình sự hay mất khả năng trí tuệ, mục đích là đem lại cho các chánh án này sự độc lập tuyệt đối trong khi xử án. Thật vậy, nếu nhiệm kỳ các vị chánh án có giới hạn thì các vị này rất dễ dàng bị Hành pháp (Thủ tướng) hoặc Lập pháp (Quốc hội) ảnh hưởng, vì nếu không chịu ảnh hưởng sẽ không được tái bổ nhiệm sau khi mãn nhiệm kỳ.
Điều 126 của hiến pháp 1992 đưa ra mục tiêu sau đây cho cơ quan Tư pháp Cộng sản: <i>Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm soát Nhân dân nước CHXHCN/VN, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
Điều 126 cho thấy 2 cơ quan Tư pháp của chế độ cộng sản không mang ý nghĩa thượng tôn luật pháp bình thường của một nước dân chủ pháp trị. Trái lại “xã hội chủ nghĩa” sẽ là quan điểm chỉ đạo và qua quan điểm này, đảng CSVN sẽ đứng trên và đứng ngoài sự kềm chế của luật pháp.
Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao (tương đương với Tối cao Pháp viện trong một chế độ dân chủ) sẽ có nhiệm kỳ “theo nhiệm kỳ Quốc hội” tức là 5 năm (điều 128).
Chương 10 của bản hiến pháp không nói đến phương thức bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức vị chánh án quan trọng này. Chỉ nói là đối với các vị thẩm phán thì các điều trên sẽ do luật định.
Tuy nhiên điều 103 (3), Chương 7, khi nói đến nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước, thì chúng ta thấy Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm soát Nhân dân Tối cao.
Các điều này sẽ làm cho vị chánh án và những thẩm phán khác hoàn toàn lệ thuộc vào các cơ quan Hành pháp cho lẽ sống của mình, và sẽ thiếu sự vô tư để bênh vực cho người dân, trong khi đó sẽ tận lực phục vụ cho chế độ.
Tòa án Nhân dân Tối cao cũng sẽ không có khả năng giải quyết những sự xung đột giữa các chức năng do hiến pháp đề ra (chẳng hạn khi Chủ tịch nước xung đột quyền hành với Thủ tướng hoặc Chủ tịch Quốc hội...) và như thế sẽ không thể bảo vệ được “pháp chế xã hội chủ nghĩa” như điều 126 nêu ra. Nếu có một sự xung đột giữa các chức vụ chóp bu đó của hiến pháp thì có hai trường hợp xảy ra:
- Đảng CSVN quá yếu và đi đến sự thanh toán nội bộ, đổ máu và sụp đổ chế độ.
- Đảng CSVN còn mạnh và chính đảng sẽ dàn xếp cho êm thấm.
Như vậy là trên thực tế, Tòa án Nhân dân Tối cao chỉ là một cái bánh vẽ, trang hoàng cho chế độ. Thực chất vẫn là một chế độ đảng trị, độc tài, chuyên chế.
Như đã bàn ở phần (f) nêu trên, Tòa án Nhân dân Tối cao không có quyền phán xét một bộ luật có vi hiến hay không, vì đó là quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (điều 91). Viện Kiểm soát Nhân dân là một cơ chế Tư pháp thứ hai, giữ một vai trò tương tự như một Giám sát viện và một Công tố viện cùng một lượt. Những khuyết điểm của Tòa án Nhân dân cũng áp dụng luôn cho viện này.
Tóm lại tự do, dân chủ, tư hữu và nhân phẩm của người dân sẽ không được bảo vệ đúng đắn vì không có một cơ quan tư pháp tự trị và độc lập.

      Tiếp theo Chương 11 và 12 của hiến pháp, qui định những điều khoản liên hệ đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Thủ đô, ngày Quốc khánh (2/9/1945), hiệu lực của hiến pháp và việc sửa đổi hiến pháp, tôi nhận thấy không cần phải phân tích về các điều khoản này.
Sau khi phân tách xong bản hiến pháp 1992 của CSVN, chúng ta ý thức sâu sắc một thực tại đau thương của dân tộc. Đó là bản hiến pháp này không phải nhất thiết đơn thuần là kết quả của ý thức hệ Mác-Lê. Chúng ta phải thành thật nhận rằng bản hiến pháp này còn là kết tinh của hai tệ đoan của giới lãnh đạo dân tộc Việt nam trong suốt 200 năm cuối cùng của lịch sử dân tộc. Hai tệ đoan đó là sự vị kỷ và bảo thủ quá đáng của giới lãnh đạo.
      Thật vậy, gần 200 năm về trước, khi tiếng đại bác của Tây Phương vang rền trước ngưỡng cửa nước ta thì giới sĩ phu lãnh đạo, vì vị kỷ và quá bảo thủ đã từ chối không chịu canh tân xứ sở.
Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, qua đến các thời Đệ I và Đệ II Cộng Hoà tại miền nam Việt Nam, một số lớn giới lãnh đạo chỉ biết phụng sự cho ngoại bang để bảo vệ quyền lợi của mình, tôn thờ văn hóa ngoại lai.
Ngày hôm nay, đảng CSVN cũng thừa hưởng toàn diện hai tệ đoan cố hữu của những giai cấp thống trị trước.
      Cứ theo bản hiến pháp 1992 thì đảng CSVN là đảng cộng sản ngoan cố và cực đoan nhất trong một vài đảng cộng sản còn tồn tại. Chính vì     vậy, chúng ta cần đấu tranh quyết liệt hơn để khai phóng tiềm năng sáng tạo, trí tuệ tự nhiên của dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù, ra khỏi gông cùm của giới lãnh đạo vị kỷ và quá bảo thủ, đã ngự trị tổ quốc VN suốt 200 năm dài của lịch sử.
Vào cuối thế kỷ thứ 20, lại một lần nữa, ánh sáng của khoa học, trí tuệ, tự do, nhân bản và dân chủ đang sáng lòa trước ngưỡng cửa Việt Nam, thì bản hiến pháp 1992 của CSVN lại phản ảnh một lần nữa thái độ quen thuộc của các quan lại triều Nguyễn là bịt mắt, bịt tai để bám víu quyền lợi của mình. Thái độ này làm cho quốc tế khinh khi và mọi người Việt Nam yêu nước phải ngậm ngùi căm phẫn.
Chúng ta có thể kết luận rằng có một điểm tương đồng sâu sắt giữa giới lãnh đạo triều Nguyễn vào những năm bị thực dân đô hộ, giới lãnh đạo đệ nhất và đệ nhị cộng hòa miền Nam và giới lãnh đạo CSVN ngày hôm nay, đó là số người có đủ lương tâm để nhìn nhận sự thật khách quan và có can đảm nói lên sự thật chỉ là một thiểu số ít oi. Cái điểm thiếu lương tâm này trong đa số giới lãnh đạo chính là thảm họa lớn lao nhất của dân tộc.
 
             Luật Sư Đào Tăng Dực



  


Dự Thảo Hiến Pháp Việt Nam.

(Trên quan điểm dân chủ Hiến Định, Pháp Trị và Đa Nguyên)

(Bản thảo nguyên thủy đã đăng trên Bán Tuần Báo Việt Luận Uc Châu trong các số ngày 8/May/2001,11/May/2001 và 15/May/2001)

Luật Sư Đào Tăng Dực

 

Lời Mở Đầu:

 Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của toàn dân và các bậc anh hùng lịch sử, dân tộc chúng ta đã trải qua nhiều cuộc thăng trầm. Bên cạnh những giai đoạn lịch sử vinh quang như các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần hoặc Quang Trung Đại Đế, dân tộc chúng ta cũng đã từng bị một ngàn năm đô hộ từ phương Bắc, nội chiến liên miên trong suốt các giai đoạn Thập Nhị Sứ Quân và Trịnh Nguyễn phân tranh, gần 100 năm thực dân Pháp đô hộ và tác hại hơn hết là từ nửa thế kỷ nay toàn thể dân tộc trên cả 2 miền Nam va Bắc Việt Nam đã trở thành nạn nhân và con cờ của những thế lực ý thức hệ và giáo điều quốc tế đẩy dân tộc chúng ta vào một cuộc nội chiến phi dân tộc, huynh đệ tương tàn và khốc liệt .

Hơn nữa, nền văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành qua gần 5000 lịch sử là một nền văn hóa khai phóng, nhân bản, khoan hòa và trung dung, không hề chấp nhận bất cứ một cực đoan chủ nghĩa nào.

Hiến pháp của dân tộc Việt Nam phải hoàn toàn đặt căn bản trên quan điểm phi ý thức hệ và phi giáo điều. Những con người Việt Nam tự do và trí tuệ khai sáng, sống một cuộc đời hạnh phúc trong một xã hội thịnh vượng và một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên là ước nguyện chính đáng của mọi người Việt Nam.

 Chương 1: Những quyền lợi và nghĩa vụ căn bản:

Điều 1 (Quyền bình đẳng)

Mọi người đều có quyền được công nhận có tư cách pháp nhân và bình đẳng trước luật pháp bất kể phái tính, tôn giáo, chủng tộc, giai cấp xã hội, chính kiến, khuynh hướng tình dục, tuổi tác,ngôn ngữ hoặc có khuyết tật hay không, hoặc bất cứ một tiêu chuẩn phi lý nào,theo luật pháp quy định.

 Điều 2 (Quyền tư hữu)

Quyền tư hữu của mọi người hoặc riêng hoặc chung với người khác được tuyệt đối tôn trọng, kể luôn cả quyền chuyển nhượng tư hữu của mình. Không một quyền lực nào có thể độc đoán tước đoạt quyền tư hữu của một cá nhân.

 Điều 3 (Nền tảng gia đình)

Gia đình là nền tảng ngàn đời của xã hội truyền thống và có một vị trí đặt biệt trong lòng dân tộc. Nền tảng gia đình phải được luật pháp tôn trong và bồi dưỡng như là một yếu tố quan trọng của nền văn hóa Việt Nam.

 Điều 4 (Quyền tự do tư tưởng và tự do báo chí)

Quyền tự do tư tưởng phải được tuyệt đối tôn trọng kể cả tự do phát biểu tư tưởng của mình bằng mọi phương tiện báo chí, truyền thông, truyền hình và mọi phương tiện khác, trừ khi vi phạm thuần phong mỹ tục.

Điều 5 (Quyền tự do đi lai)

Mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư ngụ trong quốc gia. Mọi sự giới hạn không chính đáng quyền tự do đi lại đều có tính cách vi hiến và vô hiệu lực.

 Điều 6 (Quyền tự do tín ngưỡng)

Mọi người đều có quyền tự do tôn giáo, kể cả quyền tự do thay đổi tôn giáo, thực hành và thờ phượng theo tôn giáo của mình.

Điều 7 (Quyền tự do hội họp và lập hội)

Mọi người đều được quyền tự do hội họp trong tinh thần bất bạo động và lập hội kể cả các hội đoàn, tổ chức và đảng phái chính trị. Không ai có thể bị bắt buộc gia nhập một hội đoàn nào.

 Điều 8 (Quyền đựơc hưởng sự riêng tư)

Không ai có thể bị bắt buộc phải chịu những sự xâm phạm độc đoán về sự riêng tư, cơ thể, gia đình, nơi cư ngụ, thư tín, điện thoại, các hình thức liên lạc thông tin cũng như những sự xâm phạm về danh dự. Mọi người đều được quyền có sự bảo vệ của luật pháp trên các lãnh vực này.

Điều 9 (Các quyền liên hệ đến tự do cá thể và sự giam cầm)

Không ai có thể bị xâm phạm cơ thể,bắt bớ, giam cầm hay lưu đày một cách độc đoán.

 Điều 10 (Quyền được xét xử)

Mọi người đều được quyền được xét xử một cách công bằng và công khai bỡi một tòa án độc lập không thiên vị, để phán xét về những quyền lợi và trách nhiệm của mình, và để phán xét về những cáo buộc có tính cách hình sự đối với đương sự, hoặc để phán xét về những hành động vi phạm những quyền căn bản mà hiến pháp và luật pháp ban cho họ.

 Điều 11 (Quyền được luật sư đại diện)

Mọi người đều được quyền đại diện và cố vấn bỡi những luật sư độc lập chuyên nghiệp không chịu áp lực từ bất cứ phe nhóm hoặc cá nhân nào để bênh vực cho mình.

 Điều 12 (Quyền được hưởng một trình độ giáo dục tối thiểu)

Giáo dục tối thiểu là miễn phí và bắt buộc. Luật lệ sẽ quy định mức độ và những yếu tố của mức độ giáo dục tối thiểu này.

 Điều 13 (Quyền không bị tra tấn, bạo hành và chịu những sụ đối xử dã man khác)

Không ai có thể bị tra tấn, dối xử hoặc chịu những hình phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc tổn thương đến phẩm giá con người.

 Điều 14 (Quyền thành lập và gia nhập nghiệp đoàn)

Mọi người đều được quyền thành lập hoặc gia nhập những nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình.

 Điều 15 (Quyền lợi và nghĩa vụ bầu cử và ứng cử)

Ý dân là căn bản của quyền lực quốc gia được thể hiện qua quyền bầu cử và ứng cử. Điều này cũng phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử chân thật và thường xuyên. Những cuộc bầu cử này phải có tính cách phổ thông và bình đẳng và phải có tính cách kín hay qua những thủ tục bầu cử tự do tương đương. Mọi công dân từ 18 tuổi trở lên đều có quyền và trách nhiệm hành xử việc bầu cử và ứng cử theo luật định. Bầu cử là một nghĩa vụ có tính cách bắt buộc.

 Điều 16 (Quyền của một bị cáo về hình luật được giả định là vô tội cho dến khi bị tòa án chính thức kết tội)

(a)     Khi bị truy tố về hình luật, mọi người đều có quyền được giả định là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo đúng luật pháp, trong một phiên xử công khai mà bị can có tất cả những sự bảo đảm cần thiết để bảo vệ cho mình.

(b)    Cấp độ chứng minh trong những phiên xử về dân sự (hoặc hộ) sẽ là “có xác xuất đáng tin”. Tuy nhiên cấp độ chứng minh để kết án một bị cáo trong một phiên xử hình sự phải là cấp độ “ không còn lý do chính đáng để nghĩ rằng bị cáo có thể vô tội”.

 Điều 17 (Quyền giữ các chức vụ trong các cơ quan chính quyền)

Mọi người đều có cơ hội bình đẳng để phục vụ trong các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương.

 Điều 18 (Nghĩa vụ quân sự theo luật định)

Mọi người đều có trách nhiệm bình đẳng thi hành nghĩa vụ quân sự theo luật định.

 Điều 19 (Nghĩa vụ đóng thuế theo luật định)

Mọi người đều có trách nhiệm đóng thuế theo luật định.

 Điều 20 (Quyền có quốc tịch)

Mọi người sinh ra tại Việt Nam đều có quyền có quốc tịch Việt Nam. Không ai có thể bị tước bỏ quốc tịch hoặc từ chối quyền thay dổi quốc tịch một cách độc đoán.

 Điều 21 (Tính cách không toàn vẹn và không đầy đủ)

Những quyền lợi và trách nhiệm nêu ra trong bản hiến pháp chỉ có tính cách nền tảng mà không có tính cách toàn vẹn hoặc đầy đủ. Khi cần thiết luật pháp sẽ quy định thêm những quyền lợi và nghĩa vụ khác miễn là không đi ngược lại với tinh thần của hiến pháp hiện hành.

 Điều 22 (Cá nhân và tha nhân)

Trong khi hành xử những quyền và trách nhiệm của mình mọi người đều phải chịu sự giới hạn của luật pháp chỉ vì mục tiêu duy nhất là đem lại sự công nhận và tôn trọng đúng mức những quyền tự do của tha nhân và với mục đích đáp ứng những nhu cầu hợp lý trên phương diện đạo đức, trật tự xã hội chung của một xã hội dân chủ.

 Chương II: Ngành Lập Pháp Tại Trung Ương.

 Điều 23: Mọi quyền lập pháp trung ương đều nằm nơi Quốc Hội. Quốc Hội gồm 2 viện: Thượng Viện và Hạ Viện.

a. Mọi Thượng nghị sĩ và dân biểu đều không thể bị truy tố trên phương diện hộ tức dân luật vì những lời phát biểu của mình trong quốc hội.

b. Mọi công dân Việt Nam trên 21 tuổi, nếu có quyền bầu cử, đều có quyền ứng cử vào hạ viện quốc họi, và nếu trên 30 tuổi, nếu có quyền bầu cử, đều có quyền ứng cử vào thượng viện.

c. Thượng nghi sĩ và dân biểu là những công việc toàn thời và các đương sự không thể trong nhiệm kỳ, đảm nhận những công việc có lợi nhuận khác.

d.Một thượng nghị sĩ không thể đồng thời làm dân biểu và ngược lại. Cả 2 đều không thể giử các chức vụ dân cử khác hoặc làm công chức từ trung ương đến địa phương.

e. Một thượng nghi sĩ hoặc dân biểu, trong nhiệm kỳ của mình, không thể bị bắt, giam cầm, lục soát hoặc thân thể lục soát. Trừ phi bị bắt quả tang đang vi phạm một tội hình luật thì có thể bị lục soát hoặc lục soát cơ thể. Nếu bị truy tố vì một tội hình luật và bị kết án thì sẽ lập tức mất chức. Trong khi bị truy tố được đương nhiên tại ngoại hầu tra và hành xử chức vụ của mình.

f. Chi tiết hình thức tổ chức nội bộ của 2 viện quốc hội, thủ tục bỏ phiếu nội bộ và tái nhóm quốc hôi, những thủ tục để quốc hội chu toàn nhiệm vụ hiến định của mình sẽ được luật pháp quy định.

g. Mỗi thượng nghị sĩ hoặc dân biểu đều có quyền đưa ra các dự luật và mọi dự luật đều phải đệ trình và thông qua hạ viện trước.

Điều 24: Thượng Viện:

a. Thượng Viện sẽ gồm 2 thượng nghi sĩ từ tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương. Nhiêm kỳ Thượng Viện là 6 năm. Mỗi thượng nghi sĩ sẽ có một phiếu. 

b. Mọi quyết định của thượng viện chỉ có hiệu lực khi được đa số các thượng nghi sĩ hiện diện thông qua.

c. Thẩm quyền của thượng viên bao gồm:

(i) Duyệt xét và thông qua các dự luật của quốc hội.

(ii) Phê chuẩn hoặc phủ quyết tình trạng thiết quân luật do Tổng Thống đề nghị.

(iii) Phê chuẩn hoặc phủ quyết tình trạng tuyên chiến hoặc việc ký hòa ước với một hay nhiều quốc gia khác sau khi được tổng thống đề nghị.

(iv) Phê Chuẩn hoặc phủ quyết đề nghị bổ nhiệm các vị thẩm phán Tối Cao Pháp Viện và các vị thẩm phán các tòa án cấp cao theo luật định sau khi các vị này được Tổng Thống đề cử.

(v) Phê chuẩn hoặc phủ đề nghị bổ nhiệm Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia sau khi vị này dược tổng thống đề cử.

(vi) Phê Chuẩn hoặc phủ quyết đề nghị bổ nhiệm các vị Bộ Trưởng hoặc Tổng Trưởng hoặc các chức vụ tương xứng trong nội các chính phủ sau khi các vị này được tổng thống đề cử.

(vii) Phê chuẩn hoặc phủ quyết đề nghị bổ nhiệm các vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực và Tổng Tư Lệnh các lực lượng cảnh sát hoặc công an quốc gia sau khi các vị này được tổng thống đề cử.

(viii) Thay mặt cho toàn dân chấp nhận lời tuyên thệ tuyệt đối trung thành với hiến pháp và quyết tâm bảo vệ hiến pháp của tổng thống, phó tổng thống, các thành viên của nội các,chủ tịch thượng viện, chủ tịch hạ viện khi các vị này chính thức nhậm chức, và cũng lời tuyên thệ đó của các vị được bổ nhiệm ở các đoạn từ (iii) đến (vii) nêu trên.

 Điều 25: Hạ Viện:

 a. Hạ Viện gồm các dân biểu được bầu từ các đơn vị tranh cử đơn danh và các dân biểu dược bầu theo danh sách theo Chuơng VI. Số dân biểu bầu theo danh cách gấp 2 lần số dân biểu bầu theo đơn danh. Nhiệm kỳ Hạ Viện là 4 năm. Mỗi dân biểu có một phiếu.

 b. Mọi dự luât phải được hạ viện thông qua bằng đa số dân biểu họp và trong vòng 2 tuần phải chuyển lên thượng viện để phê chuẩn.

c. Một dự luật không cần được thượng viện phê chuẩn nếu thượng viện không xét đến trong vòng 2 tuần,hoặc nếu thượng viện từ chối không phê chuẩn và hạ viện thông qua lần thứ 2 với đa số ít nhất 2/3 dân biểu hiện diện. Trong 2 trường hợp này thì dự luật phải được chuyển trực tiếp lên tổng thống trong vòng 2 tuần để ký phê chuẩn hoặc phủ quyết. Nếu tổng thống phủ quyết không phê chuẩn thì phải gởi trả lại hạ viện trong vòng 2 tuần, kèm theo một văn bản nói lên những bất đồng ý kiến của mình. Trong trường hợp này nếu hạ viện thông qua lần thứ 3 với đa số ít nhất là ¾ dân biểu hiện diện thì dư luật đương nhiên trở thành luật.

Nếu tổng thống không gởi lại hạ viện dự luật trong vòng 2 tuần khi nhận được như quy định ở trên thì dự luật đương nhiên trở thành luật.

d.Hạ viện có thể đề xướng và thông qua tất cả các dự luật trên tất cả mọi lãnh vực thuộc thẩm quyền của mình như quy định trong chươngV của hiến pháp.

 Chương III: Ngành Hành Pháp Tại Trung Ương.

 Điều 26: Tất cả mọi quyền hành pháp trung ương của quốc gia được ủy thác cho Tổng Thống. Tổng thống có các trách nhiệm và quyền hạn như sau:

a. Là nguyên thủ quốc gia, tổng tư lệnh tối cao quân lực và các lực lượng an ninh, cảnh sát và công an.

b. Ký để phê chuẩn hoặc phủ quyết các dự luật được quốc hội thông qua. Trong trường hợp phủ quyết,tổng thống phải gởi trả lại quốc hội kèm theo một văn bản nói lên những bất đồng ý kiến của mình. Nhưng nếu cả 2 viện của quốc hội một lần nữa thông qua với tỷ số ít nhất 2/3 của thành viên hiện diện mỗi viện, hoặc nếu hạ viện thông qua với tỷ số ít nhất ¾ dân biểu hiện diện,thì dự luật đương nhiên có hiệu lực và trở thành luật . Trong trường hợp một dự luật không được tổng thống gởi trả lại trong vòng 2 tuần thì đương nhiên có hiệu lực và trở thành luật.

c. Công bố tình trạng thiết quân luật sau khi đã được thượng viện phê chuẩn với tỷ số ít nhất ¾ thượng nghị sĩ của viện.

d. Có đặc quyền ân xá.

e. Bổ nhiệm các thành viên của nội các chính phủ.

f. Chủ tọa các phiên họp của nội các.

g. Bổ nhiệm và cách chức các chức vụ dân sự và quân sự trong chính quyền theo luật định.

h. Đệ trình quốc hội (bắt đầu bằng hạ viện) cứ 3 tháng trước tài khóa mỗi năm một dự luật về ngân sách quốc gia cho tài khóa sắp tới.

i. Đệ trình và đề nghi trước hạ viện những dự luật phát xuất từ hành pháp.

i. Hành xử tất cả mọi quyền hành pháp để điều hành quốc gia trong phạm vi của hiến pháp và luật pháp.

 Điều 27: Mọi công dân Việt Nam trên 30 tuổi, nếu có quyền bầu cử, đều được quyền ứng cử và đắc cử vào các chức vụ tổng thống và phó tổng thống.

 Điều 28: Nhiệm kỳ tổng thống và phó tổng thống là 4 năm và không ai có thể giữ hơn 2 nhiệm kỳ.

 Điều 29: Trong trường hợp chức vụ tổng thống bỏ trống quá 6 tháng thì phó tổng thống sẽ thay thế cho hết nhiệm kỳ. Trong trường hợp cả 2 chức vụ bỏ trống thì chủ tich thượng viện sẽ thi hành nhiệm vụ tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ, trừ khi phần còn lại của nhiệm kỳ quá 2 năm thì phải tổ chức bầu cử trở lại. Thứ tự thừa nhiệm kế tiếp sẽ là chủ tịch hạ viện và ngoại trưởng cho đến hết nhiệm kỳ, trừ khi phần còn lại của nhiệm kỳ quá 2 năm thì phải tổ chức bầu cử trở lại. Trong trường hợp chức vụ tổng thống bỏ trống không quá 6 tháng thì thứ tự thừa nhiệm nêu trên sẽ áp dụng cho đến khi tổng thống trở lại nhiệm vụ.

 Điều 30: Ngoại trừ trong trường hợp trọng tội hình luật theo luật định, tổng thống được quyền miễn nhiễm không thể bị truy tố trên cả 2 phương diện hình lẫn hộ, trong nhiệm kỳ của mình. Trong trường hợp bị truy tố trọng tội và chờ xét xử thì tổng thống phải tạm thời rời chức vụ. Nếu bị kết án vì trọng tội tổng thống lập tức mất chức. Trong trường hợp chờ xét xử thì giới hạn 6 tháng của điều 29 không áp dụng và phó tổng thống sẽ xử lý thường vụ chức vụ tổng thống cho đến khi vụ án chấm dứt.

 Chương IV: Ngành Tư Pháp .

 Điều 31: Tối Cao Pháp Viện:

 a. Là cơ quan tư pháp tối cao của quốc gia.

b. Tối Cao Pháp Viện gồm 7 vị thẩm phán và một trong 7 vị này là chánh án Tối Cao Pháp Viện.

c.Các vị thẩm phán và chánh án Tối Cao Pháp Viện được tổng thống bổ nhiệm, với sự phê chuẩn của thượng viện,sau khi được sự đề cử của tổng thống và không thể bị cách chức trừ khi cả lưỡng viện quốc hội, trong một phiên nhóm họp chung, yêu cầu tổng thống cách chức, vì lý do tác phong bại hoại hoặc mất trí năng.

d. Lương bổng và lợi nhuận các vị này do quốc hội quy định và không suy giảm trong suốt nhiệm kỳ.

e. Nhiệm kỳ các vị chấm dứt vào lúc họ được 70 tuổi. Không ai dược bổ nhiệm vào các chức vụ này từ 70 tuổi trở lên.

f. Mỗi vị có thể từ chức bằng văn thư gởi cho tổng thống.

g. Là cơ quan xử án cuối cùng và chung quyết cho tất cả mọi phiên xử và các thủ tục kháng cáo.

h. Là cơ quan có thẩm quyền nguyên thủy trên các lãnh vực sau đây:

i.                    Liên hệ đến sự xung đột quyền hạn giữa hành pháp và lập pháp từ trung ương đến địa phương.

ii.                  Liên hệ đến sự xung đột quyền hạn giữa các chính quyền địa phương và trung ương.

iii.                Phát xuất từ các hiệp ước ký kết với các quốc gia khác.

iv.                Những lãnh vực khác do luật pháp quy định.

 Điều 32: Luật pháp sẽ quy định ngân sách, lương bổng và lợi nhuận của các thẩm phán Tối Cao Pháp Viện, việc quản tri tổng quát guồng máy hành chánh của tối cao pháp viện, và các thủ tục cần thiết cho các phiên xử của tòa. Quyết định tối hậu và chung quyết của Tối Cao Pháp Viện phải là quyết định của đa số thẩm phán trong một phiên xử chính thức.

 Điều 33: Các tòa án bên dưới Tối Cao Pháp Viện:

Luật pháp sẽ quy định việc thành lập các tòa án khác từ trung ương đến địa phương, hoặc bổ nhiệm các thẩm phán, lương bổng các vị này,tổ chức nội bộ, ngân sách và việc quản trị tổng quát cho các tòa án khác nhau và ở nhiều đẳng cấp khác nhau bên dưới tối cao pháp viện để hoàn chỉnh ngành tư pháp.

 Điều 34: Mỗi tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương phải có ít nhât một tòa án có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề từ hình đến hộ.

 Điều 35: Việc quản trị hành chánh các tòa án sẽ trực thuộc chính quyền trung ương.

Điều 36: Các chính quyền địa phương không có quyền thành lập các tòa án.

 Chương V: Phân Chia Quyền Lực Giữa Chính Quyền Trung Ương Và Các Chính Quyền Địa Phương.

Điều 37: Chính Quyền Trung Ương có thẩm quyền thông qua các sắt luật và thi hành các sắt luật này trên các lãnh vực sau đây:

1. Ngoại giao.

2. Quốc phòng

3. Quốc tịch và di trú

4. Hình luật, Dân Luật và luật thương mại.

5. Quản tri hành chánh ngành tư pháp.

6. Giao thông và vận tải.

7. Tài chánh, ngân sách quốc gia và thuế khóa toàn quốc.

8. Tiền tệ, thị trường chứng khóang và ngân hàng.

9. An định cân lượng và đo lường.

10. Ngoại thương.

11. An định biên giới giữa các tỉnh và các thành phố trực thuộc trung ương kể cả việc thành lập các đơn vị mới hoặc sát nhập các đơn vị hiện hành.

12. Thông tin và thư tín.

13. Luật lao động.

14. Cảnh sát và trị an.

15. Chế độ lao động và lương bổng của các viên chức trong thẩm quyền của mình, kể cả các chức vụ dân cử.

16. Thương mại xuyên đơn vị địa phương

17. Phục hưng văn hóa và bảo tồn di tích lịch sử. Phó tổng thống là thành viên của nội các chịu trách nhiệm về lãnh vực này cùng một lúc với lãnh vực giáo dục.

18. Bầu cử Hạ Viện Quốc Hội, Tổng Thống và Phó Tổng Thống,các Hội Đồng Lập Pháp, Tỉnh Trưởng và Phó Tỉnh Trưởng, Thị Trưởng và Phó Thị Trưởng các thanh phố trực thuộc trung ương.

Điều 38: Chính quyền trung ương có thẩm quyền thông qua các sắc luật nhưng phải chuyển quyền thi hành các sắc luật thông qua cho các chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương trên các lãnh vực sau đây:

 1.      Luật gia đình.

2.      Giáo dục.

3.      Nông nghiệp và ngư nghiệp.

4.      An sinh xã hội.

5.      Thống kê.

6.      Y tế.                                                                                       

 Điều 39: Các chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền thông qua và thi hành các sắc luật trên các lãnh vực sau đây trong địa phận của mình:

 1. Tài chánh và thuế khóa trừ thuế lợi tức và các thuế liên hệ đến các lãnh vực thuộc thẩm quyền chính quyền trung ương.

2. Cầu cống và đường sá.

3. Y tế .

4. Giáo dục

5. Quy hoạch đất đai.

6. Kỹ nghệ, nông nghiệp và ngư nghiệp.

7.Các lãnh vực từ thiện và vô vị lợi.

8. Tài sản hoặc nợ nần của tỉnh hoặc thành phố.

9. Cảnh sát và trị an.

10. An định số lượng và ranh giới giữa các đơn vị tranh cử dân biểu Hạ Viện Quốc Hội trong địa phận của mình (trên căn bản 400,000 dân một đơn vi tranh cử Hạ Viện, tuy nhiên sau khi số đơn vị và ranh giới dã được phân định nhưng số dân thặng dư lên dến 200,000 thì phải tái phân định để tỉnh hoặc thành phố liên hệ có thêm một đơn vị tranh cử nữa, và trên căn bản mỗi tỉnh hoặc thành phố liên hệ có ít nhất là một đơn vị ngay cả trong trường hợp dân số trong toàn tỉnh hoặc thành phố thấp hơn 400,000), số lượng và ranh giới giữa các đơn vị tranh cử nghị viên Hội Đồng Lập Pháp tỉnh hoặc thành pho trực thuộc trung ương (trên căn bản tối thiểu là 5 đơn vị và tối đa là 30 đơn vị), và ranh giới giữa các đơn vị hành chánh trực thuộc các tỉnh và thành phố này. Sự phân chia và ấn định ranh giới này phải đặt trên căn bản các con số thống kê chính thức mới nhất.

11. Phục hưng văn hóa và bảo tồn di tích lich sử.

12. Chế độ lao động và lương bổng của các viên chức trong thẩm quyền của mình kể cả các chức vụ dân cử.

 Điều 40: Tất cả những lĩnh vực nào không được nhắc tới trong chuơng V đều thuộc về thẩm quyền của chính quyền trung ương. Tuy nhiên với sự đồng thuận của các chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương liên hệ, chính quyền trung ương có thể thông qua các sắc luật nhưng chuyển quyền thi hành các sắc luật này cho các chính quyền tỉnh hoặc thành phố này.

 Chương VI: Chế Độ Bầu Cử Hành Pháp Và Lập Pháp Từ Trung Ương Đến Địa Phương Gồm Các Tỉnh Và Các Thành Phố Trực Thuộc Trung Ương.

 Điều 41: Bầu cử sẽ tiến hành theo luật định. Tuy nhiên các điều căn bản sau đây cần phải tuân hành:

 1. Hành Pháp tại trung ương (Tổng Thống và Phó Tổng Thống trong cùng liên danh trên toàn quốc) và địa phương (Tỉnh Trưởng và Phó Tỉnh Trương trong cùng một liên danh trong tỉnh, hoặc Thị Trưởng và Phó Thị Trưởng trong cùng một liên danh trong thành phố) phải bầu phiếu kín, liên danh đắc cử phải đạt đến đa số tuyệt đối. Nếu kết quả chính thức vòng đầu không hội đủ điều kiện này thì bầu cử vòng nhì phải được tổ chức trong vòng một tháng kể từ ngày có kết quả. Vòng nhì chỉ 2 liên danh cao phiếu nhất được quyền tranh cử, sau khi đa loại trừ những liên danh cao phiếu hơn nhưng đã rút lui hợp pháp.

2. Hạ Viện Quốc Hội và các Hội Đồng Lập Pháp của các tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương phải bầu phiếu kín như sau:

 a. Có 2 hình thức tranh cử song hành: ứng cử đơn danh trực tiếp từ các đơn vị tranh cử liên hệ do luật định, hoặc ứng cử theo danh sách ứng viên chính thức được các chính đảng hoặc phe nhóm thành lập theo luật định. Cử tri trong các đơn vị tranh cử sẽ bầu cho các cá nhân tranh cử. Cử tri toàn quốc hoặc toàn dơn vị địa phương liên hệ sẽ bầu cho toàn thể chính đảng hoặc phe nhóm theo danh sách .

b. Mỗi đơn vị tranh cử chỉ được cử một đại diện vào Hạ Viện Quốc Hội hoặc Hội Đồng Lập Pháp liên hệ. Ứng viên nào đạt được đa số tương đối sẽ đắc cử.

c. Sau khi đã có kết quả cuộc bầu cử từ các đơn vị tranh cử, mỗi chính đảng hoặc nhóm cá nhân sẽ được bổ sung bằng một số ứng viên đắc cử từ trong danh sách đã nộp với mục tiêu làm cho số ứng viên đắc cử của mỗi chính đảng hoặc phe nhóm đạt đến con số tương xứng nhất với tỷ lệ số phiếu tổng quát mà họ đạt được. Các ứng cử viên đác cử từ các đơn vị tranh cử không được thay đổi.

 3. Thượng Viện Quốc Hội phải bầu phiếu kín và đơn danh như sau: Cử tri mỗi tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương được quyền bầu 2 thượng nghi sĩ vào Thượng Viện Quốc Hội. Hai ứng viên được số phiếu cao nhất sẽ đắc cử.

 Chương VII: Quyền hạn của Hành Pháp Và Lập Pháp Tại Địa Phương:

 Điều 42: Tỉnh trưởng hoặc Thị trưởng có các trách nhiệm và quyền hạn như sau:

 a.       Là viên chức cao cấp nhất của Tỉnh hoặc Thành Phố liên hệ và chỉ huy trưởng các lực lượng an ninh, cảnh sát và công an, trừ quân đội.

b.      Ký để phê chuẩn hoặc phủ quyết các dự luật được Hội Đồng Lập Pháp thông qua. Trong trường hợp phủ quyết phải gởi lại Hội Đồng trong vòng 2 tuần kèm theo một văn bản nói lên những bất đồng ý kiến của mình.Nếu Hội Đồng một lần nữa thông qua với đa số ít nhất 2/3 thì dự luật đương nhiên trở thành luật. Trong trường hợp tỉnh trưởng hoặc thị trưởng không gởi trả dự luật lại Hội Đồng trong vòng 2 tuần thì sẽ đương nhiên trở thành luật.

c.       Đệ trình Hội Đồng Lập Pháp cứ 3 tháng trước tài khóa mỗi năm một dụ luật về ngân sách địa phương cho tài khóa sắp tới.

d.      Bổ nhiệm các uỷ viên của ủy ban hành chánh tỉnh hoặc thành phố liên hệ cũng như tất cả các chức vụ công chức trong địa phương theo luật định.

e.       Chủ tọa các phiên họp của uỷ ban hành chánh.

f.       Đệ trình trước Hội Đồng những dự luật xuất phát từ hành pháp địa phương.

g.      Hành xử tất cả mọi quyền hành pháp để điều hành công việc địa phương.

 Điều 43: Mọi công dân Việt Nam trên 21 tuổi, nếu có quyền bầu cử, đều được quyền ứng cử và đắc cử vào các chức vụ Tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng hoặc Thị Trưởng, phó thị trưởng các thành phố trực thuộc trung ương.

 Điều 44: Nhiệm kỳ tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng, thị truởng, phó thị trưởng là 4 năm.

 Điều 45: Trong trường hợp các chức vụ nêu trong điều 44, nếu chức vụ của vị trưởng nhiệm bị bỏ trống quá 6 tháng thì vị phó nhiệm sẽ thay thế cho hết nhiệm kỳ. Trong trường hợp cả 2 chức vụ bỏ trống thì vị chủ tịch Hội Đồng Lập Pháp sẽ thay thế cho đến hết nhiệm kỳ, trừ khi phần còn lại của nhiệm kỳ quá 2 năm thì phải tổ chức bầu cử lại. Trong trường hợp bỏ trống không quá 6 tháng thì thứ tự thừa nhiệm nêu trên sẽ áp dụng cho đến khi đương sự trở lại chức vụ.

 Điều 46: Ngoại trừ trong trường hợp trọng tội theo luật định, tỉnh trưởng và thị trưởng được quyền miễn nhiễm không bị truy tố trên cả 2 phương diện hình lẫn hộ, trong nhiệm kỳ của mình. Trong trường hợp bị truy tố trọng tội và chờ xét xử thì phải tạm thời rời khỏi chức vụ. Nếu bị kết án thì lập tức mất chức vụ. Trong trường hợp chờ xét xử thì giới hạn 6 tháng của điều 45 không áp dụng và vị phó nhiệm sẽ xử lý thường vụ cho dến khi vụ án chấm dứt.

 Điều 47: Hội Đồng Lập Pháp Địa Phương:

 a. Hội Đồng gồm các nghị viên được bầu từ các đơn vị tranh cử đơn danh và các nghị viên được bầu theo danh sách theo Chương VI. Số nghị viên theo danh sách gấp 2 lần số nghị viên bầu theo đơn vị. Nhiệm kỳ Hội Đồng là 4 năm. Mỗi nghị viên có một phiếu.

b. Mọi dự luật phải được Hội Đồng thông qua bằng đa số nghị viên họp và trong vòng 2 tuần phải chuyển lên Tỉnh trưởng hoặc thi trưởng để ký và phê chuẩn.

c. Một dự luật không cần được tỉnh trưởng hoặc thị trưởng phê chuẩn nhưng vẫn trở thành luật và có hiệu lực nếu tỉnh trưởng hoặc thị trưởng không xét đến trong vòng 2 tuần, hoặc nếu bị phủ quyết nhưng Hội Đồng lại thông qua lần nữa với đa số ít nhất là 2/3 nghị viên hiện diện.

d. Hội Đồng có thể đề xướng và thông qua tất cả các dự luật trên tất cả mọi lãnh vực thuộc thẩm quyền của mình như quy định trong Chương V của hiến pháp.

e. Mọi nghị viên đều không thể bị truy tố trên phương diện hộ tức dân luật vì những lời phát biểu của mình trong Hội Đồng.

f. Mọi công dân Việt Nam trên 21 tuổi,nếu có quyền bầu cử, đều có quyền ứng cử vào Hội Đồng.

g. Nghị viên là một công việc toàn thời và các đương sự không thể trong nhiệm kỳ, đảm nhận những công việc có lợi nhuận khác, kể luôn cả các chức vụ dân cử hoặc công chức từ trung ương đến địa phương.

h.      Một nghị viên, trong nhiệm kỳ của mình, không thể bị bắt, giam cầm, lục soát hoặc lục soát thân thể. Trừ phi bị bắt quả tang đang vi phạm một tội hình luật thì có thể bị lục soát hoặc lục soát cơ thể. Nếu bị truy tố vì một tội hình luật và bị kết án thì sẽ lập tức mất chức. Trong khi bị truy tố được đương nhiên tại ngoại hầu tra và hành xử chức vụ của mình.

i.        Chi tiết hình thức tổ chức nội bộ cuả Hội Đồng, thủ tục bỏ phiếu nội bộ và tái nhóm hội đồng, những thủ tục để hội đồng chu toàn nhiệm vụ hiến định của mình sẽ được luật pháp địa phương quy định.

j.        Mỗi nghị viên đều có quyền đưa ra các dự luật đệ trình hội đồng để thông qua.

 Chương VIII: Những điều khoản nền tảng khác:

 Điều 48: Giáo dục, khoa học và phục hưng văn hóa: Ít nhất là 15% ngân sách trung ương và 35% ngân sách địa phương phải giành cho các vấn dề giáo dục, khoa học và phục hưng văn hóa.

 Điều 49: Tất cả mọi luật pháp từ địa phương đến trung ương, tất cả mọi tác động, sắc lệnh của các ngành hành pháp hoặc lập pháp đi ngược với hiến pháp đều không có hiệu lực.

 Điều 50: (a) Các chính quyền liên hệ sẽ thông qua những luật pháp cần thiết để thi hành các điều khoản của hiến pháp.

        (b) Các tòa án có trách nhiệm áp dụng và giải thích các luật pháp đã được thông qua.

        (c) Cố tình xen lấn vào hoặc cản trở tiến trình tự nhiên của công lý hoặc sự làm việc của quan tòa trong khi quan tòa thi hành nhiệm vụ của mình là một trọng tội hình luật.

 Điều 51: Chính quyền trung ương co trách nhiệm tài trợ ngân sách cho các chính quyền tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương từ ngân sách trung ương, trong phạm vi khả năng của trung ương và theo luật định. Tuy nhiên mọi sự tài trợ đều phải theo nguyên tắc bình đẳng và không thiên vị.

 

Điều 52: (a) Khi có sự xung đột giữa các sắt luật, sắt lệnh hoặc tác động của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương thì chính quyền trung ương sẽ ưu thắng và chính quyền địa phương sẽ nhường bước ở mức độ và trong phạm vi của sự xung đột.

        (b) Những quyết định của các tòa án cập cao hơn sẽ có tác dụng ràng buộc các quyết định của các tòa án thấp hơn.

 Điều 53: Tất cả mọi chi khoản của ngân sách từ trung ương đến địa phương đều phải được thông qua bỡi một sắc luật chính thức của chính quyền liên hệ. Không bao giờ có chi khoản mà không có sắc luật liên hệ cho phép.

Điều 54: Không một sắc luật nào có thể được áp dụng hồi tố.

 Chương IX: Tu Chính:

Điều 55: Hiến pháp có thể được tu chính theo các điều kiện như sau:

a.       Điều khoản tu chính phải dược 1/ 5 số dân biểu đề nghị .

b.      Phải được lưỡng viện quốc hội thông qua bằng đa số ¾ mỗi viện trong nhóm họp riêng.

c.       Túc số của các phiên họp nêu trên phải là ¾ số dân biểu và thương nghị sĩ được bầu vào quốc hội.

 Luật Sư Đào Tăng Dực







Dự Thảo Hiến Pháp Văn Hiến


Nam Phong tổng hợp

Mục Lục
Điều 1: Quốc Hiệu
Điều 2: Quốc Kỳ
Điều 3: Quốc Ca
Điều 4: Quốc Huy
Điều 5: Quốc Tổ
Điếu 6: Quốc Lễ
Điềư7: Quốc Thể
Điều 8: Quốc Lịch
Điều 9: Quốc Hội
Điều 10: Nhân Quyền
Điều 11: Dân Quyền
Điều 12: Quốc Quyền
Điều 13: Tín Ngưỡng
Điều 14: Ngôn Luận
Điều 15: Tư Hữu
Điều 16: Hành Nghề
Điều 17: Dân Trí
Điều 18: Chủ Quyền
Điều 19: Chính Đảng
Điều 20: Đối Lập
Điều 21: Nghiã Vụ
Điều 22: Giáo Dục
 

Điều 99: Án Tử Hình
Điều 100: Tu Chính

Điều 1: Quốc Hiệu

    Tên nước Việt Nam Văn Hiến

Điều 2: Quốc kỳ

   Cờ nền hình chữ nhật màu xanh da trời, ngôi sao (hình nhật nguyệt) trắng mươì bốn cánhchính giữa (hoa thời gian)

                                                           

       Điều 3: Quốc Ca

      Chọn baì hát Việt Nam - Việt Nam cuả nhạc sỹ Phạm Duy làm quốc ca:

     Việt Nam, Việt Nam

Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam hai câu nói trên vành môi, Việt Nam nước tôi...
Việt Nam, Việt Nam tên goị là ngươì.
Việt Nam hai câu noí sau cùng... khi lià đời
Việt Nam đây miền sanh tươi. Việt Nam đem vào sông nuí: Tự do, công bình, bác aí muôn đời
Việt Nam không đoì xương máu,
Việt Nam kêu goị thương nhau,
Việt Nam đi xây đắp yên vui dài lâu...
Việt Nam trên đường tương lai... lửa thiêng soi toàn thế giới .
Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho đời...
Tình yêu đây là khí giới... Tình thương đem về muôn nơi .
Việt Nam đây tiếng noí đi xây tình ngươì,
Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam: Quê hương đất nước sáng ngời
Việt Nam , Việt Nam, Việt Nam ...muôn đời.
Việt Nam, Việt Nam ...Muôn đời...

       Phạm Duy
     
Xin vui lòng bấm vào dươì đây để nghe:
         http://www.youtube.com/watch?v=nXBQ6OUYZGE


                                                                            


Điều 4: Quốc Huy

Quốc huy hình vuông tròn , bản đồ hình chữ S năm trên hình vuông và hình tròn nằm ngoài cùng .
Hình vuông màu vàng, hình chữ S màu xanh lá cây và hình tròn màu trắng, dưới cùng có bốn chữ : An Lạc & Tự Chủ. Ý nghiã cuả vuông tròn là nếp sống Văn Hiến, chuyên chỡ một nền văn hoá ngàn đời cuả dân tộc mà trong đó tình ngươì và nghiả làm người chi phối toàn bộ và toàn diện moị sinh hoạt từ khi lập quốc đến nay.



An Lạc & Tự Chủ


Điều 5: Quốc Tổ

Quốc tổ Hùng Vương phải được nhắc nhở và thờ cúng một cách chính thức và cùng khắp như sau:

1- Ngaỳ Quốc Tổ:
   Chọn ngày giỗ quốc tổ  là ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày Đaị Lễ Quốc Tổ. Nếu ngày 10 tháng 3 rớt vào ngày thứ bảy hay chuá nhật thì chọn ngày thứ hai sau đó làm ngày Đại Lễ.
   2- Đền Thờ Quốc Tổ:
Mỗi Quận và Tỉnh trong nước phải xây một đền thờ quốc tổ và cũng là nơi làm những đại lễ  hàng năm.
Chi tiết về việc tổ chức xây dựng đền thờ quốc tổ và  chương trình tế lễ  sẽ được một  uỷ ban  phụ trách và do uỷ ban hành pháp  tuyển chọn hay chỉ định tuỳ theo sự chấp thuận quốc hội thông qua hiến pháp qui định .
   Cả nước được nghĩ một ngày đại hội sum họp cuả dân tộc để nhớ đến công đức cuả quốc tổ dựng nước và giữ nước trãi qua 49 thế kỷ ( 4888 năm). Cho tiết xem quốc tổ.



Điều 6: Quốc Lễ


 Những ngày lễ trong năm cuả những vị minh quân, văn thánh và anh hùng đã có công dựng nước, giữ nước và chống ngoại xâm. Chi tiết xem quốc lễ.

Điều 7: Quốc Thể


Dân Chủ Văn Hiến phải được áp dụng. Một sinh hoạt đa đảng trong nước phải được thực thi và tuyệt đối tôn trọng lẫn nhau, phải đặc quyền lợi cuả dân tộc lên trên hết.

Việt Nam Văn Hiến ứng dụng một  thể chế Diên Hồng.
Thể chế dân chủ văn hiến hay còn goị là thể chế  Diên Hồng (dung hợp giữ Tổng Thống chế ,Đại Nghị Chế và quốc hôi chế).
Quốc dân bầu lên lưỡng viện quốc hội ( Hạ Viện và Thượng Viện) và lưỡng viện quốc hội bầu lên Quốc Trưởng. Chính đảng hay liên đảng nào chiếm được đa số ghế tại luỡng viện quốc hội thì người lãnh đạo tự động làm Thủ Tướng, thành lập chánh phủ vả điều hành quốc gia. Chi tiết xem quốc thể.

Điều 8:  Quốc Lịch

Việt lịch được ứng dung như sau:

- Ngày : Dùng ngày âm lịch
- Tháng: Dùng tháng âm lịch
- Năm: Dùng năm Việt lịch

Ngày dương lịch kèm theo trong ngọăc như sau:  Thí dụ  12/10/4888 ( 02/12/2009)

Điều 9: Quốc Hội

Quốc hội gồm hai viện: Thượng viện và hạ viện. Ứng cử viên đắc cử ở thượng viện thì goị là Thượng Nghị Sỹ (TNS); Ứng cử viên đắc cử ở hạ viện thì goị là Dân Biểu (DB)
1- Thượng viện: Gồm hai thành phần thượng nghị sỹ cấp quốc gia và cấp tỉnh.
1a- Bầu trực tiếp liên danh cấp quốc gia : Số thượng nghị sỹ  nầy bằng  số thượng nghị sỹ trong tỉnh/ thành,  thí dụ: Có 30 tỉnh thì có 30 TNS.
1b- Bầu trực tiếp đơn danh cấp tỉnh/thành : Mỗi tỉnh bầu một thượng nghị sỹ trong tỉnh trong cuộc bầu cử hội đồng tỉnh/thành , thí dụ: Có 30 tỉnh thì có 30 TNS.
2- Hạ Viện: Mỗi 250 ngàn ngươì  dân  bầu một dân biểu. Những quận có dân số dưới 250 ngàn vẫn được bầu một dân biểu. Dân số hiện nay khoản 85 triệu thì số Dân Biểu ít nhất là 340 DB.
3- Nhiệm kỳ: Quốc hội lập hiến ấn định nhiệm kỳ cuả hạ viện và thượng viện
4- Quyển hạn: Quyền đặc miễn tài phán cuả DB và TNS phải được công nhận, những quyền hạn khác tuỳ theo ấn định cuả quốc hội lập hiến. Quyền hạn cuả chủ tịch thượng viện và hạ viện tùy theo qui định cuả quốc hội lập hiến.
( chi tiết trong Quốc Hội)

Điều 10: Nhân Quyền

 Tuyệt đối và triệt để tôn trọng những giá trị nhân bản trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cuả Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1948. Bảy quyền tự do căn bản cuả con người trong bản tuyên ngôn Nhân Quyền phải được tôn vinh và phải được giãng daỵ trong chương trình giáo dục bậc trung học trên toàn quốc.
Nhân quyền là quyền cao nhất trong tam quyền: Nhân Quyền, Dân Quyền và Quốc Quyền cuả thể chế Diên Hồng (Dân Chủ Văn Hiến)

Điều 11: Dân Quyền
 Quyền làm dân phải được tôn trọng một cách triệt để. Quyền tự do bầu cử và ứng cử trong tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp từ trung ương đến điạ phương phải được tôn trọng một cách triệt để. Không một cà nhân, tổ chức, chính đảng hay một cơ quan nào được phép ngăn cản quyền bầu cử và ứng cử cuả bất cứ một công dân nào trong nước Việt Nam Văn Hiến.

Điều 12: Quốc Quyền

  Quốc quyền cuả nước việt Nam Văn Hiến là cuả quốc dân Việt Nam mà không thuộc về một cá nhân, một nhóm, một đảng, một cơ quan  hay một thế lực ngoaị bang nào được độc quyền hành xử. Quốc dân Việt Nam từ mươì tám (18) tuổi trở lên được quyền tham dự và gánh vác việc nước trong tinh thần dân chủ văn hiến (chi tiết trong thể chế Diên Hồng).
  Độc quyền, độc tài, độc đảng và độc tôn không được chấp nhận và không được phép hoạt động trong nước Việt Nam Văn Hiến. Một sinh hoạt chính trị dân chủ văn hiến hay dân chủ đa nguyên phải được triệt để ứng dụng và tôn trọng.

Điều 13: Tín Ngưỡng

 Quyền tự do tín ngưỡng phải được tôn trọng một cách tuyệt đối. Moị ngươì dân được quyền tự do tôn sùng, thờ cúng  và quãng bá đạo giáo mà họ tin tưởng.

Điều 14: Ngôn Luận

 Đệ tứ quyền tự do ngôn luận phải được thực thi và tôn trọng, tự do ngôn luận là khí giới baì trừ tham nhũng và tệ đoan cuả xã hộ, cũng là sức bật cuả dân trí cần được phổ biến, khuyến khích và tôn trọng một cách triệt để và cùng khắp.

Điều 15: Tư Hữu

Moị ngươì dân đều có quyền tự do sở hữu những gì họ muốn từ bất động sản đến động sản. Người ngoại quốc cũng có quyền sở hữu tuỳ theo qui định (ban soạn thảo quyền tư hữu cuả ngoại kiều).

Điều 16: Hành Nghề

 
     Moị ngươì dân được quyền tự do hành nghề theo sở thích và sở nguyện. Sự thăng tiến phải được phát triển theo
     kỹ năng  một cách công bình và minh bạch.


Điều 17: Dân Trí

Kể từ khi hiếp pháp nầy có hiệu lực:

1- Trong vòng 3 năm không một ngươì dân nào từ 7- 50 tuổi bị mù chữ
2- Áp dụng chính sách cưỡng bách giáo dục: Tất cả trẻ em phaỉ học hết lớp 12.
3- Một cơ quan truyền thông có khả năng hoạt động cùng khắp cả nước mang thông tin đến moị nhà phải được hình thành và hoạt động  trong vòng 1 năm.  Cơ quan nầy được chánh quyền tài trợ nhưng hoạt động phải độc lập với chánh quyền với phương châm: Trung thực, vô tư, minh bạch và bất vụ lợi trong công tác truyền thông .

Điều 16: Chủ Quyền

Chủ quyền quốc gia thuộc về quốc dân Việt Nam. Một chế độ dân chủ đa đảng phải được thực thi. Công dân trên 18 tuổi có quyền tham dự và biểu quyết về chủ quyền và hành xử việc nước một cách bình đẳng, công khai, quang minh và chính đại như những công dân khác trong nước.

Điều 19: Chính Đảng
 Sinh hoạt cuả các chính đảng phải  là một sinh hoạt dân chủ, đa nguyên và đa đảng. Sinh hoạt  chính trị có khuynh hướng độc tài và độc đảng phải được bài trừ triệt để trong nước Việt Nam Văn Hiến. Phải biết tôn trọng nhau trong tinh thần dân chủ, bình đẳng và hổ tương cho mục tiêu lợi ích cuả quốc gia và dân tộc. Công dân trên 18 tuổi được quyền tự do tham dự và tham gia mọị hoạt động chính đảng nhằm nâng cao phẩm chất phục vụ quôc dân một cách hữu hiệu hơn.

Điều 20: Đối Lập

 Sinh hoạt chính trị đốí lập là một định chế tất nhiên trong một thể chế dân chủ. Có đối lập mới có thể cải thiện và hoàn hảo hơn trong kết quả phục vụ quốc dân. Có đối lập mới có tiếng nói trong sáng và trung thực trong công tác bài trừ tham nhũng và khai trừ sâu dân, bọc nước. ( Định chế đối lập sẽ do một ban soạn thảo, rồi đệ trình trước quốc hội thông qua mới có hiệu lực).
 

 Điều 21: Nghiã Vụ

        Công dân từ 18 tuổi đến 21 phải thi hành  Nghiã Vụ Quân Sự (chế độ quân dịch). Chế độ quân dịch tuỳ thuộc
        vào cơ quan hành pháp quyết định qui chế và điều lệ .


 
        Điều 22: Giáo Dục

       1- Chính sách cưỡng bách giáo dục phải thực thi, tất cả công dân trẻ phải học hết 12 .
       2- Chương trình giãng dạy tại các trường tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học phải cập nhật và tương
           đương với  chương trình giãng dạy cuả thế giới, theo những môn và nghành thích ứng.
       3- Chính sách tự trị cho các trường đại học phải được thực thi để tương đương với quốc tế trong các chương
           trình giãng dạy cấp cữ nhân, thạc sỹ và tiến sỹ.
      4- Chính sách giáo dục miễn phí cho tất cả cấp tiểu học, trung học và đại học (một phần).
      5- Phục hồi giá trị đạo đức và tôn kính các thầy, cô trong học đường và xã hội....

Những điều khỏan khác về những định chế đặc biệt, về ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, các định chế về kinh tế, xã hội, quốc phòng v..v... sẽ do một uỷ ban soạn thảo theo thời gian và không gian liên  hệ thực tiễn để có được một sự đồng tâm thiết thực và một sự đồng thuận khả thi cuả quốc dân đồng bào.


..........

Điều 99: Án Tử Hình

  Án tử hình được bãi bỏ kể từ khi bản hiến pháp nầy hiệu lực

Điều 100: Tu Chính

 Tất cả điêù khoản trong bản hiến pháp nầy được sưả đổi hay xóa bỏ khi được sự đồng thuận đa số tuyệt đối ( 68%) cuả các dân biểu trong quốc hội.....

Nam Phong tổng hợp




Xin vui lòng bấm vaò dưới đây để gởi những góp ý cuả quý vị:




Lấy Nhân Tâm làm phương tiện, dụng Dân Tâm làm kế sách "An Dân & Lạc Quốc" là
 kim chỉ nam cuả thể chế Dân Chủ Văn Hiến

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến
Trang Tham Luận Hiến Pháp
www.vietnamvanhien.net
www.vietnamvanhien.info
Email: thuky@vietnamvanhien.net

Trang mạng Việt Nam Văn Hiến là nơi bảo tồn di sản văn hóa. Thắp sáng niềm tin Diên Hồng
và nếp sống văn hiến hầu phục hồi nền An Lạc & Tự Chủ cuả Việt tộc.




Trang[ 1 ] [ 2 ]